Dự án phá đập thủy điện lớn nhất nước Mỹ ở California

BBC 8 tháng 12 2020

Dave Meurer

Trong suốt hơn một trăm năm qua, dòng sông Klamath thuộc hàng quan trọng nhất cho cá hồi ở Mỹ bị những con đập chặn lại dòng di chuyển.

“Truyền qua bao đời, thế hệ của ông tôi, bà tôi, ông bà cố của tôi, và chắc chắn cả ông bà cố của ông bà cố tôi đều là ngư dân. Đánh bắt cá nuôi sống gia đình là tất cả những công việc hàng ngày của họ. Chúng tôi chỉ biết đánh bắt cá mà chưa bao giờ biết đến một cuộc sống khác,” Amy Cordalis, cố vấn pháp lý của Yurok và là thành viên của bộ lạc bản địa lớn nhất California, nói.

Thật khó để nói về mức độ quan trọng của nghề cá đối với những người Yurok đã sống hàng thiên niên kỷ ở vùng nông thôn Bắc California.

Tuy nhiên, sinh kế này đã giảm dần trong nhiều thập kỷ sau khi sông Klamath vốn chảy qua lãnh thổ của bộ lạc bị chặn để xây đập thủy điện.

Nhưng giờ đây, sau nhiều năm đàm phán căng thẳng, vận may của Yurok có thể sẽ đến, với việc dự án dỡ bỏ con đập lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ đã được bật đèn xanh.

Mặc dù lớn lên ở Ashland, bang Oregon, song Cordalis vẫn thường đến thăm Requa, một ngôi làng nhỏ gần cửa sông Klamath ở phía bắc bang California, để gặp gỡ gia đình, tham dự các buổi lễ của bộ lạc – và để câu cá.

Cha cô – “một ngư dân Yurok lão luyện” – có bốn con gái một con trai, và ông đã dạy các con cách câu cá.

“Hồi tôi mới lớn, vẫn còn đó những đợt cá hồi di cư,” cô nhớ lại. “Vào những đêm đẹp trời, bạn có thể bắt được tới cả một hai trăm con là thường. Chúng tôi rất thích những lúc như thế. Nó khiến bạn cảm thấy mình là một người Yurok giỏi giang: bạn đang làm đúng những gì mà tạo hóa ban cho bạn. Bạn mang cá về, chất đầy nhà hun khói và tủ đông của mình mà vẫn còn để chia cho bà, cho cô dì của bạn, cho anh em họ của bạn nữa – với tất cả những người bạn quan tâm, bạn có thể biếu họ cá để ăn.”

Matt Mais
Amy Cordalis, cố vấn pháp lý của Bộ lạc Yurok, được cha dạy cách câu mà vẫn bảo tồn được cá hồi – một kỹ năng gia truyền kế thừa từ đời này qua đời khác trong dòng họ

Cordalis cho biết do có tiền bán cá nên họ không cần chính quyền cấp tiền mua đồng phục đi học cho trẻ em, mua tủ lạnh hoặc ô tô cũ. Nói tóm lại, câu cá là một nguồn thu nhập có giá trị tốt tại vùng bảo tồn có thu nhập trung bình chỉ vào khoảng 11.000 đô la Mỹ một năm.

Ngày nay, trải nghiệm đánh bắt cá không được như xưa, cô nói. Việc dựa trên tất cả các kinh nghiệm và kỹ năng được truyền lại qua nhiều thế hệ không còn được sử dụng nữa, bởi vì khi cô xuống sông cùng ba cậu con trai, thì “ở đó đâu có còn cá nữa”.

“Nó giống như sự tan vỡ trong cách sống của chúng ta. Đó là sự thất bại của cách chúng ta dạy dỗ con cái,” Cordalis nói. “Đó là sự sụp đổ trong mối tương tác với môi trường tự nhiên, bởi chẳng còn cá nữa.”

Nghiên cứu đã chỉ ra điều này.

Nguy cơ tuyệt diệt cá hồi

Sông Klamath từng là quê nhà của loài cá hồi lớn thứ ba trên đất Mỹ – cá hồi trưởng thành sẽ bơi ngược dòng, tìm về về dòng sông quê hương để đẻ trứng. Giờ đây, lượng cá trở về chỉ bằng một phần nhỏ so với trước kia.

Một trong năm loài cá hồi Thái Bình Dương, cá hồi chinook di cư vào mùa xuân, trước đây từng có hàng trăm nghìn con, giờ đã gần như bị xóa sổ: năm ngoái chưa đến 700 con trở về.

Một loài khác, cá hồi coho, thân dài từ 60cm đến 76cm, có thể nặng đến trên 5kg khi trưởng thành, đã bị coi là “có nguy cơ tuyệt chủng” theo Đạo luật về Các loài Khẩn nguy của Hoa Kỳ.

Các con đập xây dựng trên sông Klamath được xác định là một trong những nguyên nhân khiến số lượng cá hồi sụt giảm.

Tổng số có tám đập thủy điện được xây chắn trên sông từ đầu thập niên 1900 cho đến 1962. Sự hiện diện của chúng tạo ra những thay đổi rõ rệt trong quần thể cá hồi trên Klamath và các nơi khác.

“Bất cứ khi nào bạn xây một con đập trên sông thì điều đó luôn có những tác động khủng khiếp: nó chặt đứt dòng chảy thành hai phần tách biệt hoàn toàn,” Michael Belchik, nhà sinh vật học ngư nghiệp cao cấp của bộ tộc Yurok và là thành viên bộ tộc đã có nhiều thập kỷ kinh nghiệm trong việc phục hồi nguồn cá, giải thích.

“Sông mang theo nhiều thứ khác ngoài nước. Không chỉ có nước chảy xuôi, cá bơi ngược dòng mà thôi: trong dòng chảy của sông còn có cả chất dinh dưỡng, phù sa và các sinh vật khác nữa.”

Matt Mais
Cordalis, người thường câu cá cùng cha và chị gái trên sông Klamath, đã tận mắt chứng kiến số lượng cá hồi trên sông biến động so với hồi cô còn nhỏ

Không có lượng phù sa màu mỡ trôi xuống, môi trường sinh thái hạ lưu sông bên dưới các con đập sẽ bị tiêu tán, chỉ còn lại những tảng đá lớn nơi đáy sông.

Những tảng đá này là địa bàn lý tưởng để loài giun lông, còn được gọi là giun tơ, bám vào. “Thông thường, những dịch chuyển dưới đáy sông ngăn không cho các đàn giun ăn bám này xâm chiếm từng vài cm vuông đáy sông,” Belchik cho biết. Nhưng giờ đây, “bọn giun này lấn chiếm mọi chỗ”.

Mặc dù bản thân chúng không gây hại, nhưng giun lông là vật chủ thứ cấp của C. Shasta, một loại ký sinh trùng đặc biệt dễ làm tổn thương đến cá hồi chinook non.

Belchik nói rằng con đập nằm thấp nhất phía hạ lưu sông Klamath – Đập Cổng Sắt – đã khiến cho C. Shasta sinh sôi nảy nở ngập tràn. Những con cá hồi không đến được trại ươm – cơ sở sinh sản nhân tạo – cho nên sẽ đẻ trứng ngay bên dưới đập. Nhiều cá hồi con tập trung ở gần đập dễ bị nhiễm ký sinh trùng.

“Những nguyên nhân này khiến việc kiểm soát bệnh dịch của chúng tôi trở nên vuột khỏi tầm tay, dịch bệnh hoành hành dẫn tới xóa sổ 80 hoặc 90% lượng cá về nơi đây,” Belchik nói.

“Cứ khi nào mà cá chỉ có sự đa dạng gene rất hạn chế và chỉ có một khu vực địa lý sinh sống hạn hẹp thì điều đó đồng nghĩa với việc thảm họa sẽ xảy ra, hoặc dưới dạng cá bị bệnh dịch, hoặc dưới dạng bị lũ lụt.”

Các hồ chứa phía sau các con đập cũng là nguyên nhân gây ra sự tích tụ đáng kể của tảo độc – chúng phát triển mạnh trong vùng nước tù đọng giàu chất dinh dưỡng và ấm. Với số lượng đủ lớn, nó sẽ có hại cho sức khỏe con người.

Vào mùa thu, nước có chứa tảo độc được giải phóng và chảy xuống hạ lưu, hướng tới cửa sông Klamath, nơi có khu bảo tồn Yurok.

“Chúng tôi vừa nhận được thông báo thường niên cho năm nay, cho biết nồng độ microcystin và tảo lục lam trong nước sông hiện đang ở mức độc hại cho sức khỏe,” Frankie Myers, phó chủ tịch bộ lạc Yurok cho biết.

Tảo độc tích tụ không chỉ làm cho việc đánh bắt cá trở thành công việc độc hại.

“Có những hoạt động văn hóa và tín ngưỡng tâm linh nay chúng tôi không thể làm mà không gây rủi ro ảnh hưởng tới sức khỏe và sự an toàn của mọi người,” ông giải thích. “Những địa điểm chúng tôi tới cầu nguyện, nơi chúng tôi chữa bệnh, nơi chúng tôi chế biến dược liệu, tình trạng ô nhiễm ở những nơi đó khiến cho người ta thấy phát ốm. Điều đó tạo tác động tâm lý lên các cộng đồng chúng tôi.”

Phá bỏ các con đập

Giải pháp mà Yurok và liên minh các bộ lạc khác cùng các tổ chức môi trường ủng hộ từ lâu là dỡ bỏ bốn trong số tám đập phía hạ lưu sông Klamath.

Dave Meurer
Đập Cổng Sắt (Iron Gate Dam), có chiều cao 53m, là con đập lớn nhất trên sông Klamath sẽ bị phá bỏ

Sau các cuộc đàm phán khó khăn, PacifiCorp (công ty vận hành các đập này) và 40 bên liên quan, bao gồm các bộ lạc và chính quyền bang California, đã ký kết được một thỏa thuận vào năm 2010.

