PHỞ CÁ

Vũ Thư Hiên

Tùy bút 

Xứng với vị thế của nó, đất Thăng Long nổi tiếng từ xưa về vô vàn món ăn ngon, từ món đơn giản nhất đến món cầu kỳ nhất, món nào cũng đứng trên đỉnh cao của nghệ thuật ẩm thực để có được sự khoái khẩu cho thực khách. Đặc điểm này là niềm tự hào của người thủ đô.

Nhưng không cứ nổi tiếng có nhiều món ngon thì ắt sẵn người sành ăn. Người biết thưởng thức nghệ thuật ẩm thực của đất kinh kỳ khi đông khi vắng, mỗi đời mỗi khác. Thế hệ tôi thì thôi, chẳng nói làm gì. Nó là thế hệ bỏ đi, thế hệ chém to kho nhừ, thế hệ lấy có làm vui, lấy no làm khoái, ngon hay không ngon bất thành vấn đề. May thay, trong thế hệ cha chú tôi còn rơi rớt vài nhân vật sành điệu trong lĩnh vực thứ nhất trong tứ khoái . Mấy vị hiếm hoi này, vị nào vị nấy đều xứng là kỳ nhân, đáng để lớp hậu sinh cung kính vái dài, xin phép được ngồi ké bên mép chiếu, chắp chân bằng tròn mà nghe các cụ bình về cái sự ăn sự uống của cha ông. 

Người cùng thời đều biết tên biết mặt các vị, nhưng đọng lại được trong văn chương thì chỉ có hai: Thạch Lam và Nguyễn Tuân. Không biết cụ Thạch Lam thọ bao nhiêu tuổi trời, cứ ang áng mà tính thì cũng xấp xỉ tuổi cụ Nguyễn hoặc hơn kém chút đỉnh. Khác nhau ở chỗ một đàng chết trẻ, một đàng chết già, cho nên đám hậu sinh cứ Thạch Lam trống không mà gọi, còn với Nguyễn Tuân thì người ta cung kính gọi bằng cụ Nguyễn, ông Nguyễn, bác Nguyễn. Có thể tính thêm vào đấy một Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, nhưng đấy là người chơi ngông, người lập dị trong văn hóa ẩm thực, chứ không hẳn là người sành điệu. Cụ Tản Đà bày ra những món rất cầu kỳ, nghe sướng tai thật, nhưng người theo cụ ngày một ít dần. Cái miệng con người ta thế tục lắm, chẳng thế mà nó ở vị trí thấp kém so với cặp mắt, đôi tai. Thạch Lam sở dĩ còn mãi là nhờ những món sang có hèn có được ông tâng bốc đến tận mây xanh trong Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường (tại sao lại không băm sáu nhỉ?). Vũ Bằng với Thương Nhớ MườI Hai là một sự nối dài cho Thạch Lam, nhưng không hơn. Nguyễn Tuân sống lâu hơn cái chết của ông có phần cũng nhờ tùy bút Phở. Ai đã đọc bài Phở của Nguyễn rồi có bảo “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!” cũng không sao, Nguyễn không giận. Nguyễn bất cần. Ông khẳng định trong cái tuỳ bút này cả quan niệm lẫn tình yêu của mình đối với phở một lần cho mãi mãi. Nói về phở mà không nói đến tùy bút Phở của Nguyễn Tuân coi như thiếu đứt một mảng giá trị của văn chương tác gia họ Nguyễn.

Nhà văn Nguyễn Tuân

Mặc dầu vậy, điều đó không có nghĩa là với tùy bút Phở Nguyễn Tuân đã đánh dấu chấm hết cho mọi chuyện phở. Như ngôn ngữ, phở tồn tại, phở biến dạng cùng với thời gian, phở tự đổi mới, phở luôn luôn trên đường phát triển, và chuyện phở sẽ chẳng bao giờ hết, kể cả các thứ phở lôm côm đang diễn biến trước mắt chúng ta. Tất nhiên, phải bỏ ra ngoài mấy thứ phở không người lái của thời rớt mồng tơi, phở đại nhảy vọt, phở tả pí lù, lấy nhanh nhiều tốt rẻ làm trọng, phở hãnh tiến thời “bung ra” hay còn gọi là thời “mở cửa” được nhà hàng thêm cả thìa mì chính cánh và vài quả trứng gà tươi vào bát, thứ phở mà nhác thấy nó văn gia họ Nguyễn đã kêu trời : “Này, tôi không ăn cái phở tẩm bổ của các vị đâu đấy nhá! Tôi chỉ công nhận một thứ phở thôi, ấy là phở chín!”.

Còn nhớ năm 56, Nguyễn Tuân mang cho tôi một tuyển tập Anton Tchekhov ông mới dịch. Mở nó ra, tôi thấy ông ghi lời tặng lên danh thiếp rồi mới gài nó vào sách bằng đinh ghim. “Không phải sách của tôi, không thể đề tặng bậy bạ lên sách người khác được. Ông Tchekhov mà biết, ông ấy mắng cho bỏ mẹ”. Nhắc chuyện này để thấy Nguyễn Tuân kỹ tính thế nào. Khốn nỗi, không thế không phải là Nguyễn Tuân. Có cầu kỳ trong mọi chuyện nhỏ nhặt ông mới trở thành kẻ sành điệu được nhiều người bái phục trong cả những lĩnh vực ngoài văn chương.

Nhà văn Vũ Thư Hiên

Có gần văn gia nổi tiếng này, tôi mới phát hiện một điều không bình thường: trong chúng ta chưa một ai biết Nguyễn Tuân thật ra làm sao hết, tức là, tôi muốn nói một Nguyễn Tuân trời sinh đất dưỡng, một Nguyễn Tuân tự nhiên, với tính cách do trời phú. Chúng ta chỉ biết một Nguyễn Tuân nhân tạo, một Nguyễn Tuân tự nhào nặn ra mình. 

Không biết tự bao giờ, Nguyễn Tuân bắt đầu công việc ấy. Ta chỉ  biết chính ông đã làm ra cái sự độc đáo, cái sự không giống ai, cho riêng mình, từng chút một, dần dần dà dà, để rồi nó ngấm vào ông, nhập vào ông, làm thành một Nguyễn Tuân như ta biết.

