TRƯỜNG CAI NGHIỆN (2): HÀ “GIANG MAI”

Bạch Cúc

3 tháng 7 lúc 19:04

Mỗi buổi họp giao ban, học viên thường ngồi bệt dưới sàn xi măng, quây thành vòng tròn quanh phòng. Tôi cũng ngồi chung với họ, một cách đơn giản và tự nhiên chẳng bao giờ nghĩ ngợi gì. Ngày đầu tiên vừa giao ban xong, đứa bạn thân (là quản giáo trước tôi) khều tôi lại và nói nhỏ:

– Mày nghĩ sao mà ngồi bệt dưới nền nhà vậy? Mày phải lấy giấy để lót chỗ ngồi chứ?

Tôi tròn mắt ngạc nhiên nhìn bạn, ngơ ngác tỏ vẻ không hiểu, nó liền vội giải thích:

– Trời đất ơi, năm mươi con đại bàng mày đang quản lý, toàn là gái mại dâm, hầu hết đứa nào cũng bị bệnh lây nhiễm qua đường tình dục, tụi nó ngồi lê lết trên sàn nhà, ít nhiều cũng dây mủ, máu và dịch bệnh ra sàn, mày cũng ngồi chung lỡ mày bị lây thì sao?

Tôi giật nảy người, thật sự hoảng hốt và lo sợ. Kiến thức về cuộc sống và nhất là về y tế của tôi vốn hạn hẹp, trước giờ tôi nào biết gì đến việc phơi nhiễm, lây nhiễm qua đường tình dục. Tôi chỉ mới tốt nghiệp trường Luật, chân ướt chân ráo lên đây là bị đưa xuống trại làm quản lý ngay lập tức. Tôi không được tập huấn, đào tạo một giờ huống chi nói đến một ngày. Tất cả trong tôi đều là sự bỡ ngỡ, mới mẻ, tôi chỉ có vài ba đứa bạn lên đây trước, may mắn chúng có chút kinh nghiệm, và nhờ chúng tận tình hướng dẫn, giúp đỡ mà tôi nhanh chóng hội nhập…

Cứ ba giờ chiều mỗi ngày là giờ học viên đi lên trại Y tế để nhận thuốc. Hầu như ai cũng phải uống thuốc, không bệnh này thì bệnh kia, đủ mọi thứ bệnh phát sinh trong quá trình nghiện ngập và chủ yếu là bệnh truyền nhiễm do nghề mại dâm. Chỉ có những người bệnh nặng thì không phải tự đi lấy thuốc, sẽ có y sĩ xuống tận trại, vào tận phòng để chăm sóc.

Buổi chiều hôm ấy, người y sĩ bước vào phòng tôi, căn phòng tôi ở sát bên phòng của học viên, phòng có hai giường, được ngăn làm đôi bởi một tấm rèm, một giường cho tôi, một giường là chỗ để học viên nữ nằm khám phụ khoa.

Anh yêu cầu tôi gọi Hà, tôi mới tới nên chẳng biết Hà là ai, chỉ biết gọi to cái tên theo yêu cầu, và tôi trông thấy Hà.

Cô bé gầy yếu mong manh, làn da khá trắng nhưng xanh mướt, bước chân líu ríu có vẻ ngượng ngập và run rẩy.

Hà gật đầu chào tôi, đôi mắt của cô to đen với ánh nhìn buồn rười rượi. Hà có đôi mắt khá đẹp, hai hàng mi dài cong vút, sâu thăm thẳm và man mác những nỗi niềm tôi không thể hình dung được. Cô khó khăn để leo lên giường, càng khó khăn hơn khi cô phải co chân, kéo quần xuống trước mặt người y sĩ và…trước mắt tôi.

Tôi thấy rõ sự lúng túng và xấu hổ của Hà, cô loay hoay níu kéo thời gian, đôi chân vẫn khép kín khiến người y sĩ phải lên tiếng, yêu cầu cô dạng chân to ra. Hà đành dạng chân một cách miễn cưỡng và tôi thấy… tôi hoa mắt… quay cuồng…

“Một đóa hoa đỏ”! Vâng, nói chính xác hơn phần kín của cô không khác gì một đóa hoa dâm bụt nở đỏ toang toác. “Nhụy hoa” vàng vàng là những viêm loét đầy máu và mủ. Bức tranh với “đóa hoa” hiện thực ấy đập thẳng vào mắt tôi, dội vào tim tôi sự sững sờ, thảng thốt…

Hà khóc!

Hai hàng lệ đua nhau chảy dài trên đôi mắt đẹp, môi cô mím lại, hàm răng cắn chặt kìm nén sự thổn thức, kìm nén tiếng rên la, đau buốt khi người y sỹ dùng kẹp bông chậm chậm, lau và bôi thuốc tròn xung quanh “đóa hoa”. Tôi thấy cô gồng mình, đôi chân dang rộng run lẩy bẩy, đầu cô nhấc lên rồi lại hạ xuống, đôi mắt ướt nhòe nhoẹt tràn ngập những dòng lệ. 

Hà cũng khiến tôi phải khóc! Tim tôi như bị ai đó bóp chặt, tôi cũng nghẹn ngào theo sự đau đớn của Hà.

Lần đầu tiên trong cuộc đời, tôi chứng kiến một người đàn bà với vùng kín khác hẳn hoàn toàn những người đàn bà khác. Nó dội vào tâm trí tôi sự sợ hãi và ngỡ ngàng, tôi không hiểu và không thể giải thích được tại sao Hà lại bị thế này? Hà đã mắc bệnh gì? Loại bệnh gì mà có thể tàn phá cơ thể con người ta một cách khủng khiếp như vậy?

Vài phút sau Hà đứng dậy đi về phòng, bước chân cô khó nhọc, tập tễnh, thân hình mảnh khảnh chầm chậm đi lướt qua mặt tôi, trong ánh nhìn vẫn ngơ ngác và sững sờ của cô quản giáo trẻ tuổi.

Người y sĩ đập nhẹ vào vai tôi, cái chạm vai khiến tôi bừng tỉnh. Anh mỉm cười hiền lành đưa miếng khăn giấy để tôi lau nước mắt, kéo tôi ngồi xuống ghế và anh giúp tôi hiểu.

Ở đây nhiều lắm những phụ nữ có số phận thật đáng thương. Kết quả xét nhiệm đầu tiên của các học viên tôi đang quản lý thì có tới 90% là dương tính với HIV, hầu hết đều mắc bệnh lậu, hắc lào, giang mai, may mắn hơn thì chỉ bị huyết trắng…

Trong số các học viên, tôi xót thương nhất là Hà, cô ấy còn nhỏ tuổi mà có số phận thật oan nghiệt.

Hà là gái miền Tây, cha mẹ ly hôn sớm, cô sống chung với Mẹ và Dượng. Người đàn ông của mẹ Hà đã cưỡng hiếp đứa con gái riêng của vợ và khiến nó nhục nhã, xấu hổ phải bỏ nhà đi lang thang. Hà trôi dạt và hành nghề mại dâm ở cửa khẩu biên giới Hà Tiên – Campuchia. Cô được đưa vào trung tâm này đã gần một năm, mắc bệnh Giang mai giai đoạn nặng nên vùng kín mới lở loét như vậy.

Tôi chưa thấy cô gái nào chịu đau giỏi như Hà. Vết thương ấy sẽ là sự đau đớn khủng khiếp của các cô gái khác, sẽ khiến các cô ấy gào khóc, rên la thảm thiết mỗi khi làm sạch và bôi thuốc cho vết thương. Riêng với Hà, cô ấy luôn cắn chặt răng, nước mắt đầm đìa nhưng nhất định không rên la một lời.

Tôi thấy rõ sự chịu đựng, dồn nén nỗi đau trong dáng vóc mảnh mai của cô bé. Hà chọn cách sống cô độc và lủi thủi trong trại. Cô không thân thiết với bất kỳ ai, rất ít khi mở miệng nói chuyện hay mỉm cười. Đôi mắt lúc nào cũng buồn thăm thẳm và đăm đăm nhìn về phía xa xa. Tôi không biết lúc ấy Hà đang nghĩ gì, tôi chỉ thấy cô thanh thoát như một nàng tiên bé bỏng và trơ chọi khi lạc bước đường về thiên đình.

Khó khăn lắm tôi mới tiếp cận được Hà, để nghe trọn vẹn câu chuyện đời cô và hiểu sâu hơn về những mảnh vá, vết sẹo chằng chịt trong cuộc sống của mỗi người.

Hà không trách giận mẹ và cũng không còn oán hận người đàn ông đã đẩy cô vào bước đường lầm lỡ. Khi sa chân và trở thành gái mại dâm thứ thiệt, cô mới hiểu rõ hơn về đàn ông, về sự cám dỗ tình dục mà họ rất khó lòng, thật sự khó khăn khi kìm nén dục vọng để giữ được đạo đức luân lý.

Người cha Dượng của Hà, ông đã không thể vượt qua được sự thèm khát bản năng của một “con đực”, khi thấy Hà ngày càng phổng phao và mơn mởn trong cái tuổi mới lớn. Mẹ của cô, một người đàn bà quê mùa, chân chất và hiền dịu đã không đủ kiến thức và tâm lý để ngăn ngừa những hậu quả có thể xảy ra, khi bà luôn phải vắng nhà với công việc đồng áng.

Hà thương mẹ, Hà tủi nhục cho phận mình. Cô tuyệt vọng trong nỗi đau bị dày vò khi bị chính người cô coi như Cha ruột cướp đi mất đời con gái. Ông ta vứt bỏ cô dưới nền nhà đất, thỏa mãn, quay lưng bỏ đi, để lại trong lòng cô một bầu trời vần vũ những áng mây đen, để lại sự hoang mang, sợ hãi và oán hận. Cô đã liều lĩnh bỏ nhà đi ngay từ khoảnh khắc đó, trên người chỉ mặc duy nhất một bộ đồ, cô trốn chạy ra khỏi ngôi nhà, trốn chạy sự thật đau đớn và cô muốn chôn chặt cái bí mật “khốn nạn” này chỉ với suy nghĩ đơn giản, cô không muốn phá vỡ cuộc sống và hạnh phúc của mẹ!

Tôi hỏi Hà, liệu ngày được ra trại, cô có trở về với mẹ không? Cô sẽ đối diện với người đàn ông đã phá hoại đời cô thế nào? Cô không oán hận đồng nghĩa là cô đã tha thứ cho họ? Nếu có một điều ước, cô sẽ ước điều gì?

Hà mỉm cười, một nụ cười nhẹ mỏng như sương khói, cô nhìn thẳng vào mắt tôi rồi chậm rãi trả lời:

– Cô à, nếu có một điều ước, con ước được chết ngay lập tức! 

– Xin đừng đưa con về nhà, hãy cho con được yên nghỉ ở kia (tay Hà chỉ về phía chân đồi xa xa, nơi không có bóng người, nơi cô thường dõi đôi mắt mơ màng nhìn về hướng vô định)…

– Bởi con đã khẩn nguyện:

KIẾP SAU KHÔNG MUỐN LÀM NGƯỜI!

Link phần 1:

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=10220944700871729&id=1367142784

P/s: Hình nàng thẫn thờ sau khi viết xong câu chuyện

TRƯỜNG CAI NGHIỆN (1): PHƯỢNG!

Bạch Cúc

Phượng có mái tóc đen dài, mượt và óng ả. Đó là thứ quý giá nhất trên cơ thể mà cô còn giữ lại được sau những tháng ngày buông trôi vào con đường nghiện ngập.

Tôi thích mái tóc của Phượng, cô là người duy nhất khiến tôi luôn cố gắng dành thời gian chải tóc cho Phượng vào mỗi buổi chiều khi có gió về. Gió làm xới tung mái tóc của Phượng, gió làm tôi và Phượng xích lại gần nhau. Một mái tóc dài ngồi thoai thoải, bình an đón nhận sự chăm sóc vuốt ve từ những nhát lược vụng về nhưng ăm ắp sự yêu thương của cô quản giáo trẻ tuổi. Bậc thềm trước cửa phòng là nơi tôi ngồi tỉ mỉ chải tóc, tết tóc cho Phượng và lắng nghe Phượng kể về đời Phượng. Đó là cuộc đời của một “cô điếm” đẹp và có học đầu tiên mà tôi gần gũi.

Tôi công nhận Phượng đẹp thật, làn da vàng ệch lấm chấm chi chít đầy mụn trứng cá bởi tác hại của ma túy và những biến đổi sau giai đoạn cắt cơn. Nhưng, không thể che đi được cái mũi thanh tú và đôi mắt đúng kiểu mắt phượng. Một đôi mắt có đuôi dài, ươn ướt nước, ươn ướt sự lẳng lơ vô ý và sự mơn trớn của một con mèo hoang dại.

Phượng dẫn dắt tôi trải nghiệm cuộc đời bằng ký ức của Phượng. Tôi hình dung ra được muôn vàn lý do để khiến một đứa con gái lỡ bước sa chân và phải bằng lòng với số phận làm điếm của mình. Đa số chẳng phải vì tiền bởi với các cô gái làm nghề này: tiền chẳng có giá trị gì vì có bao nhiêu cũng chẳng đủ!

Phượng giúp tôi hiểu về số phận, hiểu lý do đẩy đưa khiến những cô gái chấp nhận việc “nâng mông và cúi mặt” trên giường đôi khi rất đơn giản nhưng quả thật là chua cay! Họ quăng đi thân xác họ đôi khi không phải vì nghèo đói mà chỉ vì những bất mãn với gia đình và với xã hội quanh họ.

Họ ngạo nghễ ngẩng cao đầu, đáp trả lại “ân tình” mà cuộc đời dành cho họ bằng đức hạnh của một con điếm!

Họ tự hào họ còn hơn khối những kẻ gian tham, hơn hẳn những thằng cướp cạn. Giá trị của họ đáng giá hơn giá trị của những người lãnh đạo luôn bày ra đủ loại chiến dịch để lùa họ vào trại phục hồi nhân phẩm. Mặc dù, có thể chỉ mới đêm qua thôi, những con người ấy còn nằm dài bên trên và ngấu nghiến thọc sâu vào mình họ…!