Theo Klamath River Renewal Corporation, tổ chức phi lợi nhuận có nhiệm vụ giám sát việc dỡ bỏ đập, việc phá đi đồng thời bốn con đập với tổng chiều cao 411 bộ (125m) khiến đây trở thành dự án dỡ bỏ đập lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

Đây cũng được coi là dự án có chi phí đắt nhất, lên tới gần 450 triệu đô la.

Kết quả sẽ là 400 dặm dòng chảy của sông được khôi phục trở lại thành môi trường sống cho cá hồi và các loài di cư khác như cá hồi vân và cá mút đá Thái Bình Dương.

Belchik cho biết việc mở lại các bãi đẻ trứng mà trước đây cá không thể tiếp cận sẽ cho phép đa dạng di truyền hơn và mật độ cá bớt đông đúc hơn, nhờ đó làm giảm nguy cơ lây nhiễm bệnh.

“Tôi đã dành cả sự nghiệp đời mình để giúp xây dựng các dự án phục hồi cho nhiều loại cá khác nhau,” Belchik nói. Nói về hiệu quả thì “[các dự án] khôi phục không gian di chuyển luôn cho kết quả tức thì và thành công nhất”.

Bằng cách kết nối các suối và các nhánh nước lạnh với nhánh chính của sông Klamath, Belchik cho biết nhiệt độ nước của sông nói chung sẽ giảm xuống.

Điều này không chỉ cải thiện chất lượng nước (nhiệt độ thấp hơn làm giảm nguy cơ tảo nở hoa, do đó làm tăng oxy hòa tan và cải thiện mức độ pH); nó cũng sẽ có lợi cho bọn cá hồi, bởi lũ cá con mà chúng sinh ra khi di cư tới những khúc sông này sẽ được hưởng dòng nước mát hơn, trong lúc môi trường nước ấm sẽ khiến chúng dễ bị mắc dịch bệnh hơn.

Việc dòng nước trở nên mát hơn nhờ vào tuyết tan sẽ giúp lũ cá đối phó tối hơn với tình trạng biến đổi khí hậu. Và việc phù sa trở lại lắng đọng tự nhiên cùng một lớp đáy sông mới được tạo ra từ lượng phù sa này sẽ làm giảm đi đáng kể môi trường sống của giun lông, loài mang theo ký sinh trùng C. Shasta làm chết cá hồi.

Khôi phục nguồn cá

Với hơn 1.700 con đập đã bị dỡ bỏ ở Mỹ – trong đó có 90 con đập hồi năm ngoái, theo cơ sở dữ liệu của American Rivers (Tổ chức quản lý và bảo vệ sông ngòi của Mỹ) – ngày càng có nhiều ví dụ minh họa những lợi ích đối với hệ sinh thái, đặc biệt là đối với quần thể cá bị bệnh.

Việc loại bỏ hai đập nhỏ và cải thiện dòng chảy làm nơi di chuyển cho cá trên sông Penobscot ở Maine, được hoàn thành vào năm 2016, đã khôi phục 2.000 dặm môi trường sống cho cá hồi Đại Tây Dương và các loài khác, đổi lại là sản lượng điện bị mất đi do việc phá đập được bù lại từ các con đập khác.

Dự án đã dẫn đến sự phục hồi về số lượng cá hồi quay trở lại đẻ trứng: năm nay có 1.426 con cá hồi quay trở lại, so với chỉ 248 con vào năm 2014.

Các loài cá di cư khác cũng được hưởng lợi: cá trích Mỹ (alewife) và cá trích lưng xanh đã tăng lên 1,9 triệu con so với chỉ 2.000 con vào năm 2011.

Tại Vườn Quốc gia Olympic ở bang Washington, việc dỡ bỏ hai đập lớn trên sông Elwha đã được hoàn thành vào năm 2014, khôi phục 75% môi trường sinh sản không thể tiếp cận trước đây.

Người ta chỉ phát hiện ra có hơn 1.600 cá hồi chinook đỏ bơi về đẻ trứng ở phía thượng nguồn con đập thứ hai hồi năm 2018 – có những dấu hiệu đáng mừng cho thấy cá hồi chinook đang quay trở lại nơi quen thuộc này.

Trong cùng một khu vực, cá hồi coho non đã tăng từ 9.000 con năm 2014 lên 17.000 con vào năm 2017.

Nhưng có lẽ cá hồi vân di cư sinh sản vào mùa hè mới là loài gây ấn tượng mạnh nhất.

Getty Images
Trên sông Elwha, số lượng cá hồi đã được cải thiện đáng kể kể từ khi dỡ bỏ hai con đập lớn

“Trước khi tiến hành các cuộc lặn khảo sát việc loại bỏ đập ở hạ lưu sông Elwha (2009-11), hầu như người ta chỉ nhìn thấy độ một vài con cá hồi vân trong mùa hè,” nhà sinh vật học chuyên nghiên cứu về cá, Sarah Morley, và các đồng nghiệp tại NOAA (Cơ quan quản lý khí quyển và đại dương quốc gia của Mỹ) viết trong bài báo ra hồi tháng 5/2019.

“Nghiên cứu của Sonar ước tính số lượng cá mùa hè 2018 đã có ít nhất là 300 con. Giống như loài phượng hoàng hồi sinh từ tro tàn, những con cá hồi vân đã trở lại dòng sông quê hương vào mùa hè.”

Tạo tiền lệ

Việc loại bỏ các đập lớn như đập trên sông Klamath là chuyện phức tạp. Trong các kế hoạch của Klamath River Renewal Corporation, đầu tiên sẽ là việc rút mực nước xuống đằng sau mỗi bức tường của con đập. Tiếp theo là việc phá dỡ – phần lớn thông qua khoan và nổ mìn, rồi dùng xe tải hốt bỏ đống đổ nát.

Phần đáy hồ mới lộ ra sẽ được rải lớp mùn và hạt giống bản địa lên trên. Điều này không chỉ giúp khôi phục môi trường sống về trạng thái tự nhiên: cả hai đều là yếu tố rất quan trọng để giảm lượng trầm tích trôi mất ra biển.

Trong các thử nghiệm được thực hiện bởi Ellen Mussman và những người khác trước khi di dời đập Elwha, thảm thực vật đã giúp giảm xói mòn 33%, trong khi lớp mùn phủ lên trên giúp giảm 99%. Các nhà nghiên cứu kết luận cùng nhau, đây có thể là một phương tiện hiệu quả cao để ngăn chặn xói mòn.

Và mặc dù có vẻ như ngược đời khi một công ty điện lực lại ủng hộ việc dỡ bỏ đập, nhưng điều này thực sự mang lại lợi ích kinh doanh tốt cho PacifiCorp.

Đó là do để gia hạn giấy phép hoạt động cho các đập này, các khách hàng của công ty sẽ phải chi trả khoảng 400 triệu đô la để nâng cấp đập, nhằm đảm bảo đáp ứng các yêu cầu pháp luật (bao gồm việc xây dựng các âu thuyền rất tốn kém tại mỗi con đập để không làm gián đoạn hành trình di cư của cá).

Loại bỏ các con đập là một lựa chọn ít tốn kém hơn: theo Thỏa thuận Xử lý Thủy điện Klamath (KHSA), khách hàng sẽ chỉ phải trả 200 triệu đô la, còn 250 triệu đô la sẽ do chính quyền bang California trả.

Việc phá bỏ đập đã được Ủy ban Công ích của cả bang Oregon, nơi sông Klamath khởi nguồn, và California hậu thuẫn, vì lợi ích của khách hàng.

Bob Gravely, giám đốc kinh doanh khu vực của Pacific Power (công ty con của PacifiCorp quản lý các đập) nói rằng việc dỡ bỏ đập “sẽ đem đến kết quả tốt hơn cho khách hàng”.

Nhìn chung, sẽ chỉ thiệt hại chút ít về mặt sản xuất năng lượng tái tạo: các con đập chiếm chưa đến 8% công suất phát điện tái tạo hiện tại là 2.208 MW của PacfiCorp và tính đến tháng 7/2020, 1.190 MW công suất tái tạo khác đang được xây dựng. Công trình này dự đoán sẽ có thêm 3.743MW năng lượng tái tạo được đưa vào hoạt động vào cuối năm 2023.

“Tôi nghĩ rằng một trong những phần tuyệt nhất của toàn bộ dự án này là chúng tôi đang thiết lập một tiền lệ để thế giới noi theo,” Cordalis nói.

“Tôi nghĩ cách tiếp cận là cũng làm việc với công ty, với các bang, với các bộ lạc, với các nhà bảo vệ môi trường, để đạt được một thỏa thuận cho phép dỡ bỏ những con đập này cho các bộ lạc và các công dân Mỹ được hưởng lợi từ việc phục hồi dòng sông theo một cách ít tốn kém hơn so với việc tái cấp phép cho các con đập – đó thực sự là một mô hình về cách bạn có thể tiếp cận việc hồi sinh dòng sông một cách bền vững trên toàn thế giới.”

Các cuộc đàm phán vẫn đang diễn ra.

Vào ngày 17/11/2020, một thỏa thuận mới đã được ký kết giữa PacifiCorp với người Yurok và các bên liên quan về kế hoạch dỡ bỏ các con đập. Nếu như được các nhà quản lý cấp liên bang phê chuẩn thì dự án sẽ bắt đầu được khởi động vào năm 2022, và việc phá đập sẽ được triển khai vào năm 2023.

“Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều hiểu là có một bộ lạc bản địa và một nền văn hóa đang bị đe dọa,” Myers nói.

“Tôi nghĩ rằng việc đàm phán nhằm dỡ bỏ các con đập này diễn ra nhanh chóng là nhằm để dỡ bỏ những con đập đang gây hại cho sinh thái, để khôi phục nguồn cá hồi, và cũng vì bởi nhằm sửa sai những gì đã xảy ra trên đất nước này trong suốt 150, 200 năm qua, sửa lại những điều sai trái đã gây hại cho người Mỹ bản địa.”