Từ Liên Xô tôi mang về biếu ông một chai samagon, thứ vodka dân dã bị Nhà nước xô-viết cấm tiệt. Nó có vị đặc biệt, không giống sakê nhạt thếch của Nhật, không giống Mao Đài của Tàu, mà từa tựa như rượu quê bên ta một thời được gọi là “quốc lủi”. Cái tên độc đáo này xuất hiện cùng với lệnh cấm nấu rượu của nhà nước. 

Nguyễn Tuân hài lòng với món quà của tôi. Ông trịnh trọng rót vodka vào một chén mắt trâu men ngọc, được lên mũi hít hà, chậm chạp nhấp một ngụm, khà một tiếng, rồi kết luận :” Xem ra thứ gì cũng vậy, không có ông Nhà nước thò tay vào thì ở đâu cũng ngon!”. 

Để cảm ơn tôi lích kích đường xa mang samagon về cho ông, buổi tối ông rủ tôi lên phố hàng Giầy ăn phở :”Còn mỗi mình hàng này đáng gọi là phở”. 

Năm 1956 là năm thanh bình, Cải cách ruộng đất đã xong, người chết oan đã mồ yên mả đẹp, Nhân văn – Giai phẩm bị Nhà nước đập tan, văn nghệ sĩ chỉ bị giết cái sinh mệnh chính trị  chứ vẫn sống nhăn, dân Hà Nội được xả hơi trong khi các bậc chèo lái quốc gia chưa kịp nghĩ ra một cuộc đấu tranh kế tiếp, hàng quán ê hề, vui mắt lắm.

Chúng tôi đi ăn tối – Nguyễn Tuân không có thói quen ăn phở sáng sớm. Ông nói ông thích xì xụp bát phở nóng dưới ánh sáng điện không chói chang, bên cạnh những tay cũng nghiện phở thâm căn cố đế như ông. Các vị nghiện phở gặp nhau chan chát hóa quen, vừa ăn vừa gật gù với nhau. 

Phở hàng Giầy vào năm ấy ngon thật, nhất là món chín mỡ gầu. Nước ngọt lự. Mỡ gầu lựt xựt. Ăn buổi tối sáng hôm sau còn thấy dư vị phở trong miệng. Cũng năm ấy, tùy bút Phở ra đời.

Nguyễn Tuân kênh kiệu sướng cái tùy bút này. Nhà văn vốn không hài lòng về mình chỉ hay nhắc đến Sông Đà và Phở trong những sáng tác sau Cách mạng Tháng Tám. Hai đứa con tinh thần này giống bố hơn cả. Khi nào Nguyễn Tuân sướng ông mới hay hỏi về con mình “Anh thấy nó thế nào?”.

Tôi nói tôi thích. Ông ghé cái trán bóng về phía tôi :

– Bây giờ thiên hạ sính nói chuyện lập trường, mình lại nói chuyện phở mà không bị bắt bẻ, thế là tốt lắm rồi.

Tôi kể chuyện cho ông nghe chuyện khi bay qua Bắc Kinh tôi được ăn phở tàu do nhà văn Ngô Y Linh thết. Ngô Y Linh, tức Nguyễn Vũ về sau này, hồi đó đang học trường kịch nghệ Bắc Kinh. Trong cái quán lúp xúp gần chợ tầm tầm Đông Tứ (Tung Sư), người ta dọn cho tôi một bát phở lõng bõng, phở thịt lợn không phải phở thịt bò, bánh thì to bản giống bánh canh Nam Định, không rau thơm, không hành hoa, hành củ, không ớt tươi, không chanh cốm, bên trên lềnh bềnh mấy lá hẹ dài ngoẵng. Vị nước dùng của phở tàu hoàn toàn không giống vị phở Việt, nhạt thếch. 

Ngô Y Linh nhìn tôi bằng cặp mắt thương hại rồi an ủi tôi rằng chữ phở là do anh đặt, ăn để đỡ nhớ phở Việt, chứ tên món ăn này khác, anh nói tên nó cho tôi biết, tất nhiên bằng tiếng tàu, tôi nhắc lại rồi quên ngay lập tức. Thấy cái nhìn ngờ vực của tôi trước bát phở Tàu, anh nói tôi đang được hân hạnh làm quen với tổ tiên của phở đấy, thứ phở này có trong lịch sử Trung Quốc từ lâu lắm rồi, có dễ từ đời ông Bành Tổ kia. Anh còn nói ở Trung Quốc có nhiều loại phở, chúng đa dạng lắm, chửa biết chừng phở của ta là con cháu nó lưu lạc xuống phương Nam. 

Ngô Y Linh giỏi tiếng tàu, uyên bác mọi mặt, đã nói thế chắc phải đúng. Bằng chứng là cùng ngồi với chúng tôi có một cô nàng mỹ lệ, mắt đen lay láy, Tàu chính cống, Tàu trăm phần trăm, cũng đồng nghiệp diễn viên kịch nói với Ngô Y Linh. Hai anh chị vừa ăn vừa nhìn nhau đắm đuối và tán nhau như khướu.

Nguyễn Tuân nghe tôi kể, mặt không vui. Văn gia họ Nguyễn, nhà ái quốc thứ thiệt của văn hóa ẩm thực Việt Nam, nhất định không chịu một tổ tiên tàu cho món phở quốc túy quốc hồn.

– Tôi cũng ăn cái thứ phở ấy rồi. Thế gọi là phở thế đếch nào được! – ông lầu bầu.

Tôi không dám tranh luận với bác Nguyễn về nguồn gốc phở. 

Phở là lĩnh vực của ông, chớ có liều mà cãi. Ông lại là người cứng đầu trong chủ nghĩa yêu nước, rất mực bảo thủ, cũng theo cách riêng của ông, kiểu như ông yêu nước phở lúc này. Sau chầu phở, chúng tôi ngồi nhâm nhi cà phê Nhân ở phố Cầu Gỗ vào mười hai giờ khuya, nghe gió Hồ Gươm thoảng vào căn phòng mịt mù khói thuốc, nhàn tản bàn về vài dị bản phở trong kháng chiến chống Pháp, phở vịt Bảo Hà, phở chó Cốc Lếu, phở chua Tàu Bay ở thị xã Tuyên Quang… 

Nguyễn Tuân độ lượng tha thứ cho những chi phở không mấy trung thành trong họ nhà phở. Ông chỉ sôi nổi hẳn lên khi tôi nói đến phở cá.