Phượng nôn nao khi biết ngày tôi sắp trở lại thành phố. Cô loay hoay viết một lá thư thật dài cho ông Nội, người mà cô mong nhớ và trân trọng nhất trong tất cả những người đã đóng góp công sức nhào nặn nên thân xác và cuộc đời của cô! Cô chẳng thương cha cũng chẳng nhớ về mẹ, đôi khi còn chút oán giận hai con người đã lỡ có công sinh mà chẳng chịu ráng thêm một chút giáo dục cô, thấu hiểu cô và biết cô cần những gì ở họ.

Đáng tiếc là tôi không giữ được bức thư của Phượng, tôi chỉ hoàn thành được một phần mong ước của cô, tôi giúp cô nắm chặt bàn tay ông, và lời hứa sẽ hoàn lương của cô, khi tôi tìm được nhà ông bằng tất cả trí nhớ còn sót lại sau sự mô tả của Phượng.

Những gì tôi góp nhặt được trong những tháng ngày ở nơi ấy đã bị người ta xé tan nát trước khi tôi quẩy ba lô, bước qua cổng và hùng dũng trở về nơi tôi đã xuất phát. Mọi địa chỉ, nhật ký, thư từ tôi chỉ còn lưu giữ bằng ký ức khắc khoải của mình. Quãng thời gian đó đã cho tôi thật nhiều bài học, nó cho tôi biết phía bên kia chân trời màu gì và xã hội này xây dựng giá trị con người bằng những loại đạo đức giả tạo nào?…

Trong lúc tôi đang “trình bày” và chuẩn bị ghi nhận khuyết điểm với Trưởng khu bởi sự non nớt, sự gần gũi quá mức của mình với học viên thì nghe tiếng ồn ào huyên náo tại lán trại nơi tôi quản lý. Bỏ mặc bài giảng dang dở với cái miệng chu chu nhòn nhọn của anh Trưởng, tôi cắm đầu chạy thật nhanh về thì thấy Phượng đã nằm sóng sượt, miệng mũi cô đỏ lòm toàn máu là máu. Mái tóc đen dài của Phượng rối tung và bê bết cát với sự la ó, chỉ chỏ của “50 con Đại bàng đường phố”!

Thấy tôi Phượng òa khóc tức tưởi, cô nức nở như một đứa trẻ oan ức bị đòn, máu và nước mắt chan hòa thấm ước một khoảnh trước ngực áo Phượng. Tôi sững sờ và choáng váng như bị chính ai đó vừa tát thẳng một cái mạnh vào mặt:

– Ai? Ai đã đánh Phượng?

– Con, con đã đánh Phượng đó! 

– Cũng chỉ tại cô thôi!

Một đứa con gái, mà không, một thằng con trai thì đúng hơn vì nhìn nó tôi chẳng thể nào biết nó đã biến thành trai từ lúc nào bởi dáng dấp ngang ngạnh và mái tóc húi cua sát gáy.

– Tại sao là tại cô?

– Tại cô thương nó, cô chải tóc cho nó mỗi ngày, cô quan tâm nó hơn tụi con nên nó đáng bị ăn đòn!

Tôi ngồi bệt xuống nền gạch, thẫn thờ, lòng tôi còn rã rượi hơn mái tóc của Phượng. Phượng đã lấy tóc để che mặt, che đi cái răng cửa đã bị đấm văng đâu mất , che những hờn ghen vụn vặt đáng thương ở một nơi chắc hẳn phải khuất xa và rất khác một cuộc đời bình thường…

Tôi nhìn về nơi có rừng cây trải dài tăm tít một màu trắng, nơi có mùi hương hoa Cà phê tỏa ngát vào sáng sớm và mỗi buổi chiều. Nơi có một con suối lạnh ngắt đỏ oạch toàn bùn và đất. Hình như lúc này đây bùn đang xối xả đổ vào lòng tôi, chẳng khác gì những buổi tắm đêm mặc dù tôi đã cố gắng gạn lọc nước nhưng đầu tóc và mình mẩy vẫn đỏ quệt. Bùn thẫm đẫm vào lòng tôi bài học đầu tiên, bài học của tình yêu thương và sự san sẻ chưa đúng cách…

Yêu thương cũng rất cần công bằng, thật thế!

CUNG ĐƯỜNG BẮC -NAM NƯỚC MỸ phần 3

Tiểu bang WISCONSIN thành bình và hoang dã nằm ở trung bắc nước Mỹ bên bờ hồ Michigan đã mang lại những cảnh quan tự nhiên tươi đẹp làm say lòng du khách bốn phương ,ở đây nổi tiếng với phô-mai ,kem ,beer,trái việt quất .

Trịnh Công Sơn qua cái nhìn của một chỉ huy tình báo Việt Nam Cộng hoà

Bùi Văn Phú

[Bài này đã đăng trên talawas.org ngày 1/4/2008]

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mất ngày 01.4.2001. Mấy trăm người đưa ông đến nơi an nghỉ cuối cùng ở Nghĩa trang Gò Dưa, Bình Dương. Khi những cành hoa, nắm đất được ném xuống mộ phần, đoàn người tiễn ông vào lòng đất mẹ đã cất tiếng đồng ca:

Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi

để một mai vươn hình hài lớn dậy

ôi cát bụi phận này

vết mực nào xoá bỏ không hay

Từ đó, mỗi năm đến ngày giỗ Trịnh Công Sơn trong và ngoài nước đều có sinh hoạt tưởng niệm.

Trước đây những sinh hoạt này ở hải ngoại diễn ra tốt đẹp. Năm nay có nhiều thông tin phổ biến kêu gọi biểu tình phản đối và tẩy chay những chương trình như thế.

Ở Texas ngày 23.3 đã có chương trình “Như cánh vạc bay” do Đài phát thanh V.O.V.N. – Tiếng nói Việt Nam tại Houston (1110 AM) tổ chức với 1.400 khán giả đến nghe Khánh Ly, Tuấn Ngọc, Trần Thu Hà, Quang Tuấn hát nhạc Trịnh, dù nhiều hội đoàn cựu quân nhân người Việt đã ra thông báo phản đối.

Nam California có nhóm The Friends đã mấy lần tổ chức văn nghệ giỗ Trịnh Công Sơn ở hai miền nam bắc California với những tiếng hát gắn liền với nhạc Trịnh là Khánh Ly, Cẩm Vân cùng những giọng ca trẻ sau này. Năm nay nhóm thực hiện chương trình “Đoá hoa vô thường” vào tối ngày 29.3 ở Thành phố Garden Grove, Nam California. Có hơn trăm người đã biểu tình trước cửa thính đường.

Tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt tối ngày 1.4 dự định cũng có một chương trình do Nhóm Hướng Dương thực hiện với chủ đề: “Ngồi lại với nhau: Trịnh Công Sơn và tây ban cầm” với tiếng đàn Nguyễn Xuân Thao. Tuy nhiên ban tổ chức vừa ra thông báo rời chương trình đến một thời điểm khác chưa định.

Một thông báo phổ biến ngày 21.3.2008 của Cộng đồng Việt Nam – Nam California và Ủy ban Bảo vệ & Phát huy Chánh nghĩa Quốc gia kêu gọi đồng hương tham gia biểu tình: “là một sự phản kháng mạnh mẽ của tập thể người Việt tị nạn cộng sản đối với những âm mưu vinh danh Trịnh Công Sơn, một tên cộng sản nằm vùng tiếp tay với cộng sản Hà Nội và phản bội công cuộc tranh đấu của đồng bào miền Nam Việt Nam”.

Bản thông báo nhấn mạnh: “Trình diễn nhạc Trịnh Công Sơn là tiếp tay thực thi Nghị quyết 36 của cộng sản Việt Nam trong mặt trận giao lưu văn hóa một chiều, phản lại anh linh của hằng trăm ngàn dân quân cán chính đã hy sinh để bảo vệ miền Nam Việt Nam và đồng bào bỏ mình trên biển cả trên đường tìm tự do, là nhắc lại những uất hận trong các trại tù cải tạo và những đau thương triền miên của dân tộc Việt Nam đến ngày hôm nay dưới sự thống trị của Đảng Cộng sản Việt Nam”.

Từ Houston, Texas, ngày 22.03 Tổng hội cựu Chiến sĩ Quân lực Việt Nam Cộng hoà trong một thông báo đã đưa ra những nhận định sau:

– Trịnh Công Sơn là văn nô của cộng sản Việt Nam;

– Trịnh Công Sơn đã cộng tác và được chế độ cộng sản Việt Nam ưu đãi;

– Trình diễn ca nhạc Trịnh Công Sơn là tiếp tay cho Nghị quyết 36 của cộng sản Việt Nam dưới chiêu bài tuyên vận, ru ngủ tinh thần đấu tranh của Cộng đồng Người Việt Quốc gia tị nạn cộng sản tại hải ngoại.

Cũng từ Texas, tuyên cáo của Ủy ban Phát huy Chính nghĩa Quốc gia vùng Dallas có những nhận xét như sau về nhạc sĩ họ Trịnh:

“Ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Trịnh Công Sơn công khai lên đài phát thanh Sài Gòn kêu gọi các nghệ sĩ ca nhạc hát bài ‘Nối vòng tay lớn’ để mừng chiến thắng của cộng sản Việt Nam cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam.

Sau năm 1975, Trịnh Công Sơn đã được chính quyền cộng sản Việt Nam đề cao, nâng đỡ, cung cấp nhà cửa và cho xuất ngoại qua Nga Sô, viết nhạc ‘Ánh sáng Mạc Tư Khoa’ để ca ngợi Lenin và xã hội chủ nghĩa cộng sản quốc tế.

Trịnh Công Sơn công khai viết trên tờ Sài Gòn Giải phóng tiết lộ đã vào mật khu Việt cộng để tiếp xúc công tác với Mặt trận Giải phóng miền Nam trong thời gian chiến tranh Việt Nam.”

*

Tôi đã viết nhiều bài về nhạc Trịnh Công Sơn, mà tôi gọi là những bài hát cho hoà bình Việt Nam. Một số độc giả gửi thư phản bác với luận cứ như những thông báo, tuyên cáo dẫn trên, ngoại trừ việc nhắc đến Nghị quyết 36 vì thời điểm 15, 20 năm trước chưa có nghị quyết này.

Tôi không bênh vực cho Trịnh Công Sơn là cộng sản hay không cộng sản, nhất là vào thời điểm trước năm 1975 khi tôi chưa đến tuổi đôi mươi, không biết nhiều về chính sách trí vận hay văn hoá vận của những bên can dự trong cuộc chiến tranh trên quê hương mình.

Sự xuất hiện của Trịnh Công Sơn và Khánh Ly trong giai đoạn của cuộc chiến tranh tại Việt Nam đã được giới truyền thông nước ngoài ví như đôi danh ca Bob Dylan và Joan Baez ở Mỹ với những ca khúc kêu gọi chấm dứt chiến tranh làm rung động bao triệu trái tim người Việt Nam, nhất là tầng lớp thanh niên, là những người sẽ phải đối diện với chiến tranh, với cái chết hơn ai hết.

Tôi cũng như bao nhiêu thanh niên Việt Nam khác mê nhạc Trịnh, thuộc nhạc Trịnh vì lời ca ông viết ra là những con chữ đã xoáy xoay vào tâm thức tuổi trẻ chúng tôi trong giai đoạn đất nước có nhiều nghịch lí. Nhạc Trịnh đến với chúng tôi nhờ vào những phương tiện truyền thông đại chúng, từ sân trường học, trong quán cà phê và nhất là nhờ có một chính sách văn hoá thông tin không bị kiểm duyệt khắt khe ở miền Nam Việt Nam vào thời bấy giờ.

Theo tôi nghĩ, nếu Trịnh Công Sơn có quan hệ và hoạt động cho cộng sản thì cũng đã bị bắt giam như Huỳnh Tấn Mẫm, Ngô Kha, như Dương Văn Đầy, Nguyễn Công Khế hay phải vào bưng biền như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo. Ngược lại, dù trốn lính, Trịnh Công Sơn đã được nhiều quan chức trong giới lãnh đạo miền Nam che chở, như Đại tá Không quân Lưu Kim Cương, mà khi ông tử trận trong một cuộc giao tranh vào tháng 5 năm Mậu Thân ở vòng đai phi trường Tân Sơn Nhất, Trịnh Công Sơn đã viết lên những lời ca bất tử:

Anh nằm xuống

sau một lần đã đến đây

đã vui chơi trong cuộc đời nầy

đã bay cao trong vòm trời đầy

rồi nằm xuống

không bạn bè không có ai

không có ai từng ngày

không có ai đời đời

ru anh ngủ vùi mùa mưa tới

trong nghĩa trang này có loài chim thôi

Anh nằm xuống cho hận thù vào lãng quên

tiễn đưa nhau trong một ngày buồn

đất ôm anh đưa vào cội nguồn

rồi từ đó trong trời rộng đã vắng anh

như cánh chim bỏ rừng, như trái tim bỏ tình

nơi đây một lần nhìn anh đến

những xót xa đành nói cùng hư không

Bạn bè còn đó anh biết không anh

người tình còn đây anh nhớ không anh

vườn cỏ còn xanh, mặt trời còn lên

khi bóng anh như cánh chim chìm xuống.

Vùng trời nào đó anh đã bay qua

chỉ còn lại đây những sáng bao la

người tình rồi quên, bạn bè rồi xa

ôi tháng năm những dấu chân người cũng bụi mờ

Anh nằm xuống

như một lần vào viễn du

đứa con xưa đã tìm về nhà

đất hoang vu khép lại hẹn hò

người thành phố

trong một ngày đã nhắc tên

những sớm mai lửa đạn

những máu xương chập chùng

xin cho một người vừa nằm xuống

thấy bóng thiên đường cuối trời thênh thang.

Năm ngoái, phim Đất khổ, thực hiện năm 1973 dưới thời Việt Nam Cộng hoà đã được phát hành, trong đó Trịnh Công Sơn diễn vai chính là một nhạc sĩ, Trịnh Quân, phản ánh khá thực con người của ông về hoàn cảnh sống và những sáng tác cho hoà bình Việt Nam: “Tôi sẽ đi thăm”, cho những goá phụ của cuộc chiến: “Em đi qua chiều” và mong ước xây dựng quê hương đổ nát sau chiến tranh: “Dựng lại người, dựng lại nhà”. Trong phim, người nhạc sĩ họ Trịnh còn là một con người Việt Nam có tình thân ái và lòng quí mến người Mỹ, dù là một anh Mỹ lính đào ngũ sa cơ thất thế. Nếu Trịnh Công Sơn là con người cộng sản, ông đã không nhận đóng phim này.

