LĂNG ÔNG (Ở) BÀ CHIỂU

Tác giả: Hà Đình Nguyên 

Sở dĩ phải viết cái tít (có chữ Ở trong ngoặc đơn) như vậy vì vẫn có nhiều người gốc Sài Gòn chính hiệu nhưng lại nghĩ “Lăng Ông – Bà Chiểu” là nơi chôn cất của đôi vợ chồng (ông bà) tên Chiểu, mà không biết đó là “lăng mộ của Thượng Quốc công Tả quân Lê Văn Duyệt (tức Lăng Ông) được an táng tại vùng đất mang tên Bà Chiểu”… 

Trong tất cả các lăng mộ ở khắp vùng Sài Gòn – Gia Định, chưa có lăng mộ nào so được với lăng mộ Lê Văn Duyệt về mặt bề thế, kỳ vĩ cũng như về mặt tâm linh, được nhân dân sùng bái, nhang khói mỗi ngày…

Trước năm 1975, hình ảnh cổng Tam quan với hai cây thốt nốt của Lăng Ông đã từng được chọn là biểu tượng của Sài Gòn (và miền Nam) cùng với tháp Phước Duyên của chùa Thiên Mụ (biểu tượng cho Huế và miền Trung), chùa Một Cột – chùa Diên Hựu (biểu tượng cho Hà Nội và miền Bắc). 

Lăng Ông ở Bà Chiểu rộng 18.500m², nằm giữa bốn con đường: Đinh Tiên Hoàng (nay đã được “lấy lại” tên của “chính chủ”: Lê Văn Duyệt), Phan Đăng Lưu, Trịnh Hoài Đức, Vũ Tùng trên một gò đất cao sát bên  chợ Bà Chiểu. Chung quanh khu lăng có bức tường bao bọc dài 500m, cao 1,2m được trổ bốn cổng ra vào theo bốn hướng, được xây dựng vào năm 1948. Năm sau, cổng Tam quan cũng được xây mở ra đường Vũ Tùng. Kiến trúc lăng mộ từ cổng Tam Quan vào gồm: nhà bia – lăng mộ – miếu thờ. 

Nhà bia được xây dựng như một ngôi điện nhỏ, tường gạch, mái lợp ngói âm dương. Bia bằng đá xanh đen (không thấy có loại đá này ở trong vùng) khắc chữ Hán, nội dung bia ca tụng công đức Lê Văn Duyệt đối với triều đình và nhân dân (phần cuối có nhắc đến phu nhân Đỗ Thị Phận và Phan công Lương Khê (Phan Thanh Giản) cũng được thờ trong miếu). Bia bằng đá quý, văn hay chữ tốt – tiếc rằng lại do Hoàng Cao Khải viết và cho dựng bia (Hoàng Cao Khải là đại thần thời Thành Thái, tay sai đắc lực của Pháp, người viết thư dụ Phan Đình Phùng về hàng quân Pháp – bia viết năm Giáp Ngọ 1894, tức 62 năm sau khi Lê Văn Duyệt qua đời). 

Toàn thể khu mộ đều được xây bằng hợp chất ô dước. Đặc biệt phù điêu ở 2 bức bình phong (tiền và hậu) chạm khắc những hình ảnh rất giản lược nhưng lại thật thú vị. Theo ông Trần Văn Sung (Trưởng ban Quý tế Lăng Ông) thì ở mặt trước bình phong tiền chạm hình một con đại bàng đậu trên cành cây trong tư thế đang nghênh chiến khiến con khỉ dưới đất sợ hãi, co rúm – là nói về cái uy của Lê Văn Duyệt với quân Xiêm. Ở mặt sau bình phong, chạm hình 2 con hổ: hổ phụ và hổ tử. Hổ cha nhảy lên, chân trước chạm vào vách núi nhưng mặt vẫn ngoái lại nhìn hổ con – là nói về tích Lê Văn Duyệt sắp qua đời vẫn hướng về người con là Lê Văn Khôi… Bình phong hậu chạm hình “Long vân” (rồng ẩn mình trong mây) biểu tượng của bậc quan tướng nhưng đường nét cũng rất giản lược. Hai bên bình phong hậu có đắp quai, chạm hình “lá hóa long” cách điệu. Ông Trần Văn Sung cho biết mô-típ “lá hóa long” còn được các nghệ nhân thời xưa chạm khắc trên các xuyên, kèo (gỗ) trong khung mái đền thờ. 