– Anh nói cái gì? Phở cá? – Nguyễn Tuân cao giọng hỏi.

– Vâng, phở cá – tôi nói.

Nguyễn Tuân ngả người ra sau, nhìn tôi bằng cặp mắt đầy vẻ hoài nghi. 

Tôi ngạc nhiên. Tôi không tưởng tượng được Nguyễn Tuân rất mực thông tuệ lại không biết đến phở cá. Đó là thứ phở chỉ có ở đồng bằng đất thịt quê nội tôi, mà cũng chỉ có trong một thời đã xa lơ xa lắc. Có dễ cụ Tú Xương đã từng ăn thứ phở này trong những đêm thanh vắng để rồi hào phóng cho chúng ta những vần thơ rất mực đồng bằng : “Vẳng nghe tiếng ốc bên tai. Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò…”. 

Người làng Mọc bên quê ngoại tôi, cũng là quê bác Nguyễn, (tính về họ hàng bác Nguyễn ở vai trên mẹ tôi), chắc hẳn, nói là chắc chắn cũng không sai, không thể biết đến thứ phở đó.

Tôi nói như thề với bác Nguyễn rằng tôi không bịa. Vào những năm tôi còn là đứa trẻ, đã có một thứ phở như thế. Đêm đêm, trên những đường làng tĩnh mịch thỉnh thoảng lại vẳng đến tai tiếng tắc tắc đều đều của một gánh phở cá lang thang. Không rao “phơơ..ớ” như phở đêm Hà Nội, gánh phở cá lầm lũi đi trong bóng tối mịt mùng, vừa đi vừa phát ra tiếng gõ đều đều vào một mảnh tre đực già, với một chai đèn dầu lạc lúc lắc chập chờn như ma trơi.

Gọi là gánh phở nhưng nó không giống gánh phở rong kinh kỳ. Nó là một cái gì đó nằm giữa gánh bánh cuốn Thanh Trì và gánh phở Hà Nội. Thay vào thùng nước phở gò bằng tôn là cái nồi đất lớn đã dùng qua vài đời người, đen xì và bóng nhãy, được đặt trên một cái giá bốn chân. Bên kia là một cái giá khác chứa một cái tủ nhỏ đựng bát đũa, bánh phở, gia vị, một cái thớt tí xíu, và dưới cùng là một cái chậu sành đựng nước rửa.

– Nó là một thứ riêu cá chăng?

– Không phải, thưa bác, không phải riêu cá. Vị của nó chính là vị phở, chỉ có điều không phải phở bò… Nếu là riêu cá thì không thể thiếu cà chua, hành hoa, với thìa là tươi, là các thứ rất sẵn ở đồng bằng.

– Hừm!

Ông nhăn mặt, ông nheo mắt, và im lặng. 

Đấy là lão trượng họ Nguyễn có điều suy nghĩ. Tôi cảm thấy sung sướng trong lòng. Như thế là tôi đã khuấy động được sự quan tâm của ông đối với phở cá.

Tôi đánh bạo thưa với bác Nguyễn rằng phở cá, theo tôi nghĩ, là một thứ phở độc đáo, đã chìm trong quên lãng, thế nhưng trong các thứ phở hiện đại, có dễ phở cá mới là thứ phở có nguồn gốc lâu đời nhất, có thể từ thời người Việt còn xăm mình để chiến đấu với các loại thủy quái. 

Ở đồng bằng sông Hồng con cá hiện diện trong mọi mâm cơm. Nó là con vật gần gụi. Tại sao người ta không làm phở thịt? Thịt trâu chẳng hạn? Thịt bò thì không nói làm gì, bởi vì ở quê tôi, đất Nam Hạ, bò  là con vật hiếm, người ta không nuôi. Nó yếu, cày đất thịt không nổi, bừa thì cũng chỉ bừa gãi bừa chùi, chẳng ăn thua gì, nông dân lại không có thói quen uống sữa bò. Lợn nhiều, gà nhiều đấy, nhưng dân vùng tôi nghèo, đức tiết kiệm cao, một vài lạng thịt lợn kho mặn đủ cho một gia đình vui vẻ cả tuần, con gà chỉ bị giết khi có khách. Phở thịt trâu cũng không có. Ngày xưa người ta không chuộng thịt trâu, các cụ lang kêu thịt trâu lạnh, ăn dễ sinh bệnh, hơn nữa, con trâu là đầu cơ nghiệp, chẳng ai bỗng dưng vật con trâu ra mà giết. Chỉ những con trâu sa hố gãy chân, hoặc trâu từ mạn ngược đưa về bị ngã nước mới bị làm thịt. Lại cũng theo lời khuyên của các ông lang, trâu có màu đen, thuộc âm-lạnh, làm món ăn thịt trâu thì phải cho gừng tươi (sinh khương) vào cho nó khắc cái lạnh ấy, thành thử món phở thịt trâu hiếm hoi ngày ấy (thỉnh thoảng cũng có) bao giờ cũng có vị gừng. Bò thường không có bò đen như trâu, nhưng cho đến nay phở bò phải có gừng là mang cái vị truyền thống của phở trâu ngày ấy, có thể là như vậy. Phở cá là có thật. Ở đầu thế kỷ trước, chắc thế, nó là món ăn thông dụng, có cái lý của nó. Ở đồng bằng Bắc bộ, cá không phải nuôi, tự nó sinh ra, tự nó kiếm sống, như cào cào châu chấu ngoài đồng, thứ thức ăn rang mặn được gọi là món tôm bay.