Sau này Trịnh Công Sơn có những cơ hội đến Mỹ nói chuyện âm nhạc nhưng ông không đi, ngay cả khi gần cuối đời có nhiều người quí mến muốn đưa ông đến Hoa Kỳ chữa bệnh, nhưng ông một mực từ chối. Tại sao thế?

Đã có nhiều bài viết về con người chính trị của Trịnh Công Sơn, nhưng tựu chung vẫn còn là những điều khó hiểu.

Bà Đặng Tuyết Mai, nguyên là phu nhân của cựu Thủ tướng Việt Nam Cộng hoà Nguyễn Cao Kỳ, vài năm trước đã phát biểu là Trịnh Công Sơn không theo cộng sản.

Mới đây, trong hồi kí nhan đề N.D.B. [1] , ông Nguyễn Mâu, cựu đại tá cảnh sát, là cấp chỉ huy tình báo Việt Nam Cộng hoà từ 1968 đến 1972, có đưa ra những sự việc, nhưng không dẫn đến kết luận vững vàng cho thấy Trịnh Công Sơn có hay không hoạt động cho cộng sản.

Ông Mâu kể chuyện vào năm 1969 Trịnh Công Sơn bị một đơn vị cảnh sát bắt giao cho Ngành Đặc biệt và chính ông đã nói chuyện với Trịnh Công Sơn. Qua buổi nói chuyện đầu tiên, ông Mâu có cảm tưởng Sơn không phải là người cộng sản. Khi hỏi thẳng Sơn có hoạt động trí vận, có viết nhạc theo chỉ thị, có hoạt động cho hội văn nghệ sĩ yêu nước, thì câu trả lời của Sơn là không.

Ông kể cho Sơn nghe về những tài liệu ông có được cho thấy chính Bộ Chính trị miền Bắc mới lo sợ bộ đội cộng sản nghe nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn và chính phía chính quyền miền Nam đã cho phát thanh những bài nhạc này, với tiếng hát Khánh Ly, từ máy bay xuống dọc đường mòn Hồ Chí Minh để cho bộ đội nghe, cụ thể là bài “Gia tài của Mẹ”. Kể xong ông Mâu hỏi Sơn nghĩ sao về chuyện này?

Người nhạc sĩ không trả lời, nhưng trên nét mặt “sáng rỡ, niềm vui không giấu giếm, mắt long lanh hàm chứa sự thích thú và hài lòng đến cùng độ. Chúng tôi không nghĩ rằng anh vui mừng vì có tinh thần chống cộng cao độ. Chúng tôi cũng không nghĩ anh giả vờ vui để tỏ ý chống cộng trước một viên chức thuộc ngành công an. Anh đã vui vì tâm tư và ý tưởng đối với quê hương tang tóc, về một cuộc chiến tương tàn cần phải chấm dứt đã được gửi gắm đi xa, qua làn sóng điện đến với những người có trách nhiệm”. (N.D.B. tr. 222)

Tác giả Nguyễn Mâu ghi lại lời Trịnh Công Sơn nói với ông:

“Tôi không kêu gọi họ buông súng hay mang súng trở về như Bộ Chiêu hồi, nhưng tôi đã làm việc ấy một cách tế nhị và rất thâm trầm như bài ‘Lại gần với nhau’ với lời nhạc ‘… đừng bỏ tôi… đừng bỏ tôi… đi hai mươi năm qua… còn gì cho anh… còn gì cho tôi… không còn gì… không còn gì… còn lại chiến tranh… hai mươi năm chinh chiến mẹ ngủ không yên…’ Và còn nhiều nữa, tôi đã nói thẳng với họ hãy vượt mọi trấn áp, từ bỏ rừng núi… mà trở về cùng với dân tộc đang chịu quá nhiều đoạ đầy thống khổ như bài ‘Nối vòng tay lớn’ với câu kết luận ‘Vượt thác cheo leo… hay ta vượt đèo… từ quê nghèo lên phố lớn… nắm tay nối liền biển xanh sông gấm… nối vòng tay lớn…’ Tôi đã nói chuyện với họ như bằng hữu, như anh em chứ không phải như ông Bộ trưởng Chiêu hồi. Phương cách của tôi theo tôi nghĩ có thể thích hợp và được họ vui vẻ chấp nhận và lĩnh hội hơn. Tôi thương yêu và kính trọng họ thật, với tình người thật, với tinh thần ruột thịt thật và muốn trải với họ chút tâm sự thật. Tôi có thể bị công an, bị chính ông kết tội nhưng đó là sự thật tôi không giấu giếm. Cũng bằng cách này, tôi đã gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh cho những giới chức chỉ đạo chiến tranh của bên này và cả bên kia”. (sđd, tr. 223)

Tiếp xúc trực tiếp nhiều lần với Trịnh Công Sơn, tác giả Nguyễn Mâu có nhận xét: 

“Anh Sơn rất vô tư trong chính trị, với lập trường không thiên vị, không theo những người quốc gia triệt để mà cũng chẳng theo cộng sản. Qua những lời tâm sự, có thể anh đã phải tránh qua, né lại, lúc chường, lúc trốn, dù là bạn nhưng vẫn phải đối phó với Hoàng Phủ Ngọc Tường và vài người khác vốn là cơ sở trí vận cộng sản”. (sđd, tr. 224)

Theo tác giả, người nhạc sĩ này “là một nghệ sĩ có tâm hồn đang đau nhức với cái đau nhức của dân tộc và sáng tác vì cái đau nhức ấy”. (sđd, tr. 215)

Rồi ông Mâu nhắc đến Nguyễn Thanh Ty là tác giả của tập sách Về một quãng đời của Trịnh Công Sơn là một người gần gũi với Sơn ở trường sư phạm Qui Nhơn. 

Ông Ty nhận xét trong những năm chung sống với nhau không có dấu chỉ nào cho thấy Trịnh Công Sơn là Việt cộng. Nhưng những liên lạc, gặp gỡ giữa Trịnh Công Sơn với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong giai đoạn này, 1965-1969, còn là một dấu hỏi lớn và có thể đó là những thất bại của tình báo Việt Nam Cộng hoà mà ông Nguyễn Mâu có một phần trách nhiệm.

Tác giả Nguyễn Mâu đã tỏ ra ngạc nhiên khi nghe bài ca “Nối vòng tay lớn” đã được những “bọn chạy hiệu Ba mươi tháng Tư” diễn giải theo một nghĩa khác, không như ý của Trịnh Công Sơn trước đó ít năm.

*

Năm 1979, trước sự việc hằng trăm ngàn người Việt phải đi tù cải tạo sau chiến tranh, ca sĩ Joan Baez cùng với một trăm người khác đã kí tên trong một thư ngỏ, đăng trên các báo lớn ở Mỹ ngày 30.5.1979, kêu gọi Hà Nội tôn trọng nhân quyền. 

Khi đó phản ứng từ phía Việt Nam đưa ra những bài viết của Nguyễn Khắc Viện (“A Letter to Some American Friends”, Vietnam Courier, 7.79) và Lưu Quý Kỳ (“Ai đạo diễn cho nữ nghệ sĩ Gio-an Ba-ye”, Đại Đoàn Kết, 7.7.1979) để phản bác ca sĩ Baez đã thay đổi lập trường, phản bội lại nhân dân Việt Nam và việc làm của bà đang bị CIA lợi dụng. Trên báo của Việt kiều yêu nước xuất bản ở Canada, Trịnh Công Sơn cũng đã lên tiếng về bức thư ngỏ của Joan Baez như là một việc làm “tiếp tay cho tư bản thọc sâu lưỡi dao vào vết thương của dân tộc Việt Nam chưa được hàn gắn” (Đất Việt, 14.10.1979). Đó cũng là thời gian Trịnh Công Sơn ở Huế và sinh hoạt trong Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế với Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Ngày đó tôi có đặt dấu hỏi rằng tại sao một nhạc sĩ tài ba, rất bén nhậy trước nỗi đau, trước những chia lìa của con người đã viết nhiều ca khúc nói lên nỗi thống khổ của quê hương, vậy mà sau ngày đất nước hoà bình, thống nhất mà con người Việt Nam vẫn còn phải tiếp tục kinh qua đau khổ, mất mát nhưng ông lại không viết lên được một lời ca nào. Chuyện học tập cải tạo, chuyện vượt biên, vượt biển, những cái chết vì bom mìn mà thanh niên Việt phải tiếp tục hi sinh để làm nghĩa vụ quốc tế ở đất nước láng giềng không làm rung động được con tim của ông như thời chiến tranh nữa sao?

Đầu thập niên 1980, một tình ca mới của Trịnh Công Sơn được truyền ra hải ngoại, bài “Em còn nhớ hay em đã quên”. Bài nhạc có sức thu hút ngay vì ai xa quê hương mà lòng không day dứt nhớ về chốn cũ.

Em còn nhớ hay em đã quên

nhớ Sài Gòn mưa rồi chợt nắng

nhớ phố xưa quen biết tên bàn chân

nhớ đèn đường từng đêm thao thức

Sáng che em vòm lá me xanh

Em còn nhớ hay em đã quên

bên hàng xóm đôi khi ghé thăm

có hai mùa vẫn đi về

có con đường nằm nghe nắng mưa

Em ra đi nơi này vẫn thế

lá vẫn xanh trên con đường nhỏ

vườn xưa vẫn có tiếng Mẹ ru

có tiếng em thơ

có chút nắng trong tiếng gà trưa

Em còn nhớ hay em đã quên

nhớ đường dài qua cầu lại nối

nhớ những con kênh nối hai dòng sông

nhớ ngựa thồ ngoại ô xa vắng

nỗi xôn xao hàng quán đêm đêm

Em còn nhớ hay em đã quên

trong lòng phố mưa đêm trói chân

dưới hiên nhà nước dâng tràn

phố bỗng là dòng sông uốn quanh

Em còn nhớ hay em đã quên

nhớ Sài Gòn những chiều ngợp gió

lá hát như mưa suốt con đường đi

có mặt đường vàng hoa như gấm

có không gian màu áo bay lên

Em còn nhớ hay em đã quên

khi chiều xuống bên sông nước lên

én nô đùa giữa phố nhà

có nắng vàng lạc trên lối đi

Em ra đi nơi này vẫn thế

vẫn có em trong tim của mẹ

thành phố vẫn có những ước mơ

vẫn sống thiết tha

vẫn lấp lánh hoa trên đường đi

Em còn nhớ hay em đã quên

nhớ Sài Gòn những chiều gặp gỡ

nhớ món ăn quen nhớ ly chè thơm

nhớ bạn bè chào nhau quen tiếng

phố em qua gạch ngói quen tên

Em còn nhớ hay em đã quên

quê nhà đó bao năm có em

có bóng dừa có câu hò

có con đò chở mưa nắng đi

Sau đó là bài “Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui”

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

chọn những bông hoa và những nụ cười

tôi nhặt gió trời mời em giữ lấy

để mắt em cười tựa lá bay

Mỗi ngày tôi chọn đường mình đi

đường đến anh em đường đến bạn bè

tôi đợi em về bàn chân quen quá

thảm lá me vàng lại bước qua

Và như thế tôi sống vui từng ngày

và như thế tôi đến trong cuộc đời

đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi

Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui

cùng với anh em tìm đến mọi người

tôi chọn nơi này cùng nhau ca hát

để thấy tiếng cười rộn rã bay

Mỗi ngày tôi chọn một lần thôi

chọn tiếng ru con nhẹ bước vào đời

tôi chọn nắng đầy, chọn cơn mưa tới

để lúa reo mừng tựa vẫy tay

Và như thế tôi sống vui từng ngày

và như thế tôi đến trong cuộc đời

đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi

Mỗi ngày tôi chọn ngồi thật yên

nhìn rõ quê hương, ngồi nghĩ lại mình

tôi chợt biết rằng vì sao tôi sống

vì đất nước cần một trái tim

*

Trong di sản âm nhạc Trịnh Công Sơn để lại, ca từ trong bài “Gia tài của Mẹ” có lẽ vẫn còn tiếp tục làm rung động con tim người Việt với hệ lụy chiến tranh và tương lai đất nước.

Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu

một trăm năm đô hộ giặc Tây

hai mươi năm nội chiến từng ngày

gia tài của mẹ, một rừng xương khô

gia tài của mẹ, một núi đầy mồ

Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu

một trăm năm đô hộ giặc Tây

hai mươi năm nội chiến từng ngày

gia tài của mẹ, ruộng đồng khô khan

gia tài của mẹ, nhà cháy từng hàng

Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu

một trăm năm đô hộ giặc Tây

hai mươi năm nội chiến từng ngày

gia tài của mẹ, một bọn lai căn

gia tài của mẹ, một lũ bội tình.

Một ngàn năm nô lệ giặc Tầu

một trăm năm đô hộ giậc Tây

hai mươi năm nội chiến từng ngày

gia tài của mẹ để lại cho con

gia tài của mẹ là nước Việt buồn

Dậy cho con tiếng nói thật thà

mẹ mong con chớ quên mầu da

con chớ quên mầu da nước Việt xưa

mẹ mong con mau bước về nhà

mẹ mong con lũ con đường xa

ôi lũ con cùng cha quên hận thù

Lời ca này và nhiều ca khúc khác có trong bài viết “Cuộc hành trình làm người Việt Nam qua Trịnh Công Sơn” của Thế Uyên in trong tập đoản văn Đoạn đường chiến binh (tr. 101-117) xuất bản năm 1970 ở Sài Gòn.

Sau ngày Trịnh Công Sơn mất, trong nước đăng lại bài này trong tuyển tập “Trịnh Công Sơn: cuộc đời, âm nhạc, thơ, hội hoạ và suy tưởng” (tr. 193-200), nhưng cắt bỏ những câu đầu của bài hát, chỉ giữ 6 câu cuối, vì lãnh đạo Việt Nam không chấp nhận cuộc chiến đã qua là nội chiến, như Trịnh Công Sơn đã nhìn như thế.