Với Yurok, Myers nói rằng các con đập này được coi là “tượng đài của chủ nghĩa thực dân”, và so sánh chúng với bức tượng tướng lĩnh Liên minh miền Nam.

“Những con đập này tượng trưng cho cuộc chiến mà chúng tôi đã chiến đấu ở đây, trên sông Klamath. Và chúng đã phá hủy dòng sông, cảnh quan, văn hóa của chúng tôi. Chúng tôi phải đối phó với những con đập mỗi ngày.”

Đáp lại điều này, Gravely từ Pacific Power’s cho biết: “Chúng tôi rất vui mừng được trở thành một phần của thỏa thuận dàn xếp cho phép mong muốn của các bộ lạc quanh lưu vực sông Klamath và những bên khác, liên quan tới việc dỡ bỏ đập để hướng tới tương lai”, trong lúc đảm bảo cung ứng cho khách hàng sử dụng điện ở sáu tiểu bang.

Myer nói rằng hiệp ước được đàm phán giữa Yurok và chính phủ liên bang vào thời thập niên 1850 đã hạn chế quyền bảo lưu của bộ lạc để đổi lấy một mức sống tốt lâu dài.

Theo ông, mặc dù chính phủ liên bang đã không thể thực hiện được hết thỏa thuận, nhưng việc dỡ bỏ đập sẽ đưa mục tiêu đó đến gần hơn.

Dự đoán sự trở lại của những đàn cá khỏe mạnh, bộ lạc đã xây dựng một nhà máy thu hoạch chế biến cá hồi – cả để đánh bắt thương mại và tự cung tự cấp tại chỗ – được thực hiện bền vững, giống như người Yurok đã làm trong hàng ngàn năm qua.

“Chúng tôi đã tồn tại được từ các nguồn tài nguyên của con sông và sống cộng sinh với nó từ thời xa xưa,” Cordalis cho biết.

“Câu chuyện sáng thế của chúng tôi kể về cách mà đấng tạo hóa sinh ra dòng sông, đất đai, động vật, thực vật, sau đó sinh ra con người và nói với con người rằng: ‘Tất cả mọi điều có sẵn nơi đây là dành cho ngươi, và ngươi sẽ không cần thêm bất cứ thứ gì, miễn là ngươi sống một cách cân bằng thuận thảo với tự nhiên, miễn là ngươi không lấy đi từ thiên nhiên nhiều hơn những gì ngươi cần để nuôi sống gia đình mình.’ Đức tin căn bản, cội nguồn đó chỉ cho ta biết cách chung sống với dòng sông, với tất cả tài nguyên của nó và với thế giới tự nhiên.”

Trong khi các con đập ngày càng đe dọa sự cộng sinh này, việc loại bỏ chúng sẽ một lần nữa tạo điều kiện cho mối liên hệ cổ xưa giữa người Yurok và sông Klamath phát triển trở lại.

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.

Facebook cáo buộc nhóm tin tặc APT32 do Chính phủ Việt Nam hậu thuẫn lan truyền mã độc

Nhóm bảo mật của Facebook hôm 10/12 cho biết nhóm hacker APT32 do chính phủ Việt Nam hậu thuẫn đã lan truyền mã độc nhắm vào các nhà hoạt động Việt Nam, các chính phủ nước ngoài, các cơ quan báo chí, cùng các tổ chức phi chính phủ, doanh nghiệp.

Nathaniel Gleicher, người đứng đầu bộ phận Chính sách An ninh của Facebook và Mike Dvilyansky, quản lý bộ phận thông tin tình báo về đe doạ trên mạng của Facebook cho biết các nghiên cứu của hãng cho thấy CyberOne Group – một công ty IT của Việt Nam có liên quan đến hoạt động lan truyền mã độc. Công ty này còn được biết đến với những cái tên như CyberOne Security, CyberOne Technologies, Hành Tinh Company Limited, Planet and Diacauso.

CyberOne Group phủ nhận có liên hệ với tin tặc và cho báo cáo này là một sai lầm.

“Chúng tôi KHÔNG PHẢI là Ocean Lotus”, một người điều hành Fanpage của công ty CNTT hiện đã bị Facebook đình chỉ cho biết khi được Reuters liên hệ.

Theo điều tra của Facebook, nhóm hacker APT32 hoạt động trên Facebook bằng cách tạo các tài khoản, trang giả, thường lấy tên là các nhà hoạt động hoặc doanh nghiệp.

Nhóm này chia sẻ các đường dẫn với những nạn nhân của mình tới những trang mà nhóm này hoặc đã hack được hoặc được nhóm lập nên. Các đường dẫn này thường là mã độc hoặc phishing hoặc có các đường dẫn đến các ứng dụng Android mà nhóm này đã tải lên Play Store, cho phép nhóm có thể giám sát đối tượng của mình.

Facebook cho biết hãng này đã gỡ các tài khoản và trang của nhóm hacker này, đồng thời chặn các trang của nhóm này.

APT32 được cho biết bắt đầu hoạt động từ năm 2014 và thường được biết đến với cái tên OceanLotus. Các hoạt động tấn công của nhóm thường có liên quan đến các mối quan tâm của chính quyền Việt Nam.

Hồi năm ngoái, nhóm này bị các hãng an ninh mạng quốc tế cáo buộc đã tấn công vào các trang của các nhà sản xuất ô tô hàng đầu thế giới như BMW, Hyundai, Toyota Australia, Toyota Nhật Bản, thậm chí cả Toyota Vietnam để đánh cắp thông tin công nghiệp.

Nhóm APT32 cũng bị cáo buộc đứng đằng sau các vụ tấn công nhắm vào giới chức chính phủ thuộc thành phố Vũ Hán, Trung Quốc trong năm nay để lấy thông tin về bệnh dịch COVID-19.

Nguồn : RFA

RSF khởi động chiến dịch đòi trả tự do cho nhà báo ‘biểu tượng tranh đấu’ ở VN

Tổ chức Phóng viên không Biên giới (RSF) hôm 7/12 khởi động một chiến dịch kêu gọi thả tự do cho nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang, hai tháng sau khi blogger bất đồng chính kiến này bị bắt với cáo buộc “tuyên truyền chống Nhà nước” Việt Nam.

RSF cho biết trong một thông cáo rằng tổ chức này đang bắt đầu chiến dịch bằng một thỉnh nguyện thư và một video trong đó những nhà báo Việt Nam sống ở nước ngoài “lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ” cho người mà RSF gọi là “biểu tượng của cuộc đấu tranh cho tự do thông tin ở Việt Nam.”

Bà Trang, một blogger và là tác giả đối lập nổi bật trong nước, bị công an Việt Nam bắt tạm giam hôm 6/10 tại TPHCM để điều tra về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” và tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước” với mức án có thể lên tới 20 năm tù.

Trong video có tên #FreePhamDoanTrang mà RSF công bố trong chiến dịch này, các nhà báo, blogger và những người bạn của bà Trang hiện đang sống ở Pháp, Đức, Đài Loan và Mỹ “với lợi thế sống lưu vong để nói về những gì mà những người đồng hương của họ ở Việt Nam không thể nói ra mà không bị nguy cơ đối diện các án tù lâu dài.”

Tổ chức có trụ sở chính ở Paris cũng khởi động lấy chữ ký cho một thỉnh nguyện thư trong đó yêu cầu chính phủ Việt Nam thả tự do “ngay lập tức và không điều kiện” cho nhà báo từng nhận giải thưởng Tự do Báo chí của RSF về tầm ảnh hưởng vào năm 2019. Mục đích của RSF khi phát động thỉnh nguyện thư này là “nhằm tránh cho Phạm Đoan Trang bị án tù lâu dài bằng cách gây áp lực lên Chính phủ Việt Nam.”

“Nhờ sự dũng cảm và sự hào phóng của mình, Phạm Đoan Trang đã trở thành một biểu tượng cho cuộc đấu tranh nhằm mang lại nền báo chí độc lập và đáng tin cậy cho những người dân Việt Nam,” Daniel Bastard, người đứng đầu ban Châu Á-Thái Bình Dương của RSF nói trong thông cáo ra hôm 7/12.

Bà Trang là tác giả của nhiều cuốn sách mà chính quyền Việt Nam cấm xuất bản và lưu hành, trong đó có “Chính trị bình dân” và “Phản kháng phi bạo lực.” Được biết, trước khi bị bắt không lâu, bà Trang đã trao cho Lãnh sự quán Mỹ ở TPHCM bản “Báo cáo Đồng Tâm” mà bà là đồng tác giả với ông Will Nguyễn, một nhà tranh đấu cho Việt Nam từng bị chính quyền truy tố về tội “gây rối trật tự công cộng” do tham gia biểu tình ở TPHCM, trong đó viết về vụ đụng độ giữa công an và người dân làng Đồng Tâm hồi đầu năm nay do tranh chấp đất đai.

Bà Trang, theo báo Công an Nhân dân, “có mối liên hệ mất thiết với các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, VOIVE” với mục đích “phản đối Việt Nam trở thành thành viên Hội đồng nhân quyền của Liên Hợp Quốc” và “vận động chính giới phương Tây gây áp lực để Việt Nam thay đổi chính sách nhân quyền.”

Việc bắt giữ bà Trang hôm 6/10 diễn ra chỉ vài giờ sau khi Việt Nam và Mỹ tiến hành đối thoại nhân quyền và sau đó một ngày, Bộ Ngoại giao Mỹ ra tuyên bốbày tỏ quan ngại về việc bắt giữ này cũng như cho biết đang “theo dõi chặt chẽ” vụ việc. Sau đó chính phủ Anh và Canada cũng lên tiếng bày tỏ việc Chính phủ Việt Nam bắt giữ các cá nhân, trong đó có bà Trang.

“Trong lịch sử Việt Nam kể từ năm 1975 đến nay, Đoan Trang có lẽ là một trong những nhà báo có ảnh hưởng nhất, một trong những nhà hoạt động dân chủ hiệu quả nhất và một trong những người Việt Nam can đảm nhất mà chúng ta có,” ông Trịnh Hữu Long, người cùng sáng lập Luật khoa Tạp chí với bà Trang và hiện đang sống ở Đài Loan, nói trong video mà RSF công bố hôm 7/12.