Tất cả những cái đó giải thích vì sao con cá quả chắc thịt của những ao tù lại có hân hạnh nằm trong bát phở, vì sao phở cá, theo tôi, lại là thuần Việt. Bánh của phở cá không phải thứ bánh phở chuyên như ngày nay người ta sản xuất bằng máy, mà là tấm bánh đa quen thuộc của đồng bằng ở dạng phơi tái, xắt to bản hơn phở ngày nay, cách nhúng bánh thì cũng giống y các gánh phở Hà Nội, có điều nước dùng thì khác. Nó tất nhiên không có vị xương bò mà có vị cá, tuy cũng thơm mùi thảo quả, hoa hồi, quế chi, gừng tươi nhưng lại thêm hương thìa là đồng nội. Khó tả cái nước dùng này nó thế nào, cơ mà ngon. 

Phở cá cũng phải ăn nóng hổi như phở bò, rất hợp với hồ tiêu bột, ớt tươi và chanh cốm. Thời tôi còn nhỏ, không thấy có tương ớt đựng trong lọ, càng không thấy nó được đi với phở. Tương ớt chính hiệu xuất xứ Trung Quốc chỉ có mặt ở các hiệu cao lâu tàu và ở mấy hàng thịt bò khô, bên cạnh chai dấm ớt Việt Nam.

Một đặc điểm nữa của phở cá là nó chỉ xuất hiện vào cuối thu đầu đông, khi cái nóng hè đã dịu, khi gió bấc dục dịch tràn về. Vào những hôm trời rét mà được một bát phở cá bỏng miệng trước khi chui vào chăn thì tuyệt. Dân nghèo chẳng mấy khi cho phép mình ăn phở hàng ngày, cho dù là phở cá do người thôn trên, xóm dưới hoặc chính ông hàng xóm làm, với giá lấy công làm lãi. Vì phở cá rẻ như thế, nó mới thành được món ăn đêm của người đồng bằng tằn tiện, kể từ chú mõ, anh trương tuần cho tới ông chánh tổng, lý trưởng, ông chưởng bạ. Bà cô già của tôi, nổi danh cả họ vì tính riết róng, thế mà thỉnh thoảng nghe tiếng tắc tắc ban đêm, cũng nhỏm dậy:”Có phải phở không, cháu? Cháu ra ngõ gọi đi, bảo làm hai bát!”. Tôi le te chạy vào đêm mực tàu, cất tiếng hú gọi rồi cứ co ro đứng đấy, hai tay kẹp nách, cho tới khi dẫn được ông hàng phở cá vào sân. Chỉ tiếc cái bát chiết yêu của ông quá nhỏ. Miệng bát loe ra như cái loa, nhưng trôn thắt lại một cách trắng trợn. Nó chỉ chứa một lượng phở ít ỏi. Tôi ước gì nó lớn gấp đôi.

Tôi còn nhớ một đêm ăn phở cá, cô tôi trả bát rồi, lấy đôi đũa quệt miệng rồi, mới dịu dàng nhắc ông hàng phở quen: “Này, chớ có thái quá bất cập nhá! Cua đồng một hai con cho nồi nước dùng là đủ. Nhiều là tanh đấy”. Ông hàng phở giật mình, cười thẹn :”Bà tinh quá, mẹ nó nhà con quả có quá tay, tính nó vốn tham”. Thì ra các hàng phở cá vùng quê thường bỏ vào nồi nước dùng, tùy theo nồi to nồi nhỏ, vài con cua đồng nướng cháy. Hồi ấy người ta chưa biết dùng mấy con giun biển sấy khô, nay đã có tên Việt nhập cư là xá xùng (do chữ sa trùng của Trung Quốc mà ra).

Ôi, cái vị phở cá nhà quê của tôi! Nó ngon là ngon trong cái thuở ấu thơ nghèo của tôi thôi, cái thuở những con cá lực lưỡng còn được tung tăng trong các ao làng, cua còn bò lổm ngổm trên đồng, và sáng sáng chào mào, sáo sậu còn đánh thức tôi bằng tiếng la hét om xòm của chúng, khi thiên nhiên của chúng ta chưa bị đánh cho tơi tả, đánh cho mất mật, đến nỗi giờ đây con cá quả chẳng lớn nổi đến ngày được vào nồi cháo ám.

Phở cá miền quê là thứ phở bình dân một thuở, thứ phở thôn dã nghèo nàn, làm sao ngon bằng phở chín độc vị ở đất kinh kỳ của Nguyễn Tuân, nhưng nó thật độc đáo, thật Việt Nam. 

Và cái chính, cái quan trọng nhất đối với tôi, là nó đã luồn sâu vào nỗi nhớ quê hương da diết để rồi nằm lại đó cho tới tận bây giờ.

Sailing off into the sunset. Happy 25th anniversary, my love! 

Phong Thanh Duong đã thêm một ảnh mới — với Phượng Bảo tại Puerto Vallarta.

19 tháng 5 lúc 20:57

Sailing off into the sunset. Happy 25th anniversary, my love! 

If I had to start all over again I’d do the same. 

“Có ai biết đâu chuyện tình cờ 

Có ai biết đâu nào là ngờ…”

Vào một đêm trăng sáng tôi đặt bút xuống ký từ chối lá thư nhận vào trường đại học Waterloo. Có ngờ đâu rằng, đó lại là quyết định làm thay đổI cả cuộc đời tôi sau đó!

University of Waterloo là trường giỏI nhất Canada về ngành kỹ sư, được so sánh với MIT của Mỹ, nên thường gọi là “MIT of the North”. Vô được trường này không dễ, nhất là lại vào ngành Computer Engineering, là ngành tough nhất, khó vào nhất của Waterloo. Vậy mà tôi lại đi turned down cái offer đó!

Năm 1986 tôi cùng gia đình sang định cư ở Canada. Sang đây đã quá tuổi để đi học high school, gia đình lại cần nhiều thứ trang trải ban đầu nên tôi quyết định ra đi làm full time một thời gian trước khi đi học trở lại.  Nhìn bạn bè đi học thấy cũng buồn, nhưng ba mất sớm tôi muốn đi làm thêm để phụ má nuôi hai em còn nhỏ. Suốt 4 năm trời liên tục sáng tôi đi làm hãng gỗ, tối về cắp sách đi học để lấy chứng chỉ cần thiết vào đại học. Năm 1989 được nhận vào Waterloo, tôi từ chối để đi làm thêm một năm nữa. Rồi năm sau tôi lại nộp đơn nữa, nhà trường chắc thương tình sao đó nên nhận ngay. Thế là tôi khăn gói giã từ thành đô hoa lệ Montreal để về thành phố buồn Waterloo làm chàng sinh viên nghèo lãng tử!