Nhiều đoạn văn của Thế Uyên nhắc đến sự can dự cuả ngoại bang Nga-Mỹ-Tầu và bản chất phi lí của cuộc chiến cùng một số ca từ khác của Trịnh Công Sơn trong bản gốc cũng đã bị cắt bỏ, như “Ngày dài trên quê hương”, “Tình ca người mất trí”.

*

Bàn về con người chính trị của Trịnh Công Sơn là một đề tài gây nhiều tranh cãi.

Ở đây tôi chỉ muốn đưa ra nhận xét là nếu Trịnh Công Sơn không sống ở miền Nam thì những “Kinh Việt Nam”, “Ca khúc da vàng”, “Ta phải thấy mặt trời”, “Thần thoại quê hương – tình yêu và thân phận” và những băng nhạc Hát cho quê hương Việt Nam với tiếng hát Khánh Ly đã không được ra đời và tài năng của Trịnh Công Sơn nếu rơi vào chế độ miền Bắc thì cũng chung số phận như Văn Cao, như Trần Dần.

Trong những năm cuối đời, Trịnh Công Sơn sáng tác bài “Tiến thoái lưỡng nan” mà theo nhiều người thân với ông kể lại đó là phản ánh đúng con người chính trị của Trịnh Công Sơn nhất, là phải chịu đau thương giữa hai lằn đạn.

Gia tài âm nhạc Trịnh Công Sơn để lại, nhất là những bài ca cho hoà bình Việt Nam là những ca khúc đã làm nên tên tuổi Trịnh Công Sơn, chứ không phải những tình ca, đáng lí ra phải được tiếp tục hát lên, tiếp tục vinh danh vì nhờ có một xã hội tương đối tự do và có nhân bản mà những ca từ đó đã được khai sinh.

Ngày nay trong nước vẫn còn cấm phổ biến nhiều ca khúc vì hoà bình, trong khi hải ngoại phản đối tổ chức hát nhạc Trịnh, cả hai việc đều không thể hiện lí tưởng tự do nhân bản mà con người Việt Nam đã hằng ấp ủ và theo đuổi.

[ảnh trong bài của tác giả]

[1] Nguyễn Mâu, N.D.B. Ngành đặc biệt (Special Branch) Tập I, tác giả tự xuất bản, San Jose 2007

Phụ lục

1. Tôi sẽ đi thăm

Khi đất nước tôi thanh bình

tôi sẽ đi thăm

tôi sẽ đi thăm

một phố đầy hầm

đi thăm một con đường nhiều hố

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

bạn bè mấy đứa

vừa xanh nấm mồ

Khi đất nước tôi thanh bình

tôi sẽ đi thăm

tôi sẽ đi thăm

cầu gẫy vì mìn

đi thăm hầm chông và mã tấu

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường

Khi đất nước tôi thanh bình

tôi sẽ đi không ngừng

Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam

tôi đi chung cuộc mừng

và mong sẽ quên chuyện non nước mình.

Khi đất nước tôi thanh bình

tôi sẽ đi thăm

tôi sẽ đi thăm

đi thăm nhiều nghĩa địa buồn

đi xem mộ bia đều như nấm

Khi đất nước tôi không còn chiến tranh

mẹ già lên núi tìm xương con mình

Khi đất nước tôi thanh bình

tôi sẽ đi thăm

tôi sẽ đi thăm

làng xóm thành đồng

đi thăm từng khu rừng cháy nám

Khi đất nước tôi không còn giết nhau

mọi người ra phố mời rao nụ cười

Khi đất nước tôi thanh bình

tôi sẽ đi không ngừng

Sài Gòn ra Trung, Hà Nội vô Nam

tôi đi chung cuộc mừng

và mong sẽ quên chuyện non nước mình

2. Em đi trong chiều

Em đi qua cầu có gió bay theo

Thổi bùng khăn tang trắng giữa khung chiều

Em đi qua cầu có lá xôn xao

Một dòng sông sâu chở hồn thương đau

Em đi qua cầu chở chiều trên vai

Ngậm buồn trên môi trái tim đã hoài

Một người nằm xuống một người nơi đây

Em đi qua cầu một hồn mây bay

Em đi trong chiều một đời khôn nguôi

Một đời riêng ai mong ai.

Em đi qua cầu tiếng súng vang theo

Làng mạc quê hương có dáng buồn rầu

Em đi qua cầu có gió hiu hiu

Thổi lòng em xa đến mãi nơi nào

3. Dựng lại người, dựng lại nhà

Ta cùng lên đường

Đi xây lại Việt Nam

Bàn chân ta đi mau đi sâu vô tới rừng cao

Vác những cây rừng to

về nơi đây ta xây dựng nhà

Dựng làng mới cho dân ta về

Dựng nhà mới cho miền quê

Trên những con đường

Vang bước người dồn chân

Bàn chân ta lên non ra sông ra tới biển xanh

Gánh đá mang về Kinh

về nơi đây ta xây làm nền

Dựng nhà mới trên đổ nát này

Dựng đời mới trong nụ cười

Sức sống trong bàn tay trong bàn chân

Người đi lên bàn tay hăng

Nhà lớp lớp lớn trên Việt Nam

Nắng mới nung lòng anh nung lòng tôi

Dù mưa lên

Dựng thêm nhanh

Nhà trên non xuống đến đồng bằng

Ta cùng lên đường

Đi xây lại Tự do

Lòng người dân ta xưa hoang vu nay hết buồn lo

Những sớm mai Việt Nam

Tình ta bay theo sóng ngọn cờ

Dựng người mới như cây sang mùa

Người vượt tới những trời xa

Ta cùng lên đường

Đi xây lại tình thương

Lòng mẹ ta xưa kia bao la

như Thái Bình Dương

Những đứa con là sông

Mừng hôm nay xoá hết căm hờn

Mượn phù sa đắp trên điêu tàn

Lòng nhân ái lên nụ hồng

4. Lại gần với nhau

Lại gần gần lại với nhau

Ngồi gần nhau hơn

Ngồi kề bên nhau

Đừng bỏ tôi đi hai mươi năm rồi

Còn gì cho anh

Còn gì cho tôi

Còn gì cho em

Không còn gì

Không còn gì

Còn lại chiến tranh

Đêm Sông Hương nhung nhớ

Ngày Cửu Long mơ

mơ thấy gì

Mơ một ngày Hồng Hà góp Hội Trùng Dương

Đây quê hương trông ngóng

và mẹ chờ mong

mong những gì

Mong tìm lại một ngày giấc ngủ bình yên

Lại gần gần lại với nhau

Ngồi gần nhau hơn

Ngồi kề bên nhau

Từng hàng thương đau

Trên cây u sầu

Hạt rụng cho anh

Để lại cho em

Từ ngày mang tên

Sao còn buồn

Sao thù hằn

Tủi hờn đất đen

Gọi thầm gọi thầm với nhau

Gọi bằng tên anh

Gọi bằng tên em

Mặt trời quê hương

Soi chung da mình

Lại gần đi anh

Lại gần đi em

Lại gần nhau thêm

Không còn gì

Không còn gì

Còn lại trái tim

Hai mươi năm chinh chiến

Mẹ ngủ không yên

Quanh chúng mình

Ôi từng ngày tuổi này máu lạnh trong xương

Hai mươi năm tôi lớn

Thù hận vai mang

Chưa có lần

Chưa một lần tìm được giấc ngủ bình yên

Gọi thầm gọi thầm với nhau

Gọi thầm tên anh

Gọi thầm tên em

Thù hận xin quên

Đây quê hương mình

Còn gì đâu anh

Còn gì đâu em

Tuổi nhỏ cô đơn

Thôi đừng buồn

Thôi đừng buồn

Tủi lòng núi sông

5. Nối vòng tay lớn

Rừng núi dang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

Mặt đất bao la anh em ta về

Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng

Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam

Cờ nối gió đêm vui nối ngày

Dòng máu nối con tim đồng loại

Dựng tình người trong ngày mới

Thành phố nối thôn xa vời vợi

Người chết nối linh thiêng vào đời

Và nụ cười nối trên môi

Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay

Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi

Vượt thác cheo leo

Tay ta vượt đèo

Từ quê nghèo lên phố lớn

Nắm tay nối liền biển xanh sông gấm

Nối liền một vòng tử sinh

6. Ngày dài trên quê hương

Một người già trong công viên

Một người điên trong thành phố

Một người nằm không hơi thở

Một người ngồi nghe bom nổ.

Một người ngồi hai mươi năm

Nhìn hoả châu đêm rực sáng

Đàn trẻ nhỏ quen bom đạn

Người Việt nằm với vết thương.

Mẹ Việt nằm hai mươi năm

Xương da mềm

Đợi giờ sông núi thiêng

Một màu vàng trên da thơm

Nên giữ gìn màu lúa chín quê hương.

Một ngày dài trên quê hương

Ngày Việt Nam hoang tàn quá

Một ruộng đồng trơ đất đỏ

Một đàn bò không luống cỏ.

Một ngày dài trên quê hương

Người Việt Nam quên mình sống

Một ngục tù nuôi da vàng

Người Việt nằm nhớ nước non.

Ngày thật dài trong âu lo

Rồi từng đêm bom đạn phá

Người Việt nhìn sao xa lạ

Người Việt nhìn nhau căm thù.

Một ngục tù trên quê hương

Người Việt Nam quên nòi giống

Người từng ngày xây uất hận

Rồi từng ngày nát dấu bom.

Một ngày dài trên quê hương

Bầy trẻ thơ nay đã lớn

Một người già lo âu nhìn

Người già chờ cơn gió lặng

Một người ngồi hai mươi năm

Cuộc buồn vui ly rượu đắng

Người Việt nào da không vàng

Mẹ Việt nào nhớ xác con

7. Tình ca người mất trí

Tôi có người yêu

chết trận Pleimé

Tôi có người yêu

ở chiến khu D

chết trận Đồng Soài

chết ngoài Hà Nội

chết vội vàng dọc theo biên giới

Tôi có người yêu

chết trận Chu Prong

Tôi có người yêu

bỏ xác trôi sông

chết ngoài ruộng đồng

chết rừng mịt mùng

chết lạnh lùng mình cháy như than

Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam

Ngày gió lớn tôi đi môi gọi thầm

Gọi tên anh, tên Việt Nam

Gần nhau trong tiếng nói da vàng

Tôi muốn yêu anh yêu Việt Nam

Ngày mới lớn tai nghe quen đạn mìn

Thừa đôi tay, dư làn môi

Từ nay tôi quên hết tiếng người

Tôi có người yêu

Chết trận A sao

Tôi có người yêu

nằm chết cong queo

chết vào lòng đèo

chết cạnh hầm cầu

chết nghẹn ngào mình không manh áo

Tôi có người yêu

chết trận Ba Gia

Tôi có người yêu

vừa chết đêm qua

chết thật tình cờ

chết chẳng hẹn hò

không hận thù, nằm chết như mơ

8. Tiến thoái lưỡng nan

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận

Tình đôi ngập ngừng tiến thoái lưỡng nan

Mây bay khắp xứ chân mờ cõi xa

Vàng phai nhè nhẹ chiều hôm cửa nhà

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận

Ngày xưa lận đận tiến thoái lưỡng nan

Mây bay khắp xứ chân mờ cõi xa

Vàng phai nhè nhẹ chiều hôm cửa nhà

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận

Ngày xưa lận đận không biết về đâu

Về đâu cuối ngõ, về đâu cuối trời

Xa xăm tôi ngồi tôi tìm giấc mơ

Xa xăm tôi ngồi tôi tìm lại tôi

Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận

Ngày nay lận đận là giọt hư không

© 2008 Buivanphu

MÙI 

Thận Nhiên

Tôi sống nhiều nơi, nhiều thành phố, hầu hết là ở VN và ở Mỹ. Có những nơi tôi gắn bó một thời gian dài, rồi rời bỏ, và không còn muốn trở lại. Có những nơi tôi đã bỏ đi nhưng cứ muốn trở về nếu có dịp. Có nơi tôi chưa chính thức sống ở đó, chưa đủ lâu để quen thuộc mọi đường phố, mà thấy thân thiết lắm, như thể tôi thuộc về nó và lý do nó được dựng lên là chỉ dành cho tôi. Khi người ta thân thuộc với một nơi chốn, thì không chỉ thân thuộc về mặt cảm xúc tâm tình như cảnh vật và con người. Hay với màu sắc và tiếng động, thuộc thị giác và thính giác. Mà còn thân thuộc với những thứ được hấp thụ vào bằng những giác quan khác như vị giác, khứu giác, xúc giác. Ví dụ, với tôi, Sài Gòn có mùi đặc trưng của bùn rác, mùi hôi và tanh của cống rãnh. New York thì có mùi khói, hôi nồng, khói của cần sa. Long Khánh có mùi thuốc đạn, mùi xác người phân hủy, mùi chiến tranh. Detroit là mùi thức ăn thừa, mùi ẩm mốc, mùi phân chó, mùi mồ hôi khét của người da đen. Huế là mùi nhang đèn cúng bái. Seattle là mùi cua luộc tôi bắt ngoài vịnh, mùi mực trong hãng in áo thun. Vũng Tàu là mùi gió biển mặn, mùi tanh cá. Quảng Bình và Quảng Trị có cùng một mùi: mùi vong linh phảng phất như sương trên những khúc sông nhỏ và rêu mốc ở mặt tường thành cổ. Dallas là mùi nắng trên 100 độ F và mồ hôi của chính mình trong những ngày hè này… vân vân…

Một ngày tới, ai rồi cũng sẽ rời khỏi trần gian. Người ta bảo thiên đàng là đi lên, còn địa ngục thì đi xuống. Tôi không cần biết địa ngục có mùi gì, nhưng băn khoăn tự hỏi có phải bầu trời có mùi của những giọt mưa.

NGƯỜI BUỒN NGÓNG PHỐ…

 

Nguyễn Ngọc Tư

“Mới có một lần lóng ngóng chờ ba má, mà ngổn ngang nhiều nỗi niềm trong tâm can. Nếu chờ chục lần, trăm lần như ba má chờ mình thì sao?”

(Tống Phước Bảo, theo báo Người Đô Thị online)

.