Một trong những người được RSF phỏng vấn trong video này là luật sư Nguyễn Văn Đài, hiện đang sống lưu vong ở Đức sau khi được thả sớm hơn thời hạn bản án tù 15 năm vào năm 2018, nói rằng bà Trang “có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào đấu tranh dân chủ của người Việt Nam ở trong cũng như ngoài nước. Chị Phạm Đoan Trang đã viết rất nhiều sách để cổ suý cũng như để bảo vệ quyền con người cũng như thúc đẩy các quyền tự do chính trị của người dân Việt Nam.

Công an Việt Nam cho biết bà Trang bị bắt theo điều 88 Bộ Luật hình sự 1999 và điều 117 Bộ Luật hình sự 2015 và hiện bị di lý về Hà Nội để phục vụ điều tra.

“Hiện tại nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đang dùng một điều luật hết sức là mơ hồ để nhét cô Trang ở trong trốn ngục tù.” Blogger Trần Thị Nga, người bị chính quyền Việt Nam kết án 9 năm tù trước khi được thả ra để sang Mỹ sống lưu vong, nói trong video của RSF và cho rằng “đây là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nhân quyền, đặc biệt là vi phạm đạo đức của con người.”

Việt Nam được coi là một trong số những quốc gia có nhiều hạn chế về quyền tự do báo chí khi bị RSF xếp hạng 175 trong số 180 quốc gia trên bảng Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới 2020.

Công Tử Hà Đông Hoàng Hải Thuỷ đã theo cơn gió lạnh đầu Đông

Vo Thanh Nhan
Tin buồn
Tối hôm qua, Công Tử Hà Đông Hoàng Hải Thuỷ đã theo cơn gió lạnh đầu Đông của vùng trời Hoa Thịnh Đốn đoàn viên với hiền thê của Ông.
Thế là chúng ta mất thêm một nhà văn, một phóng viên, một ngòi bút khí phách.
Kính lời cầu nguyện cho hương linh Ông sớm được hưởng Nhan Thánh Chúa.
Nhà Văn Hoàng Hải Thuỷ
Tên thật: Dương Trọng Hải
Ngày sinh: Sinh năm 1933 tại Hà Đông
Bút hiệu khác: Công Tử Hà Đông, Ngụy Công Tử, Con Trai Bà Cả Đọi, Hạ Thu, Hồ Thành Nhân, Văn Kỳ Thanh, Dương Hồng Ngọc, Triều Đông, Người Sài Gòn …
Thân thế: Vào Nam năm 1951, từng trải qua các việc: phóng viên nhật báo Ánh Sáng Sài Gòn, phòng 5 bộ Tổng Tham Mưu quân đội VNCH, phóng viên nhật báo Sài Gòn Mới, thư ký sở viện trợ Mỹ. Năm 1977 bị Công An Việt Cộng bắt nhốt 2 năm (1977-1979) vì tội gửi một số bài thơ, bài viết sầu buồn ra nước ngoài. Tháng 5/1984 bị bắt lần thứ hai cũng vì tội gửi tác phẩm ra nước ngoài. Lần thứ hai này bị đưa ra tòa, bị án tù 6 năm. Năm 1990 trở về Sàigòn, năm 1994 sang Hoa Kỳ tị nạn, định cư ở Virginia.
Các tác phẩm đã xuất bản trước 1975:
Vũ Nữ Sài Gòn, Tây Đực Tây Cái, Chiếc Hôn Tử Biệt (tái bản với tên Đêm Vĩnh Biệt), Nổ Như Tạc Đạn, Yêu Lắm Cắn Đau, Bạn và Vợ, Môi Thắm Nửa Đời, Người Vợ Mất Trí, Định Mệnh Đã An Bài, Kiều Giang (phóng tác từ tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Bronte), Gái Trọ, Đỉnh Gió Hú (phóng tác từ Wuthering Heights), Như Chuyện Thần Tiên (Scoprion Reef), Điệp Viên 007 (Phóng tác), Thầy Nô (phóng tác từ Dr. No), Máu Đen Vàng Đỏ (phóng tác)…
Các tác phẩm đã xuất bản sau 1975:
Công Ty Rửa Tiền (The Firm), Mang Xuống Tuyền Đài (The Chamber), Báo Cáo Bồ Nông (The Pelican Brief), Tiếng Kêu Của Máu (The Red Dragon), Mùa Hạ Hai Mươi, Những Tên Biệt Kích Cầm Bút, Dữ Hơn Rắn Độc …
Các bài bình luận, phiếm luận:
Mai sau… Nếu có bao giờ, Nhắc chi ngày xưa đó …, Chìm trong lãng quên, Sài Gòn và phụ nữ Việt trong phim Người Mỹ Thầm Lặng, Đọc Chùa Đàn Xem Mê Thảo, Còn gốc mất gốc, Mưa cầm, gió bắt, thép đợi, gang chờ…
————-

HOÀNG HẢI THỦY.

Người viết: NGUYỄN ĐÌNH TOÀN.

VIET TIDE Số 389. Ngày 31 Tháng 12, 2008.

Hoàng Hải Thủy là một trong những nhà văn đã nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông nổi tiếng trước nhất như một người viết phóng sự, sau đó, như một dịch giả và một người viết tạp văn.

Từ tạp văn ở đây hiểu theo nghĩa, gặp gì viết nấy, trộn lộn cả phóng sự, văn chương, trích dẫn thi ca, âm nhạc, những ngôn ngữ do ông sáng tạo, bịa đặt ra.

Cái cách viết của ông có thể có nhiều người không thích. Nhưng khi người ta nói không thích cách đùa cợt trớt nhả của ông, có nghĩa là người ta đã đọc ông rồi.

Có phải như vậy chăng?

Phải công nhận rằng, tất cả những gì Hoàng Hải Thủy viết , đều có một sức hấp dẫn, dù nó được ký tên Hoàng Hải Thủy hay Công Tử Hà Đông. Đang viết bình thường, ông thêm vào một chữ “vưỡn“, “em vưỡn yêu anh, mí nị em thơm như múi mít.” Trong ngôn ngữ miền Bắc của chúng ta, hai từ “mí nị“, cũng có người nói là “mí lỵ” là hai tiếng “mới lại” được phát âm trẹo đi. Hoặc, những tiếng “ê, a” không có nghĩa gì, nhấn mạnh vào những chữ ấy chỉ để chê bai, chọc quê. Nghe một người con gái nói: “Em vưỡn yêu anh” thì có lẽ không anh nào dám tin đó là sự thật. Cái phần sự thật có thể có đó, so với cái phần sự thật có thể không trong câu nói nghiêm chỉnh hơn “Em vẫn yêu anh” có gì khác.

Các bông đùa của Hoàng Hải Thủy luôn ở trên lằn ranh vui buồn, thật giả đó.

Đọc “Sống và Chết ở Sài Gòn” người ta được biết những chuyện liên quan tới một số văn nghệ sĩ, trí thức, như Vũ Hoàng Chương, Thượng toạ Trí Siêu ( Lê Mạnh Thát ), Thanh Nam, Vũ Bằng, Duyên Anh, Thái Thủy, Mai Thảo, Trịnh Viết Thành, Hoàng Anh Tuấn, Uyên Thao.. .., về Trại Giam Phan Đăng Lưu, nơi Hoàng Hải Thủy đã trải nhiều năm tù.

Chương Hoàng Hải Thủy kể lại những năm tù ở Trại Phan Đăng Lưu với nhiều tù nhân khẳng khái được Nhà văn Đặng Trần Huân coi là một chương tuyệt tác.

Người ta nhớ lại những năm sau 1975, hầu hết các văn nghệ sĩ ở Sài Gòn cũ, đều bị bắt giam.

Hoàng Anh Tuấn sau khi được thả, đã được thân nhân bảo lãnh ra khỏi nước. Hoàng Hải Thủy có mấy câu thơ gửi Hoàng Anh Tuấn được các bằng hữu của ông thỉnh thoảng nhắc lại:

Hai chuyến xe hoa về đất mẹ,
Bây giờ xa-lộ sáng đèn chưa ?
Ở đây thì chán, đi thì nhớ,
Sài Gòn mưa mà Mỹ cũng mưa.

Hẳn nhiều người đều biết Hoàng Anh Tuấn ngoài việc làm thơ còn là một đạo diễn điện ảnh. “Hai Chuyến Xe Hoa” “Đất Mẹ” và “Xa Lộ Không Đèn.” Hoàng Hải Thủy nhắc trong bài thơ tên những cuốn phim Hoàng Anh Tuấn đã thực hiện.

Sống và Chết ở Sài Gòn được viết theo kiểu tùy hứng, nhớ đến đâu viết đến đấy.

Chương ông viết về việc ông bỏ lỡ chuyến di tản năm 1975 là một chuyện cười ra nước mắt.

Khi đó, Hoàng Hải Thủy đang làm việc cho USIS tức Sở Thông Tin Hoa Kỳ tại Sài Gòn. Trước ngày 30/4 ông Giám đốc USIS cho biết sẽ cho nhân viên đi nhưng con trai các nhân viên phải dưới 17 tuổi mới được đi theo bố mẹ. Nhân viên phàn nàn, ông nói ông phải làm theo lệnh của chính phủ Việt Nam, không thể làm trái luật pháp, cũng khhông thể nhận diện em nào trên hay dưới 17 tuổi. Ngay lúc đó Hoàng Hải Thủy thật thà không hiểu câu nói của ô. Giám đốc Alan Carter, ý ông muốn bảo “các anh cứ khai các con anh 16 tuổi chứ tôi có cần các anh chứng minh đâu“. Y hệt như câu thơ của T.T.K.H, “đến khi tôi hiểu thì tôi đã” muộn mất mấy chục năm rồi.