Waterloo có chương trình Co-op nổi tiếng thế giới. Sinh viên thay phiên vừa học vừa làm, học một semester 4 tháng rồi đi làm thực tập 4 tháng, cứ thế liên tục trong suốt 5 năm không nghỉ hè. Khi ra trường thì đã có 2 năm kinh nghiệm, nên phần đông đều có việc làm ngay, nhiều khi chưa ra trường đã có offer đợi sẵn. Vì chương trình co-op như thế, trường chia sinh viên làm 2 streams, stream 4 và stream 8, để lúc nào cũng có một nửa sinh viên đi học và một nửa sinh viên đi làm. Vì vậy sinh viên tuy vào cùng một niên khoá, nhưng nếu khác “stream” thì sẽ không bao giờ gặp nhau trong suốt 5 năm, chỉ trừ semester đầu tiên và cuối cùng .

Có ai biết đâu nào là ngờ…vì nếu tôi nhận vào học ngay năm ấy thì chắc chắn tôi đã không gặp nàng!  Nàng vào năm 89 học stream 4, còn tôi nếu vào năm ấy sẽ học stream 8, khi đó chuyện đời của chúng tôi có lẽ sẽ như là Ngưu Lang Chức Nữ! Chỉ vì quyết định bỏ học đi làm để rồi vào Waterloo trễ hơn một năm mà chúng tôi có dịp gặp nhau. Và như người ta thường nói, the rest is history!

Năm 93 chúng tôi làm đám hỏi, năm 94 rồi 95 chúng tôi lần lượt ra trường. Năm 96 chúng tôi làm đám cưới. Năm 97 có con trai đầu lòng Bi anh ở Toronto. Rồi năm 99 chúng tôi rời xứ lạnh tình nồng Canada để tìm về miền nắng ấm Cali, Bi em chào đời ở San Diego cũng cùng năm đó. 

Thời gian qua vèo thấm thoát như bóng câu bên cửa. Thấy vậy mà đã hai mươi lăm năm chia ngọt sẻ bùi. Nếu phải làm lại từ đầu tôi cũng sẽ bắt đầu y như vậy…từ chối lá thư nhận vào Waterloo năm ấy!

Happy 25th anniversary, my love!

DOES LIFE IMITATE ART, OR ART IMITATE LIFE? 

Phong Thanh Duong

Đến Puerto Vallarta phải đi trên “Malecón” là boardwalk chạy dài theo bãi biển chính và phố cổ để chiêm ngưỡng những công trình nghệ thuật điêu khắc tuyệt vời. Trong số đó có bức tượng “The Boy and the Seahorse” đã trở thành biểu tượng của thành phố.

“Lluvia” (Mưa) là tác phẩm mới nhất của điêu khắc gia Jovian được dựng lên ở Malecon năm 2020 giữa mùa đại dịch. Bức tượng một chàng trai vươn tay hướng lên trời đón mưa, như là biểu tượng cho tấm lòng hiếu khách của người dân Puerto Vallarta, cũng là tượng trưng cho hy vọng và sức sống vươn lên giữa khô cằn tuyệt vọng!

“Lluvia” (Mưa) là tác phẩm mới nhất của điêu khắc gia Jovian được dựng lên ở Malecon năm 2020 giữa mùa đại dịch.

Jovian comments on his inspiration for the sculpture:

“I conceived the piece as a representation of Puerto Vallarta and I decided to call it ‘Rain’ as rainy afternoons in Puerto Vallarta are spectacular.

I tried to present a man with open arms as a symbol of openness, positively receiving what the world offers him with a gesture of happiness and fulfillment eyes looking up into the rain without that affecting his peace but rather enjoying the water that falls on his body and making him feel free and alive.

That is what Vallarta is for me, a city with great openness, which welcomes locals and strangers with open arms. I have never known another city where people who come from other places feel so “at home”. It is a lively city, with great freedom and diversity and it is always there, despite inclement weather, good and bad seasons, climatic phenomena, etc., undaunted waiting for new inspiration, new people, more water brought by the rains, in peace, enjoying what life gives it and transmitting that happiness to those who come to visit it.”

Lluvia (Rain) – Jovian (2020) – Puerto Vallarta Malecón

Gặp gỡ tháng Tư – Chị Đẹp

Tho Nguyen cùng với Dep NguyenLeigh Boughton Small.

Trong buổi giới thiệu sách “Hai Quê Hương” hôm 28.3.2021 tại Sài Gòn, có một người phụ nữ nhỏ bé đi cùng cô cháu gái đến dự. Chị mua hai quyển sách rồi ngồi yên một chỗ, không nói gì. Tuy chưa gặp nhau lần nào, tôi nhận ra đó là chị Nguyễn Thị Đẹp, người mẹ đã 44 năm bền bỉ, mòn mỏi đi tìm Mai, đứa con gái bé bỏng mà chị gửi sang Mỹ trong chuyến bay ngày 26.4.1975 của chiến dịch Babylift.[1]

Tháng 8.2019, quyết tâm và hy vọng của bà mẹ đã được đền đáp. Nhờ sự giúp đỡ của những người nhân hậu ở cả Việt Nam và Mỹ, chị Đẹp đã tìm thấy Mai và tháng 11 năm đó, hai mẹ con chị đã sum họp tại chính nơi chôn nhau cắt rốn của bé Mai, nay là một bà đầm Mỹ xinh đẹp với cái tên Leigh Boughton Small. Câu chuyện có hậu này đã được truyền thông Việt-Mỹ nhắc đến, làm xúc động hàng triệu trái tim. Tôi đã viết câu chuyện tình mẫu tử này ở đây[2]

Thăm chị Đẹp đầu tháng Tư 2021 tại Thủ Đức

Vì vậy tôi rất áy này khi chưa kịp làm quen, chưa kịp chụp một tấm ảnh mà chị đã phải xin phép ra về. Chị nói, cô cháu gái có việc gấp phải đi. Tôi xin phép được đến thăm chị khi có điều kiện.