Hồi tôi còn nhỏ, mỗi lần ba đi làm về trễ, má hay thơ thẩn ngoài cổng nhà ngó ra phố. Đám anh em tôi vẫn biết má chờ ba. Mâm cơm chiều má chưa dọn ra. Lúc nào cũng phải đợi đầy đủ cả nhà. Lắm khi mấy anh em đói quá, má kêu uống nước cầm hơi lót bụng. Mấy bận sau, má bắt đầu mua ít bánh trái để trên bàn ăn. Nếu ba về trễ, mấy anh em cứ nhón tay bẻ trái chuối hay lấy miếng bánh da lợn mà ăn cho đỡ đói. Ba chưa về, má thỉnh thoảng ra ngoài ngóng trông. 

Chúng tôi lớn dần lên, má thôi ra vào ngóng ba nữa, mà chờ đám con về nhà sau cả ngày dài bôn ba ngoài phố. 

Có lần tôi nói ba má cứ việc ăn trước, đám con mỗi đứa một việc, có bao giờ về nhà đúng giờ đâu, má cứ làm vậy riết tụi con hổng có bạn hay hổng làm gì được. Thời nay rồi, sau giờ làm còn bạn bè đồng nghiệp, lắm khi khách khứa đối tác, cơm nhà đâu phải lúc nào cũng về ăn được. Má ờ một tiếng nhẹ hều. Sau bận đó, má không ngóng đám con nữa. Bàn ăn chỉ còn cái rổ úp thức ăn chừa lại trên bàn. Có tối muộn, đám con về nhà sau mệt nhoài phố thị bon chen, chẳng đứa nào rớ cơm má nấu. Má lại lục tục gói gọn, cất vào tủ lạnh. 

Mấy lúc đám con đi xa, má hay ngập ngừng hỏi “bao giờ về, đem theo đồ ăn không má làm”. Đáp lại lời má là những cái lắc đầu nguầy nguậy, những cái xua tay liên hồi. Giờ cái gì cũng có, chỉ sợ mình không có tiền để mua. Mang theo mấy cái đồ ăn má làm, lắm khi chẳng qua được cửa sân bay. Đám con lớn rồi, tự biết lo thân. Má lo quá đâm ra rối việc đám con. Bận má nghe vậy, má cũng ờ một tiếng nhẹ tênh. Sau này mấy đứa con đi xa, má chỉ ra tới cổng, đóng cửa rồi thôi.

Ba làm cái khoảng sân nho nhỏ trước nhà, trồng mấy cây hoa bé bé xinh xinh. Má trồng mấy cây cải, cây hành. Ba kê bộ bàn ghế sáng sáng ngồi uống trà đọc báo. Mấy đứa con đi làm phóng xe cái ào ra khỏi cửa, ba lật đật đứng dậy cài chốt. Có khi ba ngồi đến chín, mười giờ sáng chờ đến đứa cuối cùng ra khỏi nhà đi làm muộn. Má kê cái võng ngoài sân, chiều chiều nằm đong đưa nghe radio phát mấy chương trình ca nhạc, thỉnh thoảng điểm thêm tin kẹt xe đâu đó. Cánh cửa nhà chiều nào cũng hé vừa đủ một khoảng rộng để đám con về đến là phóng xe thẳng một mạch vào nhà. Cũng có bận, cánh cửa nhà hé đến tận chín mười giờ đêm, radio phát sang chương trình cải lương, đứa con cuối cùng mới về đến nhà. Má vẫn đong đưa bên cánh võng. 

Đám con lớn dần, bắt đầu biết đợi chờ trông ngóng một điều gì đó trong cuộc đời. Tỷ như ông anh bắt đầu biết chờ cô người yêu sau giờ tan ca. Lắm khi chờ tận hai tiếng đồng hồ mới rước được cô nàng đi ăn tối, xem phim hay cà phê tán dóc. Nhiều bữa mưa dầm dề, ướt lấm lem cũng đợi. Nhiều bữa bực dọc rồi đem về nhà xả ra cho má. Má nghe rồi cũng ờ nhẹ tênh. Mình thương người ta thì mình phải chịu. Hổng có sự đợi chờ nào mà thảnh thơi hết đó. Ngóng trông nào thì cũng kèm theo lo âu thấp thỏm. Nhưng mà có những người, nhiều khi mình phải chờ cả đời. Bận má nói vậy, ông anh nghe trong lòng nhoi nhói. 

Những ngày dịch bệnh phải ngưng lại công việc, đám con đủ mặt ở nhà. Má được thể bày la liệt các món ăn. Nào là bánh xèo hồi đó ông anh thích lắm. Một mình ăn gần ba cái. Này là chè đậu đen, nước dừa sên kèo kẹo, thằng út ghiền lắm. Còn cái này dành cho con chị lớn, con nhỏ hay thèm chả giò, phải là nhà cuốn… Bữa cơm nhà rộn ràng mấy câu chuyện thường nhật. Tiếng nói láo xáo quanh bàn ăn. Lòng má hình như cũng rộn ràng. 

Khoảng sân vườn ba vẫn ngồi cà phê mỗi sáng, má vẫn nằm nghe radio mỗi chiều. Chỉ khác chăng là cửa nhà lúc nào cũng khép. 

Bận miền Trung giông bão xác xơ, ba đọc báo nhiều hơn, má thấp thỏm nghe đài. Một chiều thằng út về nhà sau giờ tan ca phố xá kẹt xe đang nhễ nhại mồ hôi bỗng chưng hửng. Cửa nhà im ỉm khóa ngoài. Lục túi sực nhớ mình hổng có chìa khóa. Lâu lắm rồi đã quen nếp hễ về nhà là có ba má chờ sẵn. Thằng út luống cuống gọi con chị, hớt hải báo tin ông bà già đi đâu mất tiêu. Vụ này lạ lắm à nghen. 

Đã thành nếp, ba má có đi đâu thì cũng về trước năm giờ chiều, tăm tắp từ hồi về hưu. Cửa nhà bao năm qua chỉ đóng khi con cái đã về đầy đủ. Ba má đi đâu vậy ta? Thằng út chạy qua hàng xóm hỏi, người ta hổng biết, chỉ thấy ba chở má trên chiếc xe đạp cọc cạch tận hồi trưa. Thằng út nghe lòng nóng ran. Nhớ mấy cái vụ đám bán hàng ưa canh me nhà có mấy người già tới chào mời bán hàng rồi lừa tiền bạc. Hay đám đầu tư tiền ảo, đánh trúng tâm lý mấy ông bà già có chút tiền dư mà dụ dỗ… Trong đầu thằng út nhảy lên nhiều viễn cảnh xa xăm. 

Thằng út lại điện thoại cho anh mình. Chiều sẫm trời, ba anh chị em láo nháo trước cửa nhà. Tiếng thở dài thườn thượt, hồi nào tới giờ có đứa nào biết mặt mũi cái chìa khóa cửa ra làm sao. Cứ chạy xe cái ào ra vô, chuyện cửa nẻo có ba má lo hết. Giờ không dưng đứng trước cửa nhà mình làm kẻ xa lạ. Ngóng ra phố, lòng hoang mang nhiều nỗi. Đứa này gọi qua nhà cậu, đứa kia hỏi thăm nhà chú. Hỏi miết làm hai bên nội ngoại cũng đâm ra lo theo. Chẳng có câu trả lời ba má ở nơi đâu. 

Chiều buông dần màu ghi xám trên con phố nhỏ. Đám con bắt đầu bời bời lòng dạ, đang định chạy lên công an phường thì đầu ngõ thấy cái dáng liêu xiêu, cái xe đạp quen thuộc, cái nón kết cũ kỹ… Lòng mừng như thể lượm được vàng. 

Má cười xuề xòa nhìn ba đứa con, trời má tưởng bây về trễ như mọi lần. Người ta rủ đi gói bánh tét cho miền Trung, ba má thấy ở nhà cũng đâu có gì làm, đi phụ hợ cho vui. Người ta còn gói tới hai ba bữa nữa lận. Mấy đứa con nhìn nhau, nghẹn cứng họng, hổng biết nói lời nào. 

Mới có một lần lóng ngóng chờ ba má, mà ngổn ngang nhiều nỗi niềm trong tâm can. Nếu chờ chục lần, trăm lần như ba má chờ mình thì sao? Đâu phải cái gì cũng có thể nói bằng lời, tỷ như sau cái lần chờ ba má này, mấy đứa con to nhỏ cùng nhau, mỗi đứa lận lưng một cái chìa khóa, mơi mốt khỏi để ba má chờ cửa. 

Vậy mà ba má vẫn cứ chờ. Đôi ba lần mấy đứa con dặn dò, ba má ngủ sớm đi, cứ đóng cái cửa trong, khóa cái cổng ngoài, tụi con có chìa khóa hết rồi. Má ừ hử, ba lặng thinh. Nhưng cửa vẫn cứ mở, đèn vẫn cứ sáng, chỉ chờ mấy đứa con về an toàn vẹn nguyên hình hài thì má mới tắt radio mà vào phòng ngủ. 

Bữa cậu Út từ quê lên thăm, nghe mấy đứa con cằn nhằn ba má chuyện thức đêm thức hôm chờ cửa. Cậu hề hà, tụi bây hổng biết, người già ngủ ít xịt. Người già có làm gì đâu. Quanh quẩn cũng chỉ từ cửa vào bếp, từ bếp ra cửa; cũng chỉ chuyện con cái đi làm, về nhà, cơm nước thế thôi. Đó là cái thú của người già. Chừng nhà vắng lặng thì buồn hiu. Buồn quá thì ra cửa mà ngó phố ngó người. Ngóng phố cũng là ngóng con. Con ba đứa thì phải về nhà đủ ba. Vậy mới yên lòng mà đi ngủ. Tụi bây dầu lớn rồi, dầu bôn ba lăn lộn trăm nẻo vạn đường thì với ba má tụi bây, con mình luôn còn nhỏ xíu, luôn phải để mắt tới, luôn cần chờ trông, lo lắng. Ai làm ba má cũng vậy. Người già nào cũng vậy. Chừng tụi bây lớn rồi, có con cái, chục năm nữa, cũng y hệt. Cũng mở cửa nhà tiễn con đi. Cũng nằm vắt vẻo đợi con về. Cũng thắt thẻo ruột gan khi con buồn. Hay rổn rảng lòng dạ mỗi bận con vui. Vậy chứ tụi bây về nhà mà hổng thấy cửa mở, hổng thấy ba má mình là tụi bây buồn lắm. Ổng bả cũng gần tám chục rồi nghen. Có những cái buồn, một đôi năm nữa tụi bây mới thấu.

Cậu Út nói nhẹ tênh, như má hay gật đầu mỗi bận mấy đứa con nói. Vậy ra, đâu còn bao nhiêu lâu nữa đâu, ba má sẽ thôi ngóng phố? Còn bao nhiêu lâu nữa đâu, mấy đứa con về nhà hổng thấy ba má chờ mình nữa?… 

Nghĩ đến cái đoạn đó là lòng dạ như ai dần ai giã, rưng rức gì đâu! 

(Ảnh: TAT)

PHẨM HẠNH

Bạch Cúc

Em nhắn tin hỏi ý kiến tôi, em bảo:

Chị à, em mấy tháng nay em làm sale bảo hiểm, làm cũng khá tốt, tuy nhiên có 1 số khách hàng nam cứ tiếp cận em với mục đích khác, kiểu khiến em cảm giác họ có ý đồ gì đó ngoài chuyện tham gia bảo hiểm đó chị. Chời ơi toàn người vợ con đuề huề, có địa vị học thức mà nói chuyện câu 1 câu 2 là thấy mùi gạ gẫm. Mà mấy khách hàng này là tiềm năng, em cũng không dám thẳng thừng cắt đứt, vậy làm sao vẫn sale được mà vẫn giữ được mối quan hệ nghiêm túc hở chị?

Và tôi trả lời em:

Ở đời, người đàn ông giàu có + thêm địa vị thì đa số là người lõi đời ma mãnh, họ biết vị thế của họ nên rất dư thừa tiền và chia tình sòng phẳng, ít ai cho không, biếu không “gái” điều gì. Do thế, trong công việc em hãy chân thành nhưng phải thẳng thắn phản đối khi thấy họ cợt nhả thiếu nghiêm túc. Nếu họ vẫn tiếp tục, em đừng tiếc, hãy loại bỏ những khách hàng này. Em phải giữ lấy phẩm giá của mình và bước đi trên đường đời bằng những bước chân tự hào và bình an. Chị tin rồi cuối cùng em sẽ thành công, sẽ đạt được mục đích sự nghiệp cần vươn tới mà không cần phải đánh đổi nhân cách. Ông trời vốn rất công bằng, ông ấy sẽ bù đắp và cho em nhiều thứ nếu em giữ được phẩm hạnh!

Rồi tôi kể em nghe 1 câu chuyện nhỏ trong cuộc đời tôi:

Ngày còn là sinh viên trường Luật, tôi túng thiếu tới mức đôi khi thèm khát tô bún hàng rong có 2000đ mà cũng phải đắn đo lắm. Rồi sau đó tôi xin được chân phục vụ ở quán cafe sân vườn, bưng bê quần quật cả tuần từ 5h chiều tới 11h đêm mà lương chỉ có 400k đồng/tháng. Làm được hơn năm thì may mắn có đứa em họ giới thiệu tôi 1 công việc ngon lành. Tôi phỏng vấn đậu và được đi làm với mức lương cao ngất ngưởng: hơn 1 triệu/tháng. Cách nay đã 20 năm rồi, thời điểm ấy mức lương đó là quá “khủng” đối với với tôi: Tôi trở thành nhân viên Tiếp thị Beer Tiger!

Rồi tôi được phân công về một quán nhậu lớn nhất nhì Hóc Môn, doanh số bán Tiger cao kinh khủng nên tháng đầu tiên tôi được tới 1.5 triệu, tháng thứ 2: 1.7 triệu

Vào một buổi tối của tháng làm việc thứ 3, khi tôi đang loay hoay khui bia cho một bàn nhậu toàn nam thì thấy ai đó nắm cánh tay mình, quay lại thì thấy một ông chú giơ ly bia lên mời tôi uống. Tôi lắc đầu từ chối bảo: con là Sinh viên mới đi làm, con không biết uống!. Ông chú bỗng đổi giọng giận dữ bảo: Uống ngay, không uống tụi tao dek uống bia Tiger của mày nữa!