Trong cuốn sách Hoàng Hải Thủy có nhắc đến cái chết của các nhà văn Vũ Bằng, Nguyễn Mạnh Côn, nhà báo Minh Vồ, nhiều chi tiết về những năm đen tối, khốn khổ sau 1975 mà người dân miền Nam đã phải trải qua.

Được biết cuối năm 2002 nhà xuất bản Khoa Học Xã Hội/Hà Nội đã cho xuất bản cuốn “Hai Mươi Nhăm Năm Một Vùng Tiểu Tuyết” ý muốn nói tiểu thuyết ở miền Nam, nội dung đề cập tới tiểu thuyết miền Nam từ 1887 tới Hồ Biểu Chánh rồi nhẩy vọt qua tiểu thuyết từ 1975 đến 2000 đề cao những tác giả cộng sản nhất là các tác giả từ miền Bắc vào. Tất cả văn học miền Nam ( từ 1954-1975 ) không có một dòng.

Nhà văn Đặng Trần Huân viết: “Với chủ trương rõ ràng của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam hiện nay như thế, thử hỏi nếu không có những bộ sách như Văn Học Miền Nam của Võ Phiến hay những tạp bút như Sống và Chết ở Sài Gòn thì sau này lấy đâu ra tài liệu về văn học và đời sống của văn nghệ sĩ Việt Nam Cộng Hoà ? Ta phải cám ơn Võ Phiến, cám ơn Hoàng Hải Thủy đã giúp ta tài liệu để còn nhớ không quên những văn nghệ sĩ một thời sáng chói, dù nhớ cách nào đi chăng nữa.”

Các văn nghệ sĩ của chúng ta sống ở miền Nam trước 1975, cho đến nay, đã mất đi nhiều lắm. Người chết trong tù, chết trong nước, người chết già, chết bệnh, người chết nơi xứ lạ, quê người, số còn lại e rằng ít hơn số đã mất.

Và, trong số những người còn lại, Hoàng Hải Thủy là người duy nhất cho đến nay vẫn viết và viết được một cách đều đặn. Cách viết của ông gần như không có gì thay đổi, pha trộn văn chương với phóng sự, nửa đùa, nửa thật. Nhưng với cái nhìn sâu sắc của người đã ở ngoài cái tuổi “cổ lai hy”, đọc ông, người ta có cảm tưởng mọi sự trên đời đều hình như lúc nào cũng có ha mặt, một mặt bi thương và một hài hước.

Nói đến mọi sự trên đời, bởi vì, Hoàng Hải Thủy đề cập tới rất nhiều chuyện trong các bài viết của ông, bằng hữu, nghề nghiệp, kỷ niệm, tình yêu, chính trị, thời sự, tù đầy, cảm khái trước cái đẹp của thiên nhiên, thời tiết, kiếp sống tha hương.

Loạt bài mới nhất của ông cho đăng trên các báo chí gần đây, những phê phán chua chát của ông đối với chế độ cộng sản, sách báo của các tác giả ở trong nước và những người ông cho là đến bây giờ vẫn còn bị cộng sản mà mắt, được rất nhiều người đọc. Dù có cùng quan niệm với ông hay không, người ta vẫn thấy ở ông một tấm lòng thiết tha với đất nước, yêu cái đẹp, yêu sự thật.

Tập Đất Hồ Ngàn Năm của Hoàng Hải Thủy cho xuất bản mới đây gồm tám đoản văn: Huyền thoại Vương Chiêu Quân, Giang Tả Cầu Hôn, Rồng Nằm, ngựa chạy, Sự Tất Như Thử, Trăm Năm Binh Lửa, Thơ và Sự Khốn Cùng, Mơ Ngày Về Vẽ Lông Mày, Thiên Long Tình Sử.

Hoàng Hải Thủy cho biết ông bắt chước ông Lê Quý Đôn ghi lại những chuyện hay hay đọc được cùng với những suy luận, những nhận xét của mình.

Qua cuốn sách người ta được biết thêm một Hoàng Hải Thủy rất yêu thơ, đọc rất nhiều thơ Đường, dịch nhiều thơ Đường và còn có thể làm thơ bằng chữ Hán nữa.

Đoản văn về “Thơ và Sự Cùng Khổ” của Hoàng Hải Thủy gây nhiều xúc động trong lòng độc giả. Hoàng Hải Thủy viết đoản văn này sau khi đọc một bài thơ của Nguyễn Du trong “Bắc Hành Thi Tập”, chắc Nguyễn Du đã sáng tác trong chuyến đi sứ sang Bắc Kinh và qua nơi có ngôi mộ Đỗ Phủ.

Thi hào Đỗ Phủ trong một chuyến đi xa đã nhuốm bệnh và chết trên một con thuyền trên sông Tương. Vì nhà nghèo, vợ con không đưa được ngay di hài ông về quê nhà, phải tạm chôn ở Nhạc Châu. Bốn mươi năm sau, người cháu của Đỗ Phủ là Đỗ Tư Nghiệp mới rời được hài cốt Đỗ Phủ về Yểm Sư, mai táng trên núi Thú Dương, thuộc Hà Nam.

Tuy vậy ở Lỗi Dương vẫn có ngôi mộ giả của Đỗ Phủ do viên Huyên lệnh Lỗi Dương họ Nhất xây để tưởng niệm nhà thơ lớn.

Người Hoa ngày xưa thường xây những ngôi mộ giả các nhân vật họ kính trọng.

Đỗ Phủ thơ hay tuyệt thế nhưng suốt đời nghèo khổ, nghèo đến độ không nuôi nổi vợ con và thân mình, để đến nỗi một người con nhỏ của ông phải chết vì thiếu ăn.

Nguyễn Du đặt câu hỏi, ông (Đỗ Phủ) cùng khổ đến thế phải chăng vì thơ ? Phải chăng ta có thể quy tội làm ông khổ là thơ ?

Chính Đỗ Phủ khi nhớ tới Lý Bạch, nhớ tới Khuất Nguyên tự trầm mình ở sông Mịch La đã than thở: “Làm thơ hay như Khuất Nguyên, như Lý Bạch mà cuộc đời khổ sở đó là vì văn chương ghen ghét những người mệnh đạt. Văn chương không cho những người làm thơ được thành công trong đời.”

Bàn về thơ và sự cùng khổ Âu Dương Tu, một danh sĩ khác của Trung Quốc viết: “Không phải thơ làm người ta cùng khổ. Chính vì người làm thơ có cùng khổ thơ của người đó mới hay.”

Đỗ Phủ nói: “Văn chương ghét mệnh.”

Nguyễn Du cho rằng: “Làm gì có chuyện văn hương ghét mệnh. Làm gì có chuyện trời ghen với người.”

Nhưng trong truyện Kiều Nguyễn Du lại viết :

Lạ gì bỉ sắc, tư phong.
Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen.

Hoàng Hải Thủy viết: “Đây không phải một điều mâu thuẫn trong quan niệm về nhân sinh của thi sĩ. Không phải Nguyễn Du bất nhất trong quan niệm của ông về đời người. Ý thức của chúng ta rất phức tạp, đa dạng. Nguyễn Du tất nhiên là phức tạp hơn người thường.”

Hoàng Hải Thủy lấy trường hợp của ông để nói thêm về câu hỏi được nêu ra: Thơ có làm cho người làm thơ phải khổ sở không ?

“Viết tiểu thuyết từ năm 25 tuổi, có thể nói tôi suốt một đời yêu thương, gắn bó, sống chết với việc viết truyên. Với tôi, viết là hạnh phúc. Tôi đã sống để viết, viết để sống và trước năm 1975, tôi đã sống được với việc viết truyện của tôi. Trước 1975, ở Sài Gòn, Thủ đo Quốc Gia Việt Nam Cộng hòa của tôi, trong hai mươi năm, tôi đã sống để viết và đã viết để sống. Sau 1975, tuy biết viết là tù tội, tôi vẫn viết. Dù vậy tôi vẫn không thể trả lời thỏa đáng câu hỏi: “Thơ có làm cho người làm Thơ cùng khổ hay không ?”

Tôi thấy Nguyễn Du đúng khi thi sĩ nói: “Chữ tài liền với chữ tai một vần.”, “ngu si hưởng thái bình.”

Người có tài thường gặp tai họa. Chuyện đó tôi thấy thường xẩy ra trong đời và trong thời loạn.

Tôi chịu câu nói của Âu Dương Tu: “Thơ không làm cho người làm thơ cùng khổ. Chính vì có cùng khổ thơ mới hay.”

Nguồn : https://hoanghaithuy.wordpress.com/2009/01/24/nguyen-dinh-toan-viet-ve-hoang-hai-thuy/

* ĐI & VỀ: CÀ MAU

Nắng hừng đuổi muỗi đêm qua
Dưới mương nước lớn Xóm Chà đỉa bu
Bãi Bồi còn đọng sương mù
Con kênh Phụng Hiệp thượng lưu cạn dòng
Đất Mũi biển trời mênh mông
Rừng tràm láng đước Hàm Rồng tươi xanh
Năm Căn mưa giữa trời hanh
Sóng sông Cửa Lớn dội Gành Hào xa
Vùng đất Mạc Cửu đi qua
Nơi ghi lại dấu Tay Ngà Chân Tiên
Từ thời lập quốc khai biên
Ba khía Rạch Gốc gắn liền miếng cơm
U Minh sớm tối chiều hôm
Vo ve sáo muỗi thổi rền canh thâu
Vàm Ông Đốc thuyền về đâu
Ra hòn Đá Bạc ngắm màu bình minh
Bồn Bồn Cái Nước trắng trinh
Ba Phi nói dóc người tin như thần
Đầm Dơi trăng xuống hàng bần
Thuận Phước đôi lần ăn bánh tầm cay
Thới Bình xa cách lâu ngày
Ai qua Biển Bạch có say mật rừng
Giá Rai mưa nắng sống cùng
Trên dòng sông Trẹm đường chung lối về
Tam Giang, Bảy Hạp hẹn thề
Sẽ quay trở lại Bờ Đê sông buồn
Cái Nước gánh nặng mưa tuôn
Cho than đước chín ấm khuôn bếp nhà
Nghinh Ông lễ hội Vía Bà
Hòn Khoai khấn nguyện người qua bão bùng
Buồn cho thiếu phụ Thanh Tùng
Dạt về Đông Thới cua cùn đường trôi
Văn Lâm một thuở khứ hồi
Định Bình thấm mặn Cái Đôi nước phèn
An Xuyên chạn vạn lên đèn
Vườn Chim tổ ấm đã quen bao đời
Cà Mau tình đọng biển khơi
Người phương xa đến lạ rồi sẽ thân
* KH / Võ Thành Đông

Khi Thượng Đế sáng tạo nhan sắc bông dừa.