Phần mộ gồm hai ngôi mộ: Tả quân và vợ ông, bà Đỗ Thị Phận. Hai ngôi mộ đặt song song và được cấu tạo giống nhau, có hình dạng như nửa quả trứng úp trên bệ lớn hình chữ nhật. Trước mộ có một sân nhỏ để làm lễ. Từ nơi nhà bia nhìn vào, mộ Lê Văn Duyệt phía bên trái. Bao quanh mộ là một bức tường bằng dày hình chữ nhật, thông ra tận sân đốt nhang đèn. 

Qua khỏi khu mộ là “Thượng công linh miếu”, nơi diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân trong việc thờ cúng Lê Văn Duyệt. Bố cục của miếu bao gồm tiền điện, trung điện và chính điện. Hai bên còn có dãy Đông lang và Tây lang… Mỗi gian điện thờ cách nhau bằng một sân thiên tỉnh (giếng trời) với những mái “trùng thiềm điệp ốc” và kỹ thuật kết nối khung nhà bằng các lỗ mộng…Ngoài ra, kỹ thuật chạm khắc gỗ, chạm khắc đá, khảm sành sứ… càng làm tăng thêm vẻ đẹp cổ kính của Lăng Ông. 

Lê Văn Duyệt sinh năm 1764 tại vàm Trà Lọt (Cái Bè, Định Tường nay thuộc tỉnh Tiền Giang), nguyên quán tại làng Bồ Đề (huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi). Mới sinh ra đã bị dị tật ở chỗ kín (ái nam, ái nữ), tuy nhiên lớn lên ông rất khỏe mạnh, giỏi võ nghệ, thông minh. Ông luôn ao ước mình sẽ trở thành một hào kiệt như trong các truyện tích tuồng Tàu mà ông thuộc làu. 15 tuổi ông đã nói: “Làm trai sinh trong thời loạn, không dựng cờ đánh trống làm đại tướng, chép công danh vào sử sách thì không phải bậc trượng phu”… Rồi trong một đêm mưa to gió lớn, trên đường trốn chạy sự truy đuổi của quân Tây Sơn, thuyền của chúa Nguyễn Ánh bị chìm gần vàm Trà Lọt. Gia đình ông Lê Văn Toại (cha của Lê Văn Duyệt) chèo xuồng ra cứu thoát và đưa về nhà tá túc. Thưởng công cứu giá, chúa Nguyễn nhận Lê Văn Duyệt làm thái giám lúc ông 17 tuổi. Ít lâu sau, Lê Văn Duyệt được phong làm Cai cơ trông coi nội binh. Từ năm 1789 (25 tuổi) Lê Văn Duyệt đã đứng vào hàng ngũ các tướng lĩnh của chúa Nguyễn và là một trong “Ngũ hổ đại tướng” (cùng với Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Nhơn, Nguyễn Văn Trương và Trương Tấn Bửu). Ông theo chúa Nguyễn đánh đông dẹp bắc, qua tận Cao Miên và Lào… 

Tháng 5/1802, chúa Nguyễn lên ngôi vua (Gia Long), Lê Văn Duyệt được liệt vào hàng “Đệ nhất Khai quốc công thần”, vua phong cho ông là Khâm sai chưởng Tả quân dinh Bình Tây tướng quân, được đặc ân “nhập triều bất bái” (vào chầu vua không phải lạy) và đặc quyền “tiền trảm hậu tấu” (chém trước tâu sau)… 