Tôi đứng sượng trân mặt tái xanh cúi gầm nhìn xuống. May mắn lúc ấy có một người trẻ hơn trong bàn gạt tay ông kia ra, họ bảo: Thôi tha cho con nhỏ đi, nó đeo mắt kính cận dày cộp thế kia thì đúng là Sinh viên rồi, đừng ép nó!

Tôi gật đầu nhẹ nhàng cảm ơn họ rồi lui ngay vào bên trong, đi vào dãy phòng lạnh để tiếp thêm bia cho 1 nhóm trong đó. Quán nhậu này có nguyên dãy phòng lạnh dành cho các khách VIP, nghe cách họ nói chuyện tôi đoán họ là quan chức có vai vế hẳn hoi. Đang lui cui gắp đá thì có một ông bụng phệ, mặt mũi đỏ hỏn to chành bành. Ông ấy bỗng nắm vai tôi giữ thật chặt, rồi ông đưa ly bia dí vào miệng tôi, bắt tôi phải uống hết 100%. Tôi lùi lại xin kiếu, ông nói tới lần thứ 3 tôi vẫn gạt tay lắc đầu. Lúc này mặt ông hầm hầm đỏ bầm như gà chọi, rồi ông thò tay vào túi quần móc ra 1 cọc tiền mới tinh để cái cộp lên mặt bàn và gầm lên:

“Giờ tao bảo lần cuối: mày có uống không? Uống hết ly bia tao cho mày xấp tiền này, nếu không uống tao bảo chủ quán đuổi cổ mày ngay lập tức!”

Tôi quay lại nhìn thẳng vào mắt người đàn ông ấy, lưng tôi thẳng đứng, mặt hất lên 1 góc 30 độ rồi tôi buông 1 tiếng gọn lỏn:

 “Không”!

“Ầm”!

Ly bia trên tay gã đàn ông ấy bỗng bay thẳng vào tường, bia đá đổ tung tóe cùng với hàng trăm mảnh thủy tinh vỡ tan nát!

Tôi giận điếng người và chạy ào ra khỏi quán, chạy được một đoạn mệt rã rượi tôi lững thững đi chậm lại, đang thất thểu đi bộ về thì anh bạn đi đón tôi phóng xe đạp chờ tới. Thấy anh tôi bỗng tủi thân òa lên khóc tức tưởi, người tôi run lên vì uất, vì tiếc…

Tiếc là…tôi đã không kịp giáng cho gã đàn ông khốn nạn đó một bạt tai trước khi bỏ chạy!

Câu chuyện của em đã khiến tôi nhớ về câu chuyện của tôi và của rất nhiều cô gái trẻ khác. Những cô gái không cưỡng được sức hút, mãnh lực của đồng tiền và tham vọng. Những cô gái chỉ lỡ bước nửa bàn chân: 1 lần, 2 lần qua ranh giới mong manh của nhân cách, của phẩm hạnh với đủ mọi lý do để rồi…không quay đầu lại được nữa!

Và tôi bỗng nhớ em: cô gái miền Tây xinh xắn nhỏ xíu xiu phụ bàn trong cái quán nhậu ngày xưa đó…

Tôi vừa gặp lại em: em mặt mũi trát hằng hà lớp phấn dày kịt, đôi môi sơn đỏ chót. Em ngồi gác chân chữ ngũ trước cửa quán giữa một nhóm các cô gái trẻ áo hai dây hở ngực, váy ngắn cũn cỡn, em là “chị hai” của họ trong dãy quán đèn mờ!

Sao xe tôi lại hết xăng ngay chỗ quán em ngồi, sao tôi lại hỏi em gần đây có chỗ bán xăng nào không để rồi thảng thốt nhận ra em, để rồi buồn vô hạn…Vẫn là em đó nhưng giá trị con người em đã đổi khác!

Đường về #Bachcuchomestay bỗng xa rất xa…

ĐÀN ÔNG HƠN NHAU… CHÍNH LÀ Ở NỤ CƯỜI CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐI CÙNG…!

Đinh Trực

Tôi luôn rất thích nụ cười của đàn bà. Đàn bà dù có nhan sắc hay không, xinh hay không xinh, chỉ cần cười là tôi đã thấy đẹp…!

Tôi đã nghĩ đó là nét đẹp, là sức quyến rũ rất riêng của đàn bà, hơn cả chân dài hay ngực khủng… 

Nụ cười hạnh phúc và rạng ngời của đàn bà luôn có sức lan tỏa cả không gian xung quanh…!

Luôn hiền lành và tràn đầy bao dung, như chính trái tim và tấm lòng của họ. Nhưng bạn biết tôi sợ gì nhất ở nụ cười của đàn bà không…?Là khi nó nhẹ như không, bình thản đến lạnh người…

Là khi cạn cùng của đổ vỡ, đàn bà cười nhẹ tênh. Tôi sợ điều này hơn cả nước mắt hay sự im lặng của đàn bà… Thay vì khóc, đàn bà cười…, nụ cười như vỡ vụn trong tổn thương mà lại như bất cần…

Tôi còn nhớ, anh từng nói với tôi, anh yêu nụ cười của chị. Quả thật, chị cười rất tươi, một nụ cười đẹp nhất mà tôi đã từng thấy…

Những năm tháng khi cả hai chỉ là sinh viên, anh đã không ngại đạp xe đi cả mấy cây số chỉ để mua món đồ chị thích, khiến chị cười khi chị muộn phiền. Từng chứng kiến anh đã cố gắng và giữ hạnh phúc đến nhường nào để có thể nhìn thấy chị cười tươi đẹp và hạnh phúc như thế. Khi ấy tôi đã nghĩ, đàn bà chỉ có thể cười khi hạnh phúc, khi đủ đầy yêu thương và sẻ chia… Nhưng tôi đã không biết, ngay cả khi đau khổ tột cùng, người đàn bà vẫn có thể cười…, một nụ cười rất đẹp nhưng trong tâm hồn, trong sâu thẳm con tim lại vô cùng héo hắt…!

Anh cầu hôn chị sau Năm năm yêu thương…!

Sau năm năm kết hôn, anh thăng tiến trong công việc. Được mọi người, được bạn bè chúc tụng những lời có cánh, được ngưỡng mộ… nhất là những cô gái trẻ đẹp luôn là vệ tinh vây anh…

Chị vẫn một mình ở nhà quán xuyến việc nhà với hai đứa con ngoan. Vài lần lại ngôi nhà khang trang của anh chị, không biết sao tôi lại không còn thấy nụ cười đẹp rạng rỡ khi xưa của chị. Tôi từng nghĩ, có lẽ do cuộc sống áp lực và vất vả dễ khiến con người ta muộn phiền. Nhưng rõ ràng những năm tháng bão bùng của một thời còn cực khổ hơn gấp bội, vậy sao chị vẫn có thể hạnh phúc như đã từng… Cho đến khi tôi biết, anh có nhân tình…

Anh xem điều đó như một lẽ đương nhiên. Anh bảo với tôi rằng: trong xã hội thượng lưu khi anh bước vào, đàn ông nào lại không có nhân tình…? Anh chỉ là làm quen với “quy luật” của thế giới đó thôi…

Anh không nhận ra, chẳng có “quy luật” nào tàn nhẫn như vậy cả…

Chỉ là anh không kiềm lòng trước cám dỗ ở cuộc đời mà thôi…!

Ngày đó, tôi gặp chị, nụ cười bao năm héo úa đã không còn… Tệ hơn hết, chị cười nhẹ tênh, dù tôi biết trong lòng chị có bao nhiêu đổ vỡ nát tan. Nụ cười đó của chị luôn khiến tôi ám ảnh sau này…

Đàn bà đau lòng đến mức nào, sao khóc không ra tiếng, sao lại để ráng nặn một nụ cười xót xa đến như thế… Nụ cười ấy chứa bao nhiêu là khổ đau và bất hạnh, một nụ cười vẫn đẹp khi nước mắt lại lưng tròng…!

Rồi chị ly hôn, như buông bỏ tất cả…! Hai năm sau đó, chị như đã hồi phục sau những tháng ngày như không thể đứng dậy…!

Chị lại cười, nụ cười hạnh phúc của riêng mình…!

Đúng lúc ấy anh lại muốn quay về. Chỉ là, mọi thứ đã quá muộn… Anh mãi mãi không thể giữ được nụ cười âu yếm, anh không còn sở hữu nụ cười ngày xưa lúc chị yêu anh, anh không có lại nụ cười hạnh phúc chị từng chỉ dành riêng cho mình…!

Đàn ông hơn nhau, chính là ở nụ cười của người đàn bà đi cùng…!Đàn ông yêu thương, đàn bà sẽ cười hạnh phúc…!

Đàn ông tệ bạc, nụ cười của đàn bà héo úa mà đáng thương…!

Đàn bà hơn nhau là biết chọn người đàn ông có thể làm mình cười cả một đời, hơn là chỉ biết khóc mỏi mệt. Vì vậy, nếu đàn ông chỉ có thể đem đến cho ta nước mắt, hãy ra đi để tìm nụ cười của chính mình…!

Đàn bà đẹp nhất khi cười…! Và nụ cười của đàn bà cũng chỉ nên dành cho một người đàn ông xứng đáng…!*

(Đinh Trực sưu tầm)

Từ đọc sách đến khai minh của người Nhật

Tác giả: TS. Nguyễn Xuân Xanh

“Các cộng đồng dân tộc trong cơn lâm nguy không nhất thiết tìm kiếm sự an toàn cho mình bằng sự đổi mới; thông thường họ tái khẳng định truyền thống và càng bám chặt nó một cách cương quyết hơn”. (Thomas C. Smith)

“Trình độ văn minh của một đất nước có thể được đo lường bằng tri thức và đức hạnh của cả dân tộc đó”. (Fukuzawa Yukichi)

Người Nhật nổi tiếng trong lịch sử là dân tộc đọc sách vào bật nhất thế giới. Quyển “Tự lo”, Self-Help của Samuel Smiles từng là best-seller tại Anh, Mỹ, bán được 250.000 quyển cuối thế kỳ XIX, nhưng khi được dịch sang tiếng Nhật đầu thời Minh Trị (1868) bán đến một triệu bản! Một con số thật “khủng”, dân số Nhật Bản lúc đó chỉ khoảng 30 triệu. Nhiều quyển sách khác cũng được bán với con số tương tự. Rồi đầu thế kỷ XX, tuyển tập Einstein, tuyển tập Mác-Ăng Ghen đã ra đời đầu tiên tại Nhật Bản, không phải ở phương Tây. Sự tò mò của người Nhật có thể nói là vô hạn. Thời Minh Trị, Công ty TNHH ra đời đầu tiên là Công ty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzen. Sách là nền tảng tri thức để chấn hưng đất nước.

Nhưng tác giả phương Tây có ảnh hưởng bậc nhất ở Nhật Bản thời Minh Trị có lẽ là Herbert Spencer(1820-1903), hơn cả John Stuart Mill và các tác giả kinh điển khác của phương Tây. Ông được biết với khái niệm survival of the fittest, tức “khôn sống mống chết”, hay thuyết tiến hóa xã hội Darwin áp dụng cho các quốc gia; các dân tộc sống chung cũng theo qui luật sàn lọc của tiến hóa: mạnh, thích nghi nhất để tồn tại, để hạnh phúc. Spencer cũng nổi tiếng về những vấn đề dân quyền. Cuối thế kỷ XIX nhiều phần đất thế giới lần lược rơi vào tay các cường quốc phương Tây, trong đó có Burma và Indochina. Trong thời gian 1877-1900 có ba mươi hai bản dịch và một bài nghiên cứu các bài viết của Spencer vào Nhật Bản. Riêng quyển Social Statics (Tĩnh học xã hội)nói về dân quyền của ông nổi tiếng đến độ dịch giả Matsushima Takeshi được nxb thưởng ¥2.500, tức 100 lần hơn so với tiền công dịch chính thức là ¥25.

Văn hóa đọc của Nhật Bản không phải bỗng dưng bùng nổ vào thời Minh Trị khi đất nước được mở cửa, hướng về phương Tây, mà có gốc rễ sâu xa từ thời Tokugawa 1600-1868, từ lúc dân tộc chỉ có văn hóa võ sĩ trên chiến trường, từ lúc thầy tu khỏe mạnh cũng muốn ra trận để thi thố tài năng đi tìm hạnh phúc. Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số “khủng” về giáo dục và văn hóa đọc, hai cái gắn liền nhau.

Trong thời vàng son Genroku (1688-1704), Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, với nhiều nhà xuất bản lớn, nhà minh họa và nhà văn tên tuổi. Sách thường được xuất bản với số lượng đến hơn 10.000 bản! Một con số “khủng” cách đây 300 năm. Năm 1692 Nhật Bản cũng đã từng có những bộ danh mục hằng chục tập về các sách in dành cho công chúng sử dụng (Việt Nam hiện nay chưa có).

Mặc dù số phát hành cao, nhưng không đủ đáp ứng nhu cầu đọc sách của các tầng lớp dân chúng, văn hóa đọc sách thuê trở nên phổ biến, đặc biệt tại các thành phố lớn như Edo (Tokyo), Kyoto và Nagoya, với những cửa hàng cho thuê sách, kashihonya. Cuối thế kỷ XVIII các cửa hàng này có mặt khắp nơi ở Edo (tức Tokyo) và các tỉnh. Khách hàng được phục vụ bởi những người đi rong mang thùng sách trên lưng. Edo có 650 cửa hàng cho mượn sách năm 1808, nhưng đến 1832 đã có tới 800. Edo có dân số khoảng hơn triệu, và tỉ lệ biết chữ lên đến 70%. Một cửa hàng cho thuê sách ở Nagoya, tên Daisō, được thành lập năm 1767 và hoạt động 132 năm liền, đến khi chấm dứt có một danh mục đến 26.768 quyển sách cho thuê.