Tạp văn
Tôi ở chung cư, mọi mặt bằng đều là nền xi măng, mọi mé hiên đều là tôn sắt… nhưng do đâu cây bông vừa vẫn tìm đến để sống và nở bông.
Tôi cho là không có mấy ai ngằm sắc bông dừa hoặc chập chờn ý nghĩ: Bông dừa sao chúng mày sống được nơi đây, hãy về bờ ruộng, vườn quê mà nở bông, đô thị là tù ngục, hãy gọi gió mà đưa mầm về quê cũ.
Lúc trước tôi cũng đâu có để ý đến sinh mạng bông dừa mọc quanh tôi. Nhưng từ khi mấy tay trộm cây không chừa cho tôi sắc bông nào, con mắt trơ khô với nền bê-tông nên tôi vớt vát chút sắc màu tươi mới của nó.
Từ lúc ngắm nó, tôi bỗng nhớ đến các cô gái quê buổi đầu đời. Tôi không chắc là mỗi khi các cô gái ấy khoe nhan sắc là có duyên, nhưng tôi chắc chắn các cô ấy có tất cả sắc đẹp mà chính muôn màu đồng quê trao tặng; chính nhan sắc tự nhiên của các cô là môt phần đẹp nhất mà Thượng Đế trang điểm để các cô hòa điệu cùng muôn màu.
Bông dừa luôn thuộc về các đôi mắt cần sắc màu hồn hậu để nương tựa mà tránh đi xa, khuất lạc vì mê đắm sắc chảnh chọe làm dáng hoặc kiêu sa giả tạm.
Nói sắc bông dừa thuộc về người tầm thường, do họ chỉ có đúng sắc màu ít oi, hay thuộc về người cô độc trầm tỉnh, vừa lòng với sắc màu ít quấy rầy cũng được.
Nếu lữ khách hay rằng bông dừa vốn có sự tự do cùng gió, mọc đâu cũng rõ sắc không a dua, trụ chốn nào cũng sáng ánh quê nhà thì lữ khách dù biệt mù xa xứ, dù tuổi đời sắp hết hạn vẫn luôn luôn là người đang từ bỏ mọi thứ son phấn danh phận, từ chối thứ chính kiến dạy mình phải chọn thế này, thế này, nhằm sơn phết, đóng dấu để mình thành con rối đơn màu hay đa sắc của họ.
Thượng Đế không sáng tạo son phấn hay nét đẹp dao kéo; muôn màu chân thật khắp thế gian, từ Thượng Đế mà hiện hữu để khoe sắc cạnh tranh làm sáng rõ sự chân thật của sự sống.
3-12-2020

Chiều cuối thu …

Chiều cuối thu …
Đôi khi bạn cần tạm dừng lại tất cả mọi việc, tìm lại cho mình một khoảng lặng tâm hồn, tìm lại cho mình những phút giây thoải mái để lắng nghe nhạc điệu cuộc sống, lắng nghe nhịp đập trái tim, lắng nghe tiếng nói của lòng mình và hòa mình cùng thiên nhiên để thấy cuộc sống đáng yêu xung quanh ta …
Photo : Nam Vivu
Photo : Nam Vivu
Photo : Nam Vivu

Sài Gòn không có mùa đông

Vien Pham Tri·

Sài Gòn không có mùa đông. Khi miền Bắc đang mùa đông mưa phùn gió bấc thì phương Nam đang vào mùa khô, tràn đầy nắng ấm, cây cỏ vẫn xanh tươi.

Nhưng mùa No-en Sài Gòn cũng se lạnh. Sáng sớm hay tối muộn nhiệt độ có khi cũng xuống tới 18-20•C. Đó là món quà mà thiên nhiên phóng khoáng ban tặng đất phương Nam nắng ấm quanh năm. Cái se lạnh làm cho đôi lứa xích lại gần nhau hơn tìm hơi ấm. Cái se lạnh làm cho các cô gái điệu đà hơn trang phục phong phú đa sắc màu hơn, ly cafe buổi sáng dường như cũng thơm hơn, không gian quanh ta cũng ấm cúng hơn.

Từ trong sâu thẳm những người con gốc Bắc đang sinh sống ở phương Nam vẫn có nỗi nhớ bâng quơ hay da diết về mùa đông nơi đất Bắc. Đó phần lớn chắc không phải là những kỷ niệm ngọt ngào nhưng như người xưa đã nói : “Miếng ngon nhớ lâu, đòn đau nhớ đời “. Người ta nhớ về mùa đông cũng phần nhiều là bởi nó đã gắn với một thời đói cơm rách áo thời bao cấp, cả xã hội quay cuồng trong thiếu đói. Mà đói và rét là 2 cái khổ nhất của người nghèo và khi đã trải qua đói và rét thì sẽ nhớ mãi. 

Bài thơ “Không lời gửi mùa đông” của Thảo Phương là một bài thơ ra đời trong hoàn cảnh như thế. Nhạc sỹ Phú Quang đã lấy ý thơ, viết thêm lời và phổ nhạc thành ca khúc “Nỗi nhớ mùa đông” nổi tiếng một thời. Nó nổi tiếng vì đã nói hộ nỗi lòng của những người con đất Bắc sống ở phương Nam nhớ về mùa đông lạnh giá nhưng cũng đầy kỷ niệm gắn bó như máu thịt một thời.

——————————————————-

KHÔNG LỜI GỬI MÙA ĐÔNG

Dường như ai đi ngang cửa

Gió mùa đông bắc se lạnh

Chút lá thu vàng đã rụng

Chiều nay

Cũng bỏ ta đi

nằm nghe xôn xao tiếng đời

mà ngỡ ai đó nói cười

Bỗng nhớ cánh buồm xưa ấy

Giờ đây cũng bỏ ta đi

Làm sao về được mùa đông

Dòng sông, đôi bờ cát trắng

Làm sao về được mùa đông

Để nghe chuông chùa xa vắng,

Thôi đành ru lòng mình vậy

Vờ như mùa đông đã về.

2. Dường như ai đi ngang cửa

Gió mùa đông bắc se lạnh

Chút lá thu vàng đã rụng

Chiều nay

Cũng bỏ ta đi

nằm nghe xôn xao tiếng đời

mà ngỡ ai đó nói cười

Bỗng nhớ cánh buồm xưa ấy

Giờ đây cũng bỏ ta đi

Làm sao về được mùa đông

Dòng sông, đôi bờ cát trắng

Làm sao về được mùa đông

Mùa thu, cây cầu đã gẫy 

Thôi đành ru lòng mình vậy

Vờ như mùa đông đã về.

Chiều thu – cây cầu…

Đã gãy

—————————————-

Dường như ai đi ngang cửa,

Hay là ngọn gió mải chơi?

Chút nắng vàng thu se nhẹ,

Chiều nay,

Cũng bỏ ta rồi.

Làm sao về được mùa đông?

Chiều thu – cây cầu…

Đã gãy.

Lá vàng chìm bến thời gian,

Đàn cá – im lìm – không quẫy.

Ừ, thôi…

Mình ra khép cửa,

Vờ như mùa đông đang về!

SG – 8.1992

Thảo Phương

TRẦN DẦN, VÀI KỶ NIỆM

Vũ Thư Hiên

Tôi lưỡng lự khi viết về Trần Dần. 

Anh đã là người thiên cổ, lại là thứ thiên cổ không bình thường, tức thị người lúc sống thì bị người ta lờ đi, coi như không có trên đời, lúc chết lại ồn ào làm đám. 

Tôi ở rất xa vào ngày anh ra đi. 

Tôi ước đương lúc thiên hạ tò te bài lâm khốc, Trần Dần của tôi lại khoét được một lỗ ván để ngó ra đám ma mình, để rồi phá lên một tràng cười như cách anh cười khi khoái chá – đầu ngật ra sau.

Trần Dần vướng vào nghiệp thi ca rất sớm. Khi anh đã có tên trong thi đàn, tôi còn thò lò mũi xanh. Cuộc kháng chiến chống Pháp, và chỉ có nó, đã hào phóng cho giữa hai chúng tôi một dấu bằng. 

Tháng 10 năm 1954, trong những ngày tiếp quản thủ đô sôi nổi, đoàn quay phim Liên Xô của Roman Karmen ở khách sạn Splendid. Tôi là phụ quay phim cho Eshurin trong đoàn này cũng được ở đấy.

Khách sạn Le Coq d’Or

Trần Dần thường ghé Splendid uống bia. Anh gọi tôi xuống uống cùng.

Bia bán ở trệt khách sạn. Trần Dần đến, xà-cột ngang hông, cùng với Hồng Minh. Ngồi đầy các bàn còn có các sĩ quan Pháp làm công việc bàn giao Hà Nội. 

Chiến tranh qua rồi, lính tráng hai bên nâng cốc hể hả chào nhau. 

Hồng Minh ít nói, chỉ lẳng lặng nghe. Anh yêu điện ảnh, thích nghề viết kịch bản, nhưng không có duyên với nó. Nhưng chỉ với tình yêu ấy anh đã rất đáng yêu. Sau, anh chuyển ngành về Bộ Văn hoá, làm công việc gì ở đấy tôi không rõ. Trần Dần quý Hồng Minh, anh lắc đầu bảo:

– Nghệ thuật khốn nạn ở chỗ cửa của nó quá hẹp. Không phải ai cũng lách vào được.