Tôi lưu lại ở Việt Nam gần nửa năm nay để chăm sóc má tôi, nên tôi hiểu giá trị của người mẹ. Nhân một hôm má tôi tỉnh táo, tôi tranh thủ thăm chị Đẹp. Trong một hẻm nhỏ Thủ Đức là căn nhà mấy chị em chị đã chung tay tạo dựng nên. Căn nhà tuềnh toàng, rất ít đồ đạc nhưng thoáng mát, ngăn nắp.

Trước mặt tôi là một phụ nữ gầy yếu với khuôn mặt khắc khổ, đã vượt qua một đường đời gian nan nhờ nghị lực sống phi thường.

Dù chỉ được hưởng học vấn trung bình ở miền Nam thời đó, nhưng trí thông minh tiềm ẩn trong chị đã giúp chị liên tục có công việc ở các „Sở Mỹ“, lúc thì làm nhân viên tổng đài, lúc thì giúp việc cho band nhạc của quân đội Mỹ, nơi chị yêu anh Joe, cha của bé Mai. Rồi chị còn làm thư ký cho văn phòng của Uỷ ban Quốc tế Giám sát Thi hành Hiệp định Paris (ICCS)[3] ở miền Tây.

Cô Đẹp, con gái Sài Gòn.

Tôi không khỏi ngạc nhiên khi nghe câu chuyện cô gái VIệt Nam bé nhỏ, từ địa vị làm thuê dám lớn tiếng chửi viên sỹ quan Iran „F’ck your mother first“, khi bị hắn mắng „F’ck you“.  Khi vụ việc trở nên to chuyện, lý lẽ và vốn tiếng Anh của chị đã khiến cấp trên của viên sỹ quan nọ phải công nhận là chị có lý.

Có thể chị sẽ sống tiếp cuộc đời của một nữ nhân viên làm cho nước ngoài, nếu không có biến cố 30.4. Trong những ngày tàn của chế độ Sài Gòn, chị luôn bị ám ảnh bởi những tai họa sẽ ập xuống đầu đứa con lai Mỹ. (Trong thực tế rất nhiều bé con lai đã chịu đựng phân biệt đổi xử sau 1975). Trách nhiệm với người cha ốm đau và đàn em nhỏ khiến chị không thể ôm con chạy một mình.

Ở vào tuổi ngoài 20, thân cô thế cô, người mẹ trẻ đã đi đến môt quyết định mà suốt 44 năm sau, nó trở thành một vết thương hành hạ. Chị quyết định gửi bé Mai cho một cô nhi viện để họ đưa cháu ra nước ngoài trong chiến dịch Babylift tang thương.

Từ ngày đưa bé Mai vào cô nhi viện đến ngày bé bay là khoảng một tuần. Chị đã sống tuần lễ đó như trong địa ngục, nhất là khi có tin đồn về tai nạn máy bay. Trái tim người mẹ luôn muốn vỡ ra khi nghe tiếng khóc của con lúc chia tay. Chị quay lại cô nhi viện vài lần để gặp con, lần nào cũng sợ nhưng cuối cùng cũng chỉ để nghe tiếng khóc đó.

Hai mẹ con gặp lại nhau cuối năm 2019.

Thời thế thay đổi cũng đảo lộn cuộc đời chị.  Mất việc làm, người chị lớn phải tần tảo bươn trải làm mọi việc để nuôi gia đình. Kể làm gì, lúc đó ai mà không khốn khổ.

Trong mọi sự đảo điên đó, có một thứ không thay đổi. Đó là nỗi day dứt, không biết con mình có sống sót ra khỏi VIệt Nam hay không? Nó có được may mắn gặp gia đình tử tế nuôi nấng không? Đã có lúc chị bỗng ân hận vì quyết định ngày đó của người mẹ. Ngay cả cảnh đời bầm dập của những người con lai mắc kẹt lại ở Việt Nam cũng không thể nào an ủi chị. 

Và người mẹ trẻ đã hy sinh tuổi xuân, từ bỏ mọi cơ hội lập gia đình. Chị ở vậy để thực hiện sứ mệnh duy nhất của cuộc đời còn lại: Tìm con gái.

Trong một thế giới đầy rẫy những bất công thì việc chi Đẹp và Mai tìm được nhau là sự công bằng nhất có thể có.

Tôi không có đủ khả năng miêu tả niềm hạnh phúc của hai mẹ con. Chỉ có ngôn ngữ điện ảnh may ra có thể lột tả được niềm vui đó. 

Xem phim „Người Mẹ“ của Đoàn Hồng Lê ở đây [4]

Nhưng niềm vui hội ngộ không kéo dài được vĩnh viễn. Sau khi Gia đình Mai rời Việt Nam, chị lại trở về cuộc sống cô đơn. Rồi người phụ nữ ngoài 70 lâm bệnh. Chị mất sức khỏe, phải thôi công việc lao công ở một trường phổ thông. Công việc tuy vất vả cho người phụ nữ còm cõi, nhưng hàng tháng nó mang lại 4 triệu đồng và bảo hiểm y tế, đủ để tồn tại trong cõi đời. Giờ đây khi thôi việc, chị chỉ nhận một gói tiền bảo hiểm ít ỏi và duy nhất.

Tôi hỏi: Giờ chị sống bằng gì? Tiền đâu chị mua thuốc thang?

– Thì kiểu gì cũng phải sống chớ sao – Câu trả lời ráo hoảnh.

– Khó khăn vậy mà sao hôm rồi chị bỏ 270 ngàn mua hai quyển sách? 

– Tôi mua một cho tôi, một để tặng người bạn.

– Tiền bán sách của tôi là để giúp những người như chị, cho tôi gửi tiền chị.

Chị kiên quyết không nhận và có vẻ giận tôi. Tôi đành phải nghĩ cách khác.

Thỉnh thoảng Mai lại gọi điện cho mẹ. Cô lo lắng cho mẹ, nhưng chị không muốn cho con biết là chị cần giúp đỡ. Chị không muốn Mai hiểu sai về chị. Chị sợ người đời nghĩ rằng kẻ ở nước nghèo lúc nào cũng mong được người xứ giàu giúp đỡ.

– Sao chị lại nghĩ vậy trong quan hệ mẹ con?