Sau này, vua triệu ông vào bàn chuyện truyền ngôi, Lê Văn Duyệt đã phản đối việc vua bỏ dòng trưởng (của Hoàng Tử Cảnh, chết năm 22 tuổi) để lập dòng thứ (Nguyễn Phúc Đảm tức vua Minh Mạng). Dù vua Gia Long không nghe theo nhưng vua biết Lê Văn Duyệt là người tài giỏi và trung thành, nên vẫn tin cậy trao phó trách nhiệm phò tân quân (Minh Mạng). Tuy nhiên vì việc này mà vua Minh Mạng đem lòng oán ghét ông. Lại thêm mỗi khi vào chầu, Lê Văn Duyệt ỷ vào cái quyền “nhập triều bất bái” mà không lạy vua Minh Mạng, rồi lại dùng quyền “tiền trảm hậu tấu” mà chém đầu Phó Tổng trấn Huỳnh Công Lý là cha ruột một sủng phi của vua làm vua càng “lộn ruột”. Tuy thế, uy danh của Lê Văn Duyệt rất lớn nên vua đành vẫn phải để ông làm Tổng trấn Gia Định lần thứ hai cho đến lúc ông qua đời (lần đầu vào thời Gia Long từ năm 1813-1816, lần hai từ năm 1820-1832 là năm ông qua đời). 

Sau khi ông mất, vua Minh Mạng bãi chức Tổng trấn Gia Định, đổi tên là thành Phiên An, cho Bạch Xuân Nguyên giữ chức Tổng đốc và Nguyễn Văn Quế chức Bố chánh cùng nhau trông giữ. Bạch Xuân Nguyên, Nguyễn Văn Quế đã đối xử bất công với những người thân tín của ông, khiến Phó Vệ úy Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt) nổi loạn giết chết 2 ông này và chiếm thành Phiên An vào năm 1835. Phải mất 2 năm công thành, quan binh triều đình mới hạ được Phiên An. Tất cả mọi người trong thành đều bị hành hình (gồm 1.831 người, chôn chung một chỗ gọi là “Mả Ngụy”).

Lê Văn Duyệt dù đã chết cũng không tránh khỏi liên lụy, vẫn bị trả thù. Sau khi các quan đại thần dâng biểu nghị án, vua Minh Mạng ra chỉ dụ: “Tội Lê Văn Duyệt nhổ từng cái tóc mà kể cũng không hết, nói ra đau lòng, dù có bổ quan quách mà giết thây cũng là đáng tội. Song nghĩ hắn chết đã lâu, và đã truy đoạt quan tước, xương khô trong mả không bõ gia hình. Vậy cho Tổng đốc Gia Định đến chỗ mả hắn, san làm đất phẳng và khắc đá dựng bia ở trên khắc những chữ “Quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xử” (Nơi hoạn quan Lê Văn Duyệt chịu tội – NV), để chính tội danh cho kẻ đã chết mà tỏ phép nước về đời sau, làm gương cho kẻ quyền gian muôn đời”. Vậy là mộ Lê Văn Duyệt bị san phẳng (nhưng không bị xiềng xích như nhiều tài liệu ghi lại)… 

Năm 1841, vua Thiệu Trị lên ngôi, xóa tội cho các danh thần bị hàm oan gồm Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành và Lê Chất… Năm đầu Tự Đức (1848), Đông Các đại học sĩ Võ Xuân Cẩn dâng sớ xin phục hồi quan tước, gia ơn cho con cháu các công thần, trong đó có Lê Văn Duyệt. Vua Tự Đức xem sớ cảm động mới truy phong lại cho cả ba ông và ban phẩm hàm cho con cháu họ. Lại cho đắp phần mộ Lê Văn Duyệt ở Gia Định cao rộng thêm và cho sửa sang miếu thờ. Chánh thất của ông là bà Đỗ Thị Phẩn không bị kết tội. Bà đã vào tu trong một ngôi chùa rồi mất ở đó, bà được an táng bên cạnh mộ Tả quân…

Ngoài lăng mộ của  ông bà còn có 2 ngôi mộ của hai cô hầu nằm bên ngoài khuôn viên lăng. Một mộ ở đường Trịnh Hài Đức, mộ kia ở đường Đinh Tiên Hoàng (nay là đường Lê Văn Duyệt – trong khuôn viên Trường Cán bộ TP.HCM). 

Ngày 6/12/1989, toàn bộ khu lăng được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia. 

Bài, ảnh: H.Đ.N

Leave a Reply Cancel reply