Thời Tokugawa giáo dục bùng nổ, với hệ thống trường học phục vụ nhiều đối tượng, đẳng cấp: trường trung ương của Mạc phủ, trường bang của các daimyō (như Shōheikō Hàn lâm Khổng giáo nổi tiếng), trường terakoya cho thường dân, trường tư shijuku cho samurai lẫn dân thường, một loại trường phi đẳng cấp (sẽ được thực hiện trong thời Minh Trị khắp cả nước, giống như cải cách trường học của Humboldt đầu thế kỷ XIX). Vài con số dưới đây sẽ làm chúng ta thêm ngạc nhiên để thấy mối tương quan giữa văn hóa đọc và giáo dục. Trường tư thục thời Tokugawa đã có đến 1.500 trường, đủ mọi qui mô, đến cả ngàn sinh viên.

Một trong những trường tư thục nổi tiếng có tênTekijuku tại Ōsaka được thành lập năm 1835 bởi Ogata Kōan (1810-1863), một học trò y khoa của bác sĩ Đức Siebold ở Nagasaki, và là một trong những học giả Lan học tên tuổi bấy giờ. Trường có nhiều sinh viên nổi tiếng, trong đó có nhà khai sáng Nhật Bản Fukuzawa Yukichi (1835-1901). Ông đã theo học tại trường này từ năm 1855 lúc ông hai mươi tuổi. Trường phát triển nhanh chóng, thu hút đủ mọi thành phần, từ nhà nông, bác sĩ đến samurai. Mục đích của trường là dạy tiếng Hà Lan, trước đó phải có căn bản tiếng Trung Hoa, sau khi học tiếng Hà Lan xong sinh viên chọn một trong những ngành khoa học để học tiếp như khoa học quân sự, ngành đúc súng, thực vật học, hóa học v.v… [Hơn hẳn các trường tư Việt Nam chỉ dạy các ngành kinh doanh chủ yếu.]

Khi Nhật Bản Minh Trị bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường đủ mọi loại! Hàng triệu người đã được học hành. Theo ước tính, cuối thời Tokugawa Nhật Bản có khoảng trên 40 phần trăm con trai và 10 phần trăm con gái nhận được giáo dục ngoài gia đình. Nhà nước không sợ sự phát triển giáo dục trong nhân dân, và dân chúng cũng đồng tình để cải thiện vị trí xã hội của mình. Phát triển đất nước cần những người có học. “Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học” như học giả Khổng giáo Dazai Jun (1686-1747) viết.

Qui mô của trường Nhật cũng không kém phần ngạc nhiên. Trường Shōheikō thực tế không phải là một ngôi trường, mà là một campus lớn, với nhiều dãy nhà ngang dọc, nhiều đường phố trong đó, với một đền thờ Khổng tử lớn tại trung tâm, nó là một cái làng học thuật và đào tạo đúng hơn. Chúng ta biết các đại học dạng campus của Hoa Kỳ hình thành từ Luật giao đất Morrill năm 1862 trước khi cuộc nội chiến chấm dứt. Phải chăng, xét về qui mô, các trường của Nhật Bản thời Tokugawa đã đi trước các đại học campus của Mỹ gần cả trăm năm?

Vì sao có những con số khủng về giáo dục và văn hóa đọc của một dân tộc võ sĩ?Sự học tại Nhật Bản trước 1600 là độc quyền của giới quý tộc và tăng lữ, nhưng đến thời Tokugawa trở thành công việc của cả nước. Đến năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi bình định được gần ba trăm bang (han), thiết lập nên một thể chế chính trị gần như liên bang, đã truyền lệnh cho tất cả các đại danh đứng đầu các bang, daimyō, và cho võ sĩ, samurai rằng (Điều 1): “bun bên tay trái, bu bên tay phải”. Bun là văn, còn bu là võ, từ đó bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Tức “quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải”. Và văn đi trước võ để có thể trị nước lâu bền. Võ sĩ là giai cấp cầm quyền ở Nhật Bản, trở thành giai cấp có học, và rất thấm nhuần văn hóa Khổng giáo, khác hơn Trung Hoa hay Việt Nam. Ở Nhật, Khổng nho cao lắm chỉ được làm tư vấn. Nhật Bản cũng có bậc thang “sĩ, nông, công, thương” dưới ảnh hưởng của Khổng giáo Trung Hoa, nhưng ở đây sĩ không phải là nho sĩ, mà là võ sĩ.

Mệnh lệnh trên có tác dụng của một “big bang” của văn hóa học và đọc sách. Các daimyō phải học văn hóa, các loại khoa học và nghệ thuật quản lý. Một daimyō có học phải đọc sách hằng ngày. Để học, họ lập ra các thư viện, khắp các bang. Nhật Bản mỗi thời đều có những thư viện nổi tiếng, nhưng vào thời Tokugawa, Nhật Bản có nhiều thư viện nhất trước thời Minh Trị.

Thêm một cái “khủng” nữa, rất lớn và rất có ý nghĩa cho sự vươn lên của Nhật Bản. Tokugawa là chế độ tự đóng kín, ‘tỏa quốc’ (sakoku) suốt 260 năm, sau khi họ đuổi hết người truyền giáo phương Tây 1640 (Việt Nam 1630), chỉ chừa một cảng nhỏ Dejima duy nhất ở Nagasaki thông thương với Hà Lan, và họ kiểm soát nghiêm ngặt việc nhập khẩu sách, để tránh sự xâm nhập của Kitô giáo. Nhưng trong hai thế kỷ, giới trí thức Nhật Bản đã làm được một cuộc dịch thuật vĩ đại, gọi là ‘Lan học’, Rangaku, để biết rõ khoa học, công nghệ phương Tây. Đó là bình minh của nhận thức, giúp cho Minh Trị nhanh chóng thành công. Chính quyền Mạc phủ từng bước cũng nới rộng sự kiểm soát và nhìn nhận những sự ưu việt phương Tây, nhất là sau cuộc Chiến tranh Nha phiến ở Trung Hoa 1840.

Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu đã từng có cuộc dịch thuật vĩ đại thế kỷ XI và XII lúc đại học châu Âu ra đời để làm nền tảng phát triển khoa học và văn hóa, thì tương tự ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ thời đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây dù tầng lớp trí thức ở Nhật Bản chịu ảnh hưởng rất sâu đậm của Khổng giáo, có thể sâu đậm hơn cả giới trí thức Việt Nam cùng thời. Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhưng trí thức Nhật Bản đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh, như bác sĩ nổi tiếng Sugita Gempaku (1733-1817) nói, người tạo cú hích cho Lan học thành công.

Nếu đối với người trí thức không thể yêu nước trong sự vô minh thì đối với các nhà lãnh đạo trong chính quyền cũng không thể trị vì đất nước trong sự vô minh. Năm 1882, tức 14 năm sau Phục hồi Minh Trị, người ta đã thống kê thấy có tất cả là 2.170 quyển sách tiếng nước ngoài tại các văn phòng chính phủ, đủ loại tiếng Anh, Pháp và Đức. Nhiều nhất là Đại học Hoàng đế Tokyo, kế đến là bộ tài chánh. Từ đầu thế kỷ XIX Mạc Phủ Tokugawa cũng thành lập văn phòng dịch thuật sách nước ngoài sau đó được gọi là “Viện nghiên cứu sách người man di”, Bansho Shirabesho, rồi được đổi tên thành “Viện nghiên cứu sách phương Tây”, Yōsho shirabesho, sau này trở thành một trong những cơ sở của Đại học Tokyo thời Minh Trị. Đó là nơi tập trung nhiều sách nhất, từ y khoa, toán học, vật lý, địa lý đến quân sự và những đề tài khác về thế giới. Katō Hiroyuki, sau này chủ tịch của Đại học Tokyo, nhớ lại khi ông bước vào Bansho shirabesho: “Tôi tìm thấy những cuốn sách không ai có ở ngoài đời. Khi nhìn vào những quyển sách đó tôi thấy chúng rất thú vị: lần đầu tiên tôi thấy các sách về những đề tài như triết học, xã hội học, đạo đức học, chính trị, luật pháp… đứng trước chúng, những suy nghĩ tôi bắt đầu thay đổi.” Nhiều học giả trẻ sau khi đi qua thư viện này trong vài năm đã hoàn toàn thay đổi quan điểm của mình.

Một cái “khủng” nữa tôi không thể không kể ra đây về tính xã hội mà chắc chỉ có dân tộc Nhật Bản mới có thôi. Đó là tính hy sinh của xã hội cho việc học của thanh nhiên. Điều này đã được Lafcadio Hearn (1850-1904) người sống và dạy văn học Anh lâu năm tại Đại học Hoàng đế Tokyo đã ghi lại. Xã hội Khổng giáo Nhật Bản có sức kết dính mãnh liệt, không như nó mang tính cá nhân nhiều hơn ở Trung Hoa. Không chỉ những người thầy hy sinh cho người trò, mà hầu như cả xã hội đều ra tay giúp đỡ học sinh, sinh viên. Hoàng gia Nhật dành phần lớn thu nhập cá nhân cho giáo dục công đã đành, các đại danh, những người chủ đất giàu có tranh đua nhau hỗ trợ giáo dục đã đành. Mà xuyên suốt mọi tầng lớp xã hội, các thương gia, nhà ngân hàng, sản xuất – tất cả những người giàu có của các giới thương mại và công nghiệp – đều hỗ trợ việc giáo dục sinh viên; các sĩ quan quân đội, các công chức hành chánh, bác sĩ, luật gia, các giới nghề nghiệp, tóm lại, đều làm như thế.

Những cá nhân nghèo hơn thì sẽ giúp bằng cách thuê các sinh viên làm người giữ cổng, đưa tin, dạy kèm, họ cho sinh viên chỗ ở hay nội trú, và luôn luôn một ít tiền túi, đổi lấy những dịch vụ nhẹ nhàng. Tại Tokyo và đa số các thành phố lớn, hầu hết các căn nhà lớn đều được bảo vệ bởi sinh viên đề bù lại họ được giúp đỡ. Về phần đóng góp của các thầy giáo cần có một sự đề cập đặc biệt.

Các giảng viên, giáo sư đại học là những người rất hy sinh, xem việc giúp đỡ sinh viên là một điều tự nhiên. Đa số các thầy ở các trường công đều có đồng lương không dư dả để hỗ trợ tài chánh cho sinh viên, nhưng tất cả những ai có thu nhập cao hơn nhu cầu sống của họ đều có sự giúp đỡ dưới hình thức nào đó… Nhưng không có sự bắt buộc nào của thói quen có thể giải thích được niềm vui của sự hy sinh và sự tồn tại lạ lùng của lý tưởng thời phong kiến được minh họa bởi một số sự kiện đặc biệt. Chẳng hạn: một giáo sư đại học nọ được biết tiếng là hỗ trợ và giáo dục một số sinh viên bằng cách chia gần hết tiền lương của ông cho sinh viên, kéo dài nhiều năm như thế. Ông nhận sinh viên ở nhà, cho nội trú, dạy sinh viên và mua sách cho họ, và trả học phí – chỉ giữ lại cho ông chi phí sống, và giảm cả chi phí sống bằng cách sống bằng những củ khoai lang nóng…

Một người già hơn bảy mươi tuổi, vẫn dành hết phương tiện, thời gian và tri thức cho lý thưởng trách nhiệm truyền thống của ông. Có bao nhiêu loại hy sinh lạ thường như thế đã được thực hiện bởi những ngưới ít khả năng hơn, điều đó sẽ không bao giờ được biết. Lafcadio kết luận: Hầu như tất cả các công trình giáo dục bậc đại học được thực hiện ở Nhật Bản, dù có sự giúp đỡ của chính phủ, đều là những kết quả của sự hy sinh cá nhân.

Sự chuyển đổi xã hội Nhật Bản từ xã hội phong kiến sang xã hội công nghiệp là công trình của giới trí thức Nhật Bản, hạt nhân của xã hội mới. Họ là những người “khai mông”, keimō. Thứ nhất, họ khơi dậy tinh thần “văn minh và khai hóa”, bummei-kaika. Việc này được thực hiện bởi nhóm Meirokusha (“Minh lục xã”, Meiji Six Society), xung quanh các nhà khai sáng Fukuzawa, Nishi, Katō, Mori, Tsuda, Nakamura, Kanda và Nishimura. Họ là chuyên gia hàng đầu về văn minh phương Tây, đặc biệt họ thông thạo tiếng Hà Lan, tiếng Anh và tiếng Đức. Những tác phẩm của họ báo trước hừng đông của một thời kỳ mới cho Nhật Bản, gây ra cơn sốt học hỏi văn minh phương Tây.

Thứ hai, để tạo sự đồng thuận xã hội, họ phải tìm cách bắt chiếc cầu sống chung giữa Khổng giáo và chủ nghĩa tư bản, giữa Khổng giáo với chủ nghĩa thực chứng khoa học phương Tây, giữa Khổng giáo và thương mại, như đã được nước Anh đại diện là sức mạnh tổng hợp của cách mạng công nghiệp, thể chế chính trị, và đội thương thuyền, tàu chiến. Thương mại, vốn đứng hàng cuối trong bậc thang sĩ, nông, công, thương của xã hội Khổng giáo phương Đông, nay được bốc lên vị trí hàng đầu như một đức hạnh của thời đại mới. Giới trí thức phải biện minh được sự đổi mới về mặt đạo đức, phải chứng minh rằng thương mại chỉ là công cụ của sức mạnh nhà nước để lo cho dân, thực hiện trách nhiệm đạo đức của Khổng giáo, rằng Khổng giáo có những lổ hổng to lớn khi chỉ nhấn mạnh phần đạo đức trong xã hội mà quên lãng quyền con người (minken) và quyền tư hữu (bukken), cũng như thiếu vắng một phương pháp khoa học và một ý tưởng về tiến bộ, do đó cần được bổ sung tri thức từ phương Tây.

Giới khai mông phải học rất nhiều để am tường những tư tưởng, các đặc thù của các xã hội phương Tây, nguồn gốc sức mạnh và quy luật phát triển. Họ không những am hiểu Adam Smith mà còn am hiểu Friderich List, người phê phán Adam Smith làm ngơ trước sự thật là các giai đoạn phát triển khác nhau cần những chính sách khác nhau, bản thân nước Anh cũng đã từng bảo hộ mậu dịch (từ Navigation Acts, 1651) cho đến khi kinh tế Anh mạnh lên chứ không phải chỉ có tự do mậu dịch.