– Tôi cũng không hiểu sao nữa, tôi không nói hết được với cháu. Mà Mai chắc cũng không hiểu hết tôi.

Tôi chia tay chị với nhiều dấu hỏi trong đầu. Tôi gửi ngay cho Mai bức ảnh tôi chụp với chị. Mai mừng lắm và lập tức trả lời. Hai chúng tôi trao đổi với nhau vài lần về mẹ cô. Mai rất yêu mẹ và cô tìm mọi cách để hiểu thêm về bà. Tôi cảm giác có một bức tường ảo đang nằm giữa hai mẹ con. Rồi tôi tìm cách giải thich nó.

Bức tường đó một phần là bức tường văn hóa. Người Âu-Mỹ quen biểu lộ tình cảm trực tiếp và mạnh mẽ, nhất là những khi người thân gặp lại nhau, trong khi người Việt thì rụt rè, e ngại. Thậm chí vợ chồng gặp nhau sau bao năm xa cách cũng không dám ôm nhau. Điều này rất rõ ràng khi xem những giây phút đầu tiên khi hai mẹ con chị Đẹp gặp nhau trong khách sạn.

Nhưng đó chỉ là biểu hiện bề mặt. Sâu thẳm trong tình cảm mẹ con của chị Đẹp còn có bức tường của thân phận. 

Sài Gòn sụp đổ đã biến cô thư ký yêu đời, nhanh nhẹn, có phần thành công thành một người phụ nữ khác hẳn. Chị là người thua thiệt nhất trong những người thua cuộc. Không chỉ mất vị trí xã hội, chị còn mất cả giọt máu thương yêu nhất, lại sống trong mặc cảm tội lỗi vì bỏ con.

Hơn 40 năm sống trong tâm trạng như vậy, nỗi vất vả của cuộc đời lao công lam lũ đã biến chị trở thành con người khác hẳn. Chị mang thân phận của một người phụ nữ nằm dưới đáy của một đất nước chậm tiến.

Bà ngoại và con cháu.

Trong khi đó, Mai (Leigh) được ông bà Boughton đón nhận như con đẻ. Vốn thừa hưởng những phẩm chất tốt của mẹ Đẹp, cô bé đã lớn lên trong tình thương yêu và nếp sống văn minh của bố mẹ nuôi. Giờ đây Mai đã là một quý bà Mỹ kiều diễm với một gia đình yên ấm. Người Việt Nam nào cũng có thể nhìn cô như một nhà ngoại giao hay một doanh nhân phương Tây thành đạt đến du lịch ở đây. 

Hai thân phận không thể khác nhau hơn.

Trong suốt mấy chục năm, Mai vẫn được gia đình mẹ nuôi nhắc nhở đến nguồn gốc của mình và cô đã từng về Việt Nam tìm mẹ. Niềm vui của cô là bất tận khi nhận được cú phone của mẹ. Mặc dù Mai không hề cảm thấy có rào cản nào nào giữa mình và bà mẹ khắc khổ, nghèo túng ở đầu kia trái đất, cô vẫn cảm nhận được sự khép kín tình cảm nơi mẹ cô.

Tôi xin lỗi cả chị Đẹp và Mai, nếu nhận định của tôi sai.

Gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, nếu Việt Nam đã là một quốc gia hùng cường, văn minh, để mọi công dân của nó kiêu hãnh nhìn sang phương Tây, bức tường ảo đó sẽ không tồn tại. 

Thân phận của chị Đẹp cũng là thân phận của muôn vàn bà mẹ Việt Nam.

Củ Chi 21.05.2021.

Tái bút: Tôi viết bài này sau cả tháng suy nghĩ. Trong thời gian đó, tôi còn bị khủng hoảng về sức khỏe do mất ngủ. Hôm qua nay đất đã trở lại dưới chân, tôi mới dám viết. Trước khi đăng, tôi đã gửi cho cả hai mẹ con chi Đẹp đọc và cả hai đều cảm động chia sẽ suy nghĩ của tôi. Tôi xin phép được đăng để mọi người cùng đọc.

—-

[1] https://vi.wikipedia.org/…/Chi%E1%BA%BFn_d%E1%BB%8Bch… 

[2] https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/3871478419536869

[3]ICCS = https://vi.wikipedia.org/…/%E1%BB%A6y_ban_Qu%E1%BB%91c… 

[4] Phim “Người Mẹ” của Đoàn Hồng Lê: https://vtv.vn/video/phim-tai-lieu-nguoi-me-418383.htm…

NGÃ RẼ SAU 50

Lan Pham

Người Canada cày quốc cật lực quanh năm và thường cứ chớm Đông là thành những con chim tránh tuyết (snowbirds) bay tới vùng nắng ấm nhằm tái sản xuất sức lực qua việc tiếp xúc với  nắng, gió và biển xanh. Một trong những thú vui của dân Canada khi dọc ngang năm châu bốn biển là gặp đồng hương, kết bạn với những người Canada ở ngoài Canada. Thân thiện, cởi mở, hào hiệp cùng chia sẻ cho nhau những kinh nghiệm nghỉ dưỡng, ăn uống gì, bơi, lặn, lướt ván biển nào, đi lại ra sao, mua, xây nhà nghỉ ở đâu…

Hơn chục năm nay mình chú ý để mắt tới cách nghỉ dưỡng của nhân loại. Từ Âu, Á sang Mỹ, Úc… từ Hawaii, tới Australia, Thailand, Chile, Brazil, Argetina, Peru, Costa Rica… sáu bẩy chục nước, vài trăm khu nghỉ dưỡng và vô vàn các đảo hay quần đảo lớn nhỏ ở cả Thái Bình Dương lẫn Đại Tây Dương.

