Quê anh ở đâu? Lương Sơn

Tao Le

Nhiều lần, khi mới gặp nhau, có thể ở một tiệc cưới, một buổi ra mắt sách, một chiều hòa nhạc, một cuộc đi bộ cho thuyền nhân, một đêm văn nghệ gây quỹ .v.v., người bên cạnh thường hay hỏi tôi: Quê anh (bạn) ở đâu? Tôi ngập ngừng, rồi trả lời: Nha Trang. Tôi ngập ngừng, không dám mạnh miệng, vì rõ ràng: tôi không là người Nha Trang “chính thống”. Mỗi lần trả lời như thế, trong lòng mang một nỗi gì xốn xang, khó tả. Vì không lẽ, nói ra cái tên làng, đã gắn bó với tuổi thơ tôi, qua những tháng năm đói, nghèo, mà dường như không mấy người biết. Cái làng này từng bị đá qua, đá lại qua các thể chế chính quyền khác nhau. Và cuối cùng, nó được sát nhập, và là cửa ngõ của Nha trang, ở cực bắc.

Lương Sơn
Photo by Tao Le

Đúng, tôi sanh ra tại Nha Trang. Nhưng khi lên ba tuổi, vì kế mưu sinh, Ba Má tôi đã đưa gia đình về một làng quê nghèo khó này, làng Lương Sơn.  Ngôi làng nằm về phía Bắc của thành phố, cách xa trung tâm 12 km và phải vượt qua một ngọn đèo. Ngôi làng không biết thành lập từ khi nào, nhưng có lẽ bắt đầu phát triển là phải sau đợt di cư 1954 của người Bắc, và sự nhập cư của những người dân miền Trung từ các vùng xôi đậu (miền Bình Định, Phú Yên) ở thập niên 1960’s.  Tìm hiểu thêm, tôi bắt gặp ít tài liệu về làng:

Theo tài liệu của giáo xứ Nha Trang:

“Vào khoảng năm 1945 Lương Sơn chỉ là một ấp nhỏ có vài ba chục nóc nhà ở giữa rừng hoang vắng, đất sống của cọp beo. Dân chúng kẻ thì ngư phủ người thì cầy đất vỡ rừng. Trong số này có khoảng bảy gia đình được Lm Bernard Mỹ dòng Phanxicô rửa tội. Ðó là hạt nhân của xứ đạo Lương Sơn.” 

Trước 1975, Lương Sơn, thuộc huyện Vĩnh Xương.  Sau năm 1975, trước khi sát nhập thành 1 xã thuộc Nha Trang, còn có nhiều ý kiến nên sát nhập vào huyện Ninh Hòa. Mãi đến 1977, Lương sơn mới chính thức trở thành một xã của thành phố Nha Trang.  Tôi đoán, không chừng lý do bị “đá qua đá lại” chưa chắc vì địa lý. Mà trước hết, vì nó… nghèo.  Nghèo, nên ít ai muốn nhận.

Lương Sơn
Photo by Tao Le

Mặt làng, hướng ra biển. Lưng dựa vào núi. Vì thế, sống trong làng chỉ có hai con đường chọn lựa: làm biển và làm rẫy. Nếu là dân làm rẫy, sau mỗi đợt mùa, nếu muốn đủ ăn, phải làm than. Làm than là chặt cây rừng, đào hố, làm hầm, rồi đốt.  Khi cây cháy hết, dập lửa để lấy than. Nói nghe thì ngắn gọn, nhưng qua từng công đoạn để có được một gánh than (hai bao tải) thì cũng trần ai khoai củ.

Những thanh niên trong làng, lớn lên, nếu muốn bay nhảy cho thỏa chí, muốn thoát khỏi cái nghèo đói, họ phải bỏ làng. Và có nhiều người đã ra đi như thế. Từ thế hệ này, đến thế hệ kia.

Tôi lớn lên trong cảnh đói nghèo cả quê hương sau tháng 4, 1975.  Tuổi thơ tôi gắn liền với đất đá, rẫy rừng.  Tuổi thơ với những trò chơi con trẻ có thể kể như tạt lon, đá dế, thả diều, bắn bi… Tất cả mọi trò chơi của con nhà nghèo không hề tốn kém.

Phía bắc bìa làng là một cánh đồng hoang, ngập mặn, không canh tác được. Mùa mưa, nước ngập đến đầu gối. Mùa xuân, cỏ lên um tùm, mùa hè ruộng khô nứt nẻ.  Khi đó mùa dế bắt đầu. 

Lương Sơn
Photo by Tao Le

Chừng 10 tuổi đầu, sau giờ học, lũ trẻ con nhà nông phải phụ cha mẹ trong công việc rẫy rừng, trồng trọt, tỉa bắp, trồng mì.  Cũng vì lẽ đó, cứ mỗi lần mùa mưa kéo đến, trường lớp vắng nhiều học sinh.  Tuổi thơ tôi đã có những tháng ngày như thế.

Khi học xong lớp chín, chúng tôi phải qua một cuộc thi tuyển tại thành phố, để vào lớp mười.  Qua cuộc thi này, chúng tôi phải ngày ngày trên xe đạp vượt qua chặng đường dài.  Nhưng mệt nhất là lúc dắt xe đạp qua đèo Rù rì. Tháng năm trôi qua, hết thế hệ này đến thế hệ khác, vượt qua ngọn đèo để xuôi Nam.  Và không biết tự bao giờ, dường như đã thành luật: Muốn bay nhảy, rời khỏi làng là dường như người ta xuôi Nam.  Vào đại học: xuôi Nam.  Kiếm việc: xuôi Nam. Đi xa buôn bán: xuôi Nam, v.v.  Hễ rời làng, tìm sống một nơi nào: xuôi Nam. Vì thế, cũng chẳng biết tự bao giờ, nghe truyền miệng: “Cứ đi vô, đạp xích lô cũng sướng”. 

Bạn bè tôi, ở lại bám làng: có; xuôi Nam cũng có. Đứa nào xuôi Nam được, một thời gian sau, cũng đều khá. Nhiều đứa cũng chức tước, quan quyền như ai.

Lương Sơn
Photo by Sang Vạn

Ngày xưa, khi còn ở tại làng, tôi chẳng có chút gì thương nó. Nó nghèo, nó khổ, nó thiếu thốn. Nhưng tình người thì bền chặt.  Làng tôi, hướng biển có một bãi cát trắng dài, tuyệt đẹp.  Mãi sau này, khi ra bên ngoài này, tôi mới thấy những thước phim cũ về vùng cát trắng đó. Tôi có xem lại một đoạn phim, mà Kiều Chinh trong bộ đồ tắm hai mảnh, bước từng bước trên dãi cát trắng phau, tuyệt vời đó.

Cái mảnh đất nghèo nàn ấy lại cũng được nhắc đến trong những tác phẩm văn học mới lạ.  Nhà thơ Viên Linh từng có những dòng thơ về nó trong tập thơ “Thủy Mộ Quan”. Nhà Văn Nguyễn Xuân Hoàng (NXH) đã miêu tả những lần vượt biển trong tiểu thuyết nổi tiếng “Bụi và Rác”.  

Vâng, đúng như NXH đã kể, Lương sơn là bãi đi cho biết bao nhiêu chuyến, là khởi đầu cho hàng ngàn cuộc đời mới trên xứ người.

Lương sơn, đúng vậy, đó mới thực là quê tôi.

Và, Lương sơn, ta đã nợ Người một lời xin lỗi.

P.S: cho các bạn và những người quen biết đã từng sống ở Lương Sơn, với một thời khốn khó.

Leave a Reply Cancel reply