Trần Dần mặt nhầu nát, tóc bù xù, tay vắt sau ghế, ngó nghiêng những kẻ hôm qua còn ở bên kia chiến tuyến. Có vẻ anh muốn nói chuyện với họ, nhưng không biết có nên không, nếu nói thì nói cái gì. 

Nguyễn Đình Thi đến ngồi với chúng tôi, hào hứng nói về phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trần Dần nghe lơ đãng. Anh không quan tâm tất tần tật mọi thứ lý thuyết văn học. Bia ngon hơn bất kỳ lý thuyết nào. 

Ít lâu sau, Trần Dần cho ra “Người người lớp lớp”, một thứ tiểu thuyết không ra tiểu thuyết, ký không ra ký. Tôi đọc không được một nửa. Nó không giống bất cứ thể loại văn chương nào. Tôi ậm ừ một nhận xét chung chung. 

Những tưởng với một thằng nhóc hờ hững với tác phẩm của mình, Trần Dần sẽ nhún vai bỏ đi. Nhưng anh kéo tôi tới tiệm Bodega ở Tràng Tiền, thết tôi bánh min-phơi kèm một cốc sô-cô-la. Trần Dần gọi cà-phê, hút thuốc lá Cotab.

Nhà văn Vũ Thư Hiên và nhà thơ Trần Dần.

Tôi thấy Đoàn Chuẩn ngồi trong góc, chai Dry Gin trước mặt. Chúng tôi gật đầu chào nhau. Vào một trưa nắng vỡ nứa trên đèo Re trên đường Tuyên Quang đi Thái Nguyên Đoàn Chuẩn đã dốc cạn số ký ninh phòng thân cho tôi uống, cho tôi nghe tiếng đàn Hạ Uy Di của anh trong niềm vui thấy tôi đã qua cơn bạo bệnh. 

Tôi không đủ can đảm kéo Đoàn Chuẩn về bàn mình. Tôi đã bị “cạo” đến nơi đến chốn vì tội vào buổi sáng ngày đầu tiên của cuộc tiếp quản Hà Nội sau chín năm kháng chiến đã cả gan ngồi con cà con kê với anh, một người “người trong thành”, tại quán cà phê An Thái Majestic. 

Cái xã hội bé nhỏ của văn chương và các loại nghệ thuật khác ở Hà Nội vào cuối năm 1954 vẫn còn đủ những nhà văn và những nhạc sĩ tài ba không được thừa nhận. 

Năm 1955 tôi đã ở Moskva. Báo chí trong nước chỉ có ở sứ quán. Để biết chuyện trong nước thì phải ra đấy mà đọc. Một lần cầm tờ Nhân dân lên, thấy toàn những bài chửi Nhân văn – Giai phẩm thậm tệ với những tên Trần Dần, Phan Khôi, Trần Duy, Văn Cao, Hoàng Cầm, Lê Đạt… 

Chẳng có tờ Nhân Văn hay Giai Phẩm nào. Chẳng có ai để hỏi ngọn ngành.  Ở sứ quán không có ai họ hàng với văn chương. 

Tôi mua một bưu ảnh có hình tháp Kremli gửi về cho Văn Cao : “Không gì có thể làm cho tôi tin rằng Văn Cao chống lại cách mạng…”. 

Văn Cao nhận được bưu ảnh. Nó đem lại cho anh niềm an ủi trong những ngày chịu đòn hội chợ. Lời nhắn ấy rồi được người ta cho vào hồ sơ mang tên tôi. Tôi ngạc nhiên: thì ra bất cứ ai đã có bài đăng báo đều được công an lập hồ sơ để đấy, phòng xa vào lúc nào đó tác giả có thể trở thành phản động. 

Văn Cao đã lọt vào sổ đen. Và có một hồ sơ dày. Tôi đã thấy nó.

Tôi thân với Văn Cao. Chúng tôi có thời gian dài sống với nhau trong rừng Quảng Nạp gần Quán Ông Già ở Thái Nguyên. Nhớ những đêm rừng lạnh lẽo, ngồi quanh đống lửa hồng, nướng sắn, mặt nóng rát mà lưng lạnh như băng, Văn Cao mơ một ngày tôi và Quang Hưng sẽ lĩnh xướng trong bản Đường Về trên sân khấu Nhà Hát Lớn mà anh vừa viết xong. Bài này là thơ nhạc giao duyên:

“Về đây có những đồng hương cốm lúa xanh dạt dào/ Bao nhiêu năm trong hội ngày mùa/ Ngọn lửa chài và con sông trắng…”

Trở về Hà Nội, tôi đến thăm Văn Cao. Hỏi thăm về vụ “Nhân văn – Giai phẩm”, về Trần Dần. Văn Cao bảo:

– Nó khai bậy. Tao đâu có nói: “Phải phục xuống mà đánh”. Làm chúng nó nện tao tơi bời.

Trần Dần nhìn tôi bằng cặp mắt ngơ ngác, pha chút nghi ngờ khi tôi đến. Cái nhìn cảnh giác là đặc trưng cho thời gian ấy, cũng như ánh mắt lấp lánh niềm vui là đặc trưng cho năm 1954. 

Trước khi có thể tin nhau, người ta nghi ngờ nhau cái đã – một khoản tạm-ứng-thanh-toán-sau trong các mối quan hệ. 

Trần Dần bảo:

– Đất Nam Hạ là đất nghịch, cậu ạ. Đất của những tướng cướp và những kẻ bất tuân. 

Trần Dần và tôi là đồng hương. Đất Nam Hạ xem ra quả có thế thật. Anh vướng vào “Nhân văn – Giai phẩm”. Tôi đi tù, rồi ở miết. Hiền lành như anh giáo Tuấn – Trần Xuân Bách – thế mà rồi bỗng dưng và bất thình lình trở thành kẻ chống đảng. 

Tôi có hai người bạn có tên trong bản Tuyên ngôn Dạ Đài là Vũ Hoằng Địch và Trần Dần. 

Tuyên ngôn Dạ Đài là tiếng kêu than và cũng là tiếng thét của văn học khốn cùng: 

“Chúng tôi -một đoàn thất thổ- đã đầu thai nhằm lúc sao mờ. Cho nên buổi chúng tôi xuất hiện, chúng tôi để cho tàn suy giấc mơ của những người thuở trước. Sụp đổ: lâu đài phong nguyệt; và mai một: ý tứ những thi nhân mò ánh trăng mà thác. Chúng tôi không còn khóc, không còn muốn khóc – vì người ta đã khóc mãi ái tình, công danh và thế sự. Chúng tôi không còn nhìn mây, không còn muốn nhìn mây – vì người ta đã nhìn mãi mây chiều cùng nắng sớm. Chúng tôi đã gào thét những đêm thâu, đã rên la những ngày dài dằng dặc. Chúng tôi đã nhìn lên Tinh Đẩu và đã nhìn xuống Thế Nhân. Chúng tôi đã về giữa non sâu để trở lại những bình nguyên hoang lạnh. Chúng tôi đã sống, sống hết cả những hình thức dương trần, đã đau khổ hết cả những mối sầu vui nhân loại…”

Bỗng nhớ một tâm trạng Trần Dần:

Điện cháy đầu ô đêm… phố dốc 

Chòi sương cánh vạc giật mình

Trống đánh đoàn thợ lên tầm

Gió thổi kèn ma mưa thui lòng ngõ hẹp

ò… ò đêm đi như một cỗ quan tài

Ngày về: đây mới thực là đau

Thành quách heo heo mây cò bợ

Bụi nổi chân thành lem luốc đám đông đi

He hé búp lai-ơn

Cửa sổ phố nhà quan vàng nghệ

Leo dốc – đoàn tầu vào ga – rú vài tiếng… rồi đi!

Kèn thổi bùm bum một đoàn xiếc ế

Ngã tư… nhà Lợi Tường mõ Tây tịch ký

Tượng chúa Giê-xu búa gõ tầm tầm

Gió đánh hàng bàng, lá chết chạy vòng quanh

Phố chéo chênh chênh. Ăn mày gặp ăn mày

Lườm nhau – mắt vải điều cay cay chớp nắng

Rầm rầm lũ trẻ đuổi bà gù quăng đá làm bia

Thùng bắc! Quan công phò nhị tẩu!

Cả ba nhân vật lịch sử

Mặt vôi lơ láo phố tuồng chua…

Chiều buông như một tiếng thở dài

Trại lính chòi canh nâu

Mỗi ngày hai lần tò te chào cờ tam thể

Lính đi manơ ắc-ê rời trại

Gặp lính về íc-ắc chào nhau!

Nhưng cổng trại đèn lên

Thôi đã hết một ngày!

Ai mửa sao đêm đầy các ngõ?

Để hầm hập bồ hôi cơn sốt phố về đêm.

Trần Dần không chỉ buồn bã nhìn thế sự trong thời thuộc Pháp. Anh không hài lòng trong mọi thời gian, cả trong thời lạc quan cách mạng không được phép buồn. 

Những nhà lãnh đạo văn nghệ tự xưng không hề hiểu rằng sự hài lòng với hiện tại là cái đinh đóng vào ván thiên của người nghệ sĩ. 

Khi anh hài lòng, có nghĩa là anh không còn muốn cái hơn nữa. 

Ngoài miệng, người ta không cấm Trần Dần buồn, họ cũng chẳng vỗ vai khuyến khích anh vui. Nhưng người ta tự cho mình quyền xét nét cái anh viết ra – anh vui cái gì, anh buồn cái gì đây? 

Thơ của Trần Dần làm đám gọi là “người ta” khó chịu. Người ta không phải người đi ngoài đường. “Người ta” là ai thì ai cũng biết. Người ta là người cầm giây tròng vào cổ các nhà thơ để dắt họ đi cho họ khỏi lạc lối. 

Người ta khó chịu với Trần Dần vì người ta không hiểu anh nói cái gì, anh muốn cái gì. Người ta muốn thơ phải giống bản tự kiểm thảo. 