Trong những năm sau 1850 giới trí thức đi tới kết luận rằng những giá trị của nhà nước và phong kiến không thể được bảo vệ được nữa bằng “súng to tàu chiến lớn”. Một dân tộc có mạnh, phồn vinh hay không, không tùy thuộc vào một vị minh quân, mà tùy thuộc vào vị trí của dân tộc đó trên bậc thang của tiến bộ, tùy thuộc vào hiện trạng tri thức và đức hạnh của cả dân tộc: nghĩa là tùy thuộc vào “tinh thần thời đại”, jisei (“thời thế”), khuynh hướng phát triển của thời đại (Fukuzawa). Chế độ phong kiến với giáo dục Khổng giáo vô tình đã ngăn cản dân tộc tiến lên jisei. Đó là cái nhược điểm của xã hội cũ. Nước Phổ không phải đã thắng Pháp vì Bismarck tài giỏi hơn Napoleon III, mà vì ‘tinh thần thời đại’ của dân Phổ cao hơn tinh thần thời đại của dân Pháp.

Nhưng súng to tàu chiến, quân đội, công nghiệp không phải khó để tạo ra. Chỉ cần có đủ tiền thì có thể mua. Đó chỉ là những ‘ngoại dạng’ (external forms) của văn minh. “Nhưng còn có một cái gì phi vật chất, cái gì không thể nghe hay thấy, mua hay bán, cho vay hay mượn. Nó tràn ngập khắp quốc gia và ảnh hưởng của nó mạnh đến nổi không có nó không có trường nào, hay các ‘ngoại dạng’ khác trở nên hữu ích. Vật quan trọng tột cùng này chúng ta phải gọi tinh thần của văn minh.” (Fukuzawa)

Tôi đã nhắc đến thuyết tiến hóa xã hội của Herbert Spencer, giờ tôi xin kết thúc cũng với ý đó, nhưng từ lời nói của một nhân vật lịch sử khác. Trong buổi chiêu đãi Đoàn Iwakura ngày 15 tháng 3 năm 1873 tại Berlin, Thủ tướng Otto von Bismarck của Đức đã có những lời phát biểu sau đây gây ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với các nhà lãnh đạo Nhật Bản:

Giờ đây các quốc gia trên thế giới tất cả đều tỏ ra thân thiện và lễ phép khi họ giao tiếp nhau, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Thực tế đằng sau là ngấm ngầm sự mưu hại lẫn nhau và cuộc đấu tranh giành ưu thế…, Nếu có cuộc tranh chấp, các quốc gia lớn sẽ viện dẫn luật quốc tế khi biết họ có lợi; nhưng nếu thấy bất lợi, họ sẽ thay đổi đường lối và sẽ sử dụng quân sự. Còn chúng ta, các quốc gia nhỏ, chỉ biết siêng năng bám vào câu chữ của luật pháp và tuân thủ các nguyên tắc quốc tế, không dám vượt quá.

Tức thực tế kẻ lớn ức hiếp người bé, kẻ mạnh bắt nạt người yếu. Bismarck cho rằng một dân tộc chỉ chăm sóc tình yêu quê hương thôi không đủ. Nếu không xây dựng được sức mạnh thì đất nước sẽ không giành được sự tôn trọng trên trường quốc tế, độc lập chỉ là niềm hy vọng thôi. Bismarck kết thúc bài diễn văn với những lời sau đây:

Nhật Bản có nhiều quốc gia đi tìm quan hệ thân thiện với mình, nhưng một quốc gia như nước Đức, quốc gia đánh giá cao các giá trị của sự tự chủ, sẽ là quốc gia thân thiện nhất trong số các quốc gia thân thiện.

Mori Arinori (1847-1889), Bộ trưởng giáo dục đầu tiên của Nhật thời Minh Trị, người có công lớn như Humboldt của Đức, cũng là người bạn của Spencer, đã thấy trước cuộc đấu tranh sinh tồn của thuyết tiến hóa xã hội đang diễn ra trên thế giới, đã diễn tả sâu sắc ý nghĩa của giáo dục như sau: “Chiến tranh (sensō) không phải chỉ là đánh nhau bằng súng đạn và giết nhau, mà tất cả mọi người Nhật phải được tham gia ngay bây giờ vào cuộc chiến tranh của kỹ năng, kỹ năng của cuộc sống, của công nghiệp, thương mại, tri thức. Và đào tạo thầy giáo phải dựa trên sự chuẩn bị cuộc chiến tranh này. Thua cuộc chiến tranh này là sẽ thua cuộc chiến tranh bằng súng đạn”. Ông nói thêm: “Đất nước chúng ta phải chuyển dịch từ vị trí hạng ba lên vị trí hạng hai, rồi hạng hai lên hạng nhất; và sau cùng lên đến vị trí hàng đầu trong cộng đồng các quốc gia thế giới. Con đường tốt nhất để thực hiện điều này là đặt nền móng cho giáo dục cơ bản”. Đó là sự tiến hóa xã hội của Nhật Bản mà các nhà lãnh đạo Minh Trị đang kỳ vọng.

Đối với người Nhật, đọc sách là để khai minh, vươn lên bằng thiên hạ, không thua kém bất cứ quốc gia nào. Đọc sách còn là thuộc tính của một dân tộc văn hóa có ý thức để không ngừng phát triển và hoàn thiện mình. Một ngàn năm trước họ đã học Trung Hoa. Một ngàn năm sau họ học phương Tây. Họ không sợ học của kẻ thù, chỉ sợ vô minh vì không học. “Hãy biết kẻ thù” (Tôn Tử). Họ học sớm và học nhiều hơn Trung Hoa là quốc gia đã tiếp xúc với phương Tây trăm năm trước trước họ mà không học được gì, nhưng họ vẫn giữ được bản sắc, “tổng hợp được văn hóa Đông Tây”, trong khi Trung Hoa mới là nước vứt bỏ truyền thống của mình. Nhật Bản đã mang lửa văn minh của thần Prometheus về châu Á để thắp sáng cả vùng. Họ đã thành công, và được thế giới nể phục.

Một xã hội mà văn hóa đọc kém cõi là một xã hội tự đóng kín, một cách ý thức hay không ý thức, vì lý do này hay lý do kia, và vì thế sẽ bị tước đi các năng lực nhận thức thế giới để cải tạo mình cho phù hợp với “thời thế”, jisei. Không thể cải tạo xã hội phù hợp với đà tiến hóa nhân loại nếu giới tinh hoa không hiểu được thế giới. Nhật Bản sẽ không là Nhật Bản hôm nay nếu giới tinh hoa hôm qua của họ không am hiểu thế giới, không đọc sách của thiên hạ về các diễn trình lịch sử đã dẫn đến sức mạnh đang đe dọa họ, không nhìn thấy tận mắt mô hình các quốc gia phát triển tiên tiến, và không có bản lãnh, quyết tâm cũng như phẩm chất đạo đức của sự lãnh đạo. Mọi sự tự mãn, tự cao, hay sợ mất “bản sắc” vì bất cứ lý do gì, đều mang trong mình nguy cơ tụt hậu và suy yếu nguy hại lâu dài. Trung Hoa, một vương quốc lớn mạnh biết bao, đã phải sụp đổ trong trận chiến tranh nha phiến 1839-42, cũng chỉ vì tự cao, tự mãn và chỉ muốn ôm giữ khư khư bản sắc nghìn năm của mình, không thấy thời thế đã đổi khác xưa một trời một vực, không tiếp thu được gì quan trọng của phương Tây đang nắm giữ chìa khóa của phồn vinh và sức mạnh. Sự khước từ thông thương của vua Càn Long với phái đoàn Macartney của Anh quốc năm 1793 là sự đánh mất cơ hội cuối cùng cho một cuộc đổi mới. Càn Long không hiểu rằng cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp châu Âu đang lên đến đỉnh cao, cuộc toàn cầu hóa bằng bạo lực bắt đầu tràn tới, nước Anh đã kiểm soát một phần tư dân số thế giới.

Khoảng cách văn hóa đọc giữa Việt Nam và Nhật Bản ngày nay vẫn quá xa, đáng kinh hãi.Số lượng xuất bản một hai ngàn bản của Việt Nam bây giờ của những cuốn sách có tính chất khai sáng so với hàng triệu bản của Nhật Bản thời Minh Trị cho thấy tinh thần Việt Nam vẫn chưa tỉnh thức. Khoảng cách địa lý có thể rút ngắn trong vài giờ bay, nhưng khoảng cách văn hóa đọc và tri thức chỉ có thể đo bằng các thập kỷ, nếu Việt Nam biết dốc hết sức để lấp bằng. Nếu văn hóa đọc yếu ớt này vẫn tiếp tục tồn tại, khó tránh khỏi những hậu quả khôn lường cho Việt Nam mà không ai muốn thấy cả, kể cả bạn bè xung quanh. Nỗi lo của Phan Châu Trinh chưa vơi chút nào, xét về phương diện “chấn dân khí, khai dân trí”, nếu không muốn nói còn tăng thêm nữa. Cần phải gấp rút có cuộc chấn hưng văn hóa đọc và hiểu biết thế giới trong đó nghiên cứu và dịch thuật là việc nền tảng. Đó là mệnh lệnh của tất cả mọi người Việt Nam. Không có nghiên cứu, dịch thuật dồi dào, và nếu những việc này không được thể chế hóa, thì người Việt Nam thiếu hiểu biết về thế giới một cách nghiêm trọng, chỉ có tình yêu quê hương và hy vọng thuần túy, nhưng khó đạt đến sự phồn vinh và sức mạnh cần thiết để bảo vệ độc lập của mình. Mọi sự phát triển bên ngoài lôgíc hoàn vũ của lịch sử đều là sự kìm hãm và không đưa đất nước vào quỹ đạo phát triển của các quốc gia tiên tiến thế giới, bao nhiêu tiềm năng của con người Việt Nam sẽ bị tiêu tan, trí tuệ Việt Nam mai một, đất nước vẫn bị suy yếu, nguy cơ lệ thuộc hay làm miếng mồi cho bá quyền vẫn còn ở trước cửa./.

TÀI NĂNG VÀ ĐẠO ĐỨC.

Hoằng Chơn

Có người cho rằng không kể đạo đức hay tư cách như thế nào của một con người, nếu họ có tài năng, có những tác phẩm hay thì mình vẫn thưởng thức tác phẩm đó, vì tác phẩm có đời sống riêng của nó.

Điều này có thể không sai, nhất là đối với các tác phẩm trong những lãnh vực như âm nhạc, hội hoạ, thơ ca .. là những hình thức nghệ thuật có tính cách giải trí, làm thăng hoa tinh thần sau những giờ phút làm việc mệt nhọc.

Thật ra, nói như vậy cũng không hẳn đúng vì hình thức nghệ thuật nào cũng chuyên chở trong các tuyệt tác phẩm của mình những giá trị tinh thần rất cao, rất sâu; phản ánh được những trăn trở, những suy tư của con người và xã hội vào thời điểm xuất hiện của tác phẩm.

Mặt khác, tiêu chuẩn đạo đức hay tư cách của cá nhân thường có những khác biệt tuỳ vào từng quan điểm, từng tầng lớp, từng cộng đồng hay từng giai đoạn xã hội.

Tuỳ vào nhận định riêng của mình, mỗi người có một danh sách những con người, những tác giả hoặc tác phẩm mà mình ưa thích hay chối bỏ.

Gắn liền một người mà mình đánh giá thấp về tư cách đạo đức với toàn bộ tác phẩm qua nhiều giai đoạn của cả cuộc đời của người ấy, để rồi gạch bỏ tất cả tác phẩm của người đó ra khỏi không gian thưởng ngoạn của riêng mình, là một thái độ đen trắng rõ ràng của nhiều người hiện nay.

Điều này là lựa chọn cá nhân của mỗi người, dù đối với người khác thì cho là cực đoan. Chỉ có một điều có thể thấy được là người đó đồng thời đã bỏ đi những thời khắc thưởng thức nghệ thuật với cái rung động về cuộc sống rất riêng của những tác phẩm đó.

Huống chi là có những tác phẩm được sáng tác trong những giai đoạn mà tác giả đó chưa quay lưng về phía ánh sáng, chưa ngoảnh mặt trước những phi lý của cuộc đời, chưa bịt tai bịt mắt trước những nguy khốn của dân tộc.

Tuy vậy, dù cho một tác giả nào đó có những tác phẩm được người đời thưởng thức, thậm chí những tài năng đó dù xuất chúng như thế nào đi chăng nữa mà họ không giữ được đạo đức hay tư cách cá nhân thì thật sự họ cũng không còn được người đời kính trọng.

Tại sao vậy? Vì với vị trí là người của công chúng, họ đã đánh mất tư cách đáng quý trọng của người nghệ sĩ đích thực: Những người biết rung động trước vẻ đẹp ngỡ ngàng của cuộc sống, biết thổn thức trước những vùi dập con người, biết cảnh báo trước những nguy khốn sẽ xảy ra cho đồng bào, cho đất nước, và rộng hơn, có khi là cho cả nhân loại.

Riêng đối với những người tưởng là có thể nhờ cậy chút tiếng tăm phù du của mình để bẻ cong ngòi bút, cam tâm đem tài năng chút ít của mình để đổi chác – dù cho là những bổng lộc quá sức – rồi cũng đến lúc không thể nhìn thẳng vào mắt bạn bè, người thân, hoặc trước cặp mắt ngỡ ngàng của con cháu.

Và nhất là trong những thời khắc một mình một bóng trong tăm tối cuối đời, mới biết cái giá của miếng ăn, miếng nhục thật là quá đắt để phải đổi cả danh dự của mình và có khi là của cả gia tộc mình.

Có người tài hoa rất mực mà đến những ngày tháng cuối đời, đã cay đắng vì tình trạng “tiến thoái lưỡng nan” của mình. Con người ấy vốn quay lưng với vùng đất đã cưu mang và làm nên tên tuổi lẫy lừng cho mình, đã từng hớn hở với người chủ mới mà rốt lại cũng không thể vục mặt vào vũng lầy ngập ngụa những giả dối phi nhân của cái xứ thiên đường.

Họ thật đáng thương hại!

(Hình: Tác phẩm hội hoạ của Hoạ Sĩ Đặng Can)