Những nhà thơ lại không thế. Cảm xúc đến, họ cầm lấy bút, và những vần thơ tuôn chảy. 

Như bài này:

tuổi 60 rồi? không viết nổi một câu thơ?

.bại? bại? đại bại? anh sáu mươi rồi chẳng có quê? càng là lí do anh đốt quê ác liệt hơn?

      không chơi với bọn không quê – vẫn ăn – ngủ…tam đa?

      người? con khoanh tay? con tất tả – dạ tràng? thà là con phó thác?

      chúng sinh mù? dưới mồ?… mới thao láo mắt nhìn ra?

.tôi lại ngủ như ngày mới đẻ? khi còn đỏ hỏn chân mây? tôi lại ngủ như ngày mới đẻ?

.kẻ viết? đạp đổ chân trời? xổng xích các chân mây?

.kẻ viết cầm chắc âm dương trong tay? không vui không buồn? ngoài mọi nghĩa? bên kia bảy tục cảm? Mĩ? Nộ? Ai? Lạc? Ái? Ố? Dục?

kẻ viết rung ở một địa đồ ma xó? Tuệ cảm? Tuệ tâm? Tuệ ác?

kẻ viết cốt ở tào lao man rợ? không cốt tuỳ thời cúi ngửa?

kẻ viết bất biết thị phi chê-khen? thị phi hiểu? mọi thị phi công ty không nhìn nghe…?

.thức khuya mới biết đêm ngắn? kẻ ngỡ đêm dài là chửa thức khuya?

Khi không hiểu thì tốt nhất là vác gậy phang cái đã.

Trần Dần là nhà thơ cô đơn. Anh có bề ngoài, và cả bề trong nữa, giống tu sĩ khổ hạnh. Thơ là Chúa của anh. 

Để hiểu Trần Dần theo cách khảo cứu đã có Phạm Thị Hoài. Trong lĩnh vực ấy, tôi là kẻ bên lề.  

Ở Hà Nội thỉnh thoảng tôi đến thăm anh. Lần nào cũng như lần nào, tôi thấy Trần Dần ngồi đấy, một mình, bên cái điếu bát ngổn ngang những xoắn giấy dùng thay đóm nứa.

Có người nhận xét: nắng chiếu vào bức tường nơi anh ngồi bất động ghi lại một hình người. Tôi khôngnhận ra chi tiết đắt giá ấy.

Ngồi bên nhau, chúng tôi im lặng. Im lặng cũng là một thứ đối thoại. Thỉnh thoảng chúng tôi mới nói một câu, thường là câu hỏi về một người anh em lâu không gặp. 

Trần Dần hút thuốc lào liên tục, rít ngắn. Đóm là những mảnh giấy con con xoắn lại. Tôi ngờ vực nhìn những xoắn giấy vứt quanh cái điếu bát. Rất có thể chúng là những vần thơ. Anh viết rồi anh chán – những mẩu thơ bỏ đi trở thành đóm. Có thể chúng là những câu thơ đẹp. Khi tứ thơ đến, anh khe khẽ gõ xe điếu vào thành cái điếu bát, miệng lẩm bẩm một giai điệu nào đó. 

Tôi có đọc về bà vợ văn hào Lev Totstoi. Ông viết, những trang đầy chữ, rồi không hài lòng, ông vò nát, vứt chúng quanh ghế ngồi, rồi cắm cúi viết tiếp. Bà vợ tích cóp những mảnh giấy bỏ đi, cất vào một chỗ. Nhờ bà mà những nhà nghiên cứu Lev Tolstoi có thêm khối tư liệu để thấy Chiến Tranh Và Hòa Bình hay Anna Karenin đã hình thành như thế nào. 

Chẳng ai nhặt những vần thơ vương vãi quanh chỗ anh ngồi. 

Trầm ngâm, Trần Dần thủ thỉ:

– Thơ viết ra rồi, cậu ạ, là đồ bỏ. 

– Thế thì cái gì mới không phải là đồ bỏ?

Anh gõ vào đầu:

– Là cái còn nằm trong cái này này. 

Nhà thơ đích thực nào cũng thế – thơ đích thực là thơ còn nằm trong đầu.

Khi nhà thơ rời bỏ chúng ta, anh mang theo tuốt tuột những bài thơ chưa được viết ra. 

Thế có tiếc không cơ chứ!

′′ Những người ủng hộ Trump nói, ‘ Chúng tôi đã phải chịu đựng 8 năm dưới Barack Obama. ‘ ‘

Đủ công bằng rồi. Mời cả nhà cùng tham khảo.
Ngày Obama nhận chức, Đội Dow đóng cửa ở mức 7,949 điểm. Tám năm sau, Dow đã gần như tăng gấp ba.
General Motors và Chrysler đang ở trên bờ vực phá sản, với Ford không xa phía sau, và sự thất bại của họ, cùng với chuỗi cung ứng của họ, sẽ có nghĩa là mất hàng triệu việc làm. Obama đã vượt qua một cuộc tranh cãi, 80 tỷ đô la bảo lãnh để cứu ngành công nghiệp ô tô. Ngành công nghiệp ô tô Hoa Kỳ đã sống sót, bắt đầu kiếm tiền một lần nữa, và toàn bộ 80 tỷ đô la đã được trả lại, với lãi suất.
Trong khi chúng ta vẫn dễ bị tổn thương bởi các cuộc tấn công sói đơn độc, không có tổ chức khủng bố nước ngoài nào đã thực hiện thành công một vụ tấn công hàng loạt tại đây từ năm 9/11.
Obama ra lệnh cho cuộc tấn công đã giết Osama Bin Laden.
Ông đã rút số lượng quân đội từ 180,000 ở Iraq và Afghanistan xuống chỉ còn 15,000, và tăng nguồn vốn cho Sở Cựu chiến binh.
Ông khởi động một chương trình có tên là Opening Doors, từ năm 2010, đã dẫn đến mức giảm 47 % so với số lượng cựu chiến binh vô gia cũ. Ông đã lập kỷ lục 73 tháng thẳng tiến về việc làm trong ngành tư nhân.
Do các chính sách quy định của Obama, khí thải nhà kính giảm 12 %, sản xuất năng lượng tái tạo hơn gấp đôi, và sự phụ thuộc của chúng ta vào dầu nước ngoài đã bị cắt làm đôi.
Ông đã ký Đạo luật Lilly Ledbetter, khiến phụ nữ dễ dàng kiện chủ lao động vì khoản lương không cân xứng.
Đạo luật Quản lý Đất đai Công cộng Omnibus của ông đã chỉ định hơn 2 triệu mẫu là hoang dã, tạo ra hàng ngàn dặm đường mòn và bảo vệ hơn 1,000 dặm sông.
Ông đã giảm thâm hụt liên bang từ 9.8 % GDP trong năm 2009 xuống còn 3.2 % trong năm 2016.
Đối với tất cả các vấn đề không phù hợp của Đạo luật Chăm sóc Giá cả phải chăng, chúng tôi dường như đã quên rằng, trước ACA, bạn có thể bị từ chối bảo hiểm cho một tình trạng hiện tại và trẻ em không thể tuân thủ các chính sách của cha mẹ đến 26. tuổi.
Obama đã chấp thuận một hệ thống trị giá 14.5 tỷ đô la để xây dựng lại các levees ở New Orleans.
Tất cả những điều này, ngay cả khi Mitch McConnell của chúng tôi nổi tiếng khẳng định rằng nhiệm vụ đặc biệt của ông sẽ là chặn tất cả những gì Tổng thống Obama đã cố gắng làm.
Trong khi Obama thất bại trong chiến dịch cam kết đóng cửa nhà tù tại Vịnh Guantanamo, dân số nhà tù đó giảm từ 242 xuống khoảng 50.
Ông đã mở rộng nguồn vốn cho nghiên cứu tế bào gốc phôi thai, hỗ trợ tiến bộ phá vỡ đất ở các khu vực như điều trị chấn thương cột sống và ung thư.
Các công ty thẻ tín dụng không thể tính phí ẩn hoặc tăng lãi suất mà không cần thông báo trước.
Hầu hết các năm, Obama đã tổ chức một bữa tiệc ngày 4 tháng 4 cho các gia đình quân đội. Anh ấy đã giữ những đứa trẻ, chơi trò chơi với trẻ em, phục vụ tiệc nướng và dẫn dắt tiếng hát ′′ Chúc mừng sinh nhật con gái Malia, người được sinh vào ngày 4. tháng 4.
Chi tiêu phúc lợi đã giảm: đối với mỗi 100 gia đình nghèo, chỉ cần 24 người được hỗ trợ tiền mặt, so với 64 trong 1996.
Obama đã an ủi gia đình và cộng đồng sau hơn một tá vụ nổ súng hàng loạt. Sau khi Sandy Hook, anh ấy nói, ′′ Phần lớn những người chết ngày hôm nay là những đứa trẻ, những đứa trẻ nhỏ xinh đẹp từ 5 đến 10 tuổi.”
Tuy nhiên,
Anh ấy không bao giờ mang đi
Súng của ai không……..
Anh ấy đã hát Amazing Grace, một cách tự nhiên, tại bàn thờ.
Ông ấy là tổng thống đầu tiên kể từ khi Eisenhower phục vụ hai điều khoản mà không có bê bối cá nhân hoặc chính trị.
Anh ấy đã được trao giải Nobel Hòa bình.
Tổng thống Obama không hoàn hảo, vì không có người đàn ông và không có tổng thống nào, và bạn chắc chắn có thể không đồng ý với các tư tưởng chính trị của ông ấy. Nhưng để nói rằng chúng ta đã phải chịu đựng?
Nếu đó là tranh luận, nếu đây là cách chúng ta phải chịu đựng trong 8 năm dưới Barack Obama, tôi có một điều ước:
có lẽ chúng ta sẽ rất may mắn khi phải chịu đựng thêm 8 lần nữa.”
bởi Teri Carter, Lexington Herald-Leader