Cabo San Lucas
Photo : Lan Pham

Có hai lựa chọn cho người muốn nghỉ ngơi: chọn núi, hoặc biển. Nếu làm hoà thượng thích đủ thứ thì sẽ vừa thích núi cao lại không thể chê biển đẹp. Nhân loại, về cơ bản,  thường ưu ái biển hơn vì ra biển dễ dàng hơn leo núi và thêm nữa các môn thể thao nước khá đại chúng với nhiều dân tộc. Biển phải sạch, không rác, ít rong rêu. Nước trong nhìn thấu đáy, nhưng cát đừng có quá mịn để đi dạo bãi biển cũng là massage chân luôn. Phải có sóng đủ để chơi môn lướt ván. Những cái đó thực ra nhiều nơi có, nhưng những yêu cầu kèm theo mới là cái đau đầu.  Nào là đi lại phải nhanh, khoảng 3-4 giờ bay (những ai có con cháu ở Canada thường loại toàn bộ các nước châu Âu và châu Á ra vì quá xa). Có thể tiếp cận bằng đường bộ vì lái xe long rong xuyên châu lục cũng là một cái thú của dân Bắc Mỹ (loại tiếp toàn bộ các đảo), đường không và đường biển. Phải là nơi nói sõi tiếng Anh (ví như mình vốn ngọng thì cần người nói sõi để còn hi vọng hiểu nhau) nhưng đồng thời có một ngôn ngữ và văn hoá phong phú khác để học hỏi, rèn trí não tránh bệnh Alzheimer. Phải đủ rộng để lâu chán và đủ các di tích lịch sử để có thời gian thì tăng cường khám khá, hiểu biết. Phải là nơi khá an toàn, dân chúng thật thà và lương thiện. Thực phẩm cần trong lành; cuộc sống chất lượng cao mà không hào nhoáng dễ gây mệt mỏi nhàm chán. Rồi phải có qui chế định cư, viza đi lại thông thoáng để có thể dễ dàng mời các chuyên gia tẩm quất mát xa khéo léo từ các nước đang phát triển như Việt Nam, Thái hay Philippine qua lại giúp nắn xương cốt ê ẩm đều đặn….vân vân và vân vân…

Cabo San Lucas
Photo : Lan Pham

Động lực để xã hội loài người phát triển và thăng hoa chính là những đòi hỏi của con người. Có cung thì có cầu. Thị trường nghỉ dưỡng cũng có bạt ngàn phân khúc sản phẩm chiều Thượng Đế. 

Khoảng 15 năm trước trong một chuyến đi du thuyền tới Cozumel, một điểm có di tích của các vương triều trước trên bờ biển Đại Tây Dương trong xanh như ngọc, mình đã mê cảnh quan đất nước này. Trong những lần đi tiếp sau mình có cơ hội tìm hiểu về văn hoá của người Maya, một trong sáu cái nôi rực rỡ của văn minh nhân loại khởi nguồn cách đây trên 10 ngàn năm. Ít lâu sau sang thăm Puerto Vallarta một thành phố nghỉ dưỡng khác bên bờ Thái Bình Dương, dân sở tại kể chúng mình một câu chuyện thật mà cười vỡ bụng là trong cuộc tranh cử mới nhất một chính trị gia cỡ bự của Mexico tái tranh cử bị cáo buộc là tham nhũng, ông ta cũng thật thà nói trước truyền thông là thực ra như các bạn biết đấy ở đó có còn mấy để ăn cắp và tôi cũng có lấy được mấy đâu. Trước thói quen nói dối như vẹm của đa số chính trị gia toàn cầu thì đây quả là một lời nói thật đáng được khen thưởng và ông ta tái đắc cử.

Cái giỏi của Mexico là toàn dân làm du lịch rất chân tình và dễ gần giúp biến  Mexico là đểm du lịch đông khách tới hàng thứ sáu trên thế giới, mỗi năm đón trên 40 triệu du khách. Thường là khách ở lâu và chi khá tiền.

Đặt chân đến sân bay, lang thang trong bãi biển hay lượn trong siêu thị chỗ nào bạn cũng được dụ mua sản phẩm …du lịch sở tại. Tuy nhiên không phải là kiểu chèo kéo đến phát mệt của một số nước khác mà rất lịch sự. Paris, London là những nơi hút khách hàng đầu nhân loại hôm nay nhưng làm nên điều đó chủ yếu do tên tuổi, lịch sử, văn hoá và kiến trúc… còn dịch vụ quảng bá du lịch thua xa Seoul (Korea), một địa danh mới nổi.

Canada, Việt nam cùng hút cả vài chục triệu khách một năm nhưng cả hai vẫn cần học Mexico về cách làm du lịch nghỉ dưỡng đẳng cấp.

Cabo San Lucas
Photo : Lan Pham

Cabo San Lucas thoả mãn nhà mình đủ thứ. Dẻo đất hẹp, khí hậu sa mạc, không khí khô nhưng điều tiết rất dễ chịu bởi khí hậu biển. Sinh ra ở vùng nhiệt đới gió mùa mình hiểu cái mệt mỏi của khí hậu ẩm, của cuộc chiến không ngừng nghỉ với các loại muỗi giãn và côn trùng. Khí hậu sa mạc làm nên các sản phẩm nông nghiệp sạch đúng nghĩa organic vì không cần thuốc trừ sâu. Nơi đây là cái nôi đánh bắt cá ngừ nổi tiếng để rồi theo chuỗi cung ứng toàn cầu sang tới Chợ cá lớn nhất Tokyo. Ngày nào cũng sẵn tuna vừa từ biển lên để làm sashimi. Khí hậu nhiệt đới, rau quả tươi đầy chợ làm món ăn Mexico phong phú và ngon miệng. 80% dân chúng nói tiếng Anh. Toàn cảnh sạch sẽ, ngăn nắp.

Cabo San Lucas
Photo : Lan Pham

Mình thăm nhiều cái timeshare (chung sở hữu, mỗi năm được dùng từ một vài tuần tới một vài tháng tuỳ giá) giá tương ứng với độ sang trọng cái đắt tới cả 12 triệu USD/ một condo. St Regis hotel bán từ 3.3 tới 15 triệu USD/condo. Càng long rong mình càng thấy đây đáng là nơi ở càng lâu càng tốt và quyết định tìm đến công ty xây cất uy tính để tìm hiểu. Các sản phẩm của họ quá vừa ý. Qui hoạch tổng thể rộng rãi, không gian có nhiều riêng tư, qui hoạch từng căn rất độc đáo, không chắp vá, cóp nhặt. Nếu bạn có tích luỹ từ nửa triệu đô trở lên, có nhu nhập hưu hàng tháng từ ba tới năm ngàn đô bạn có thể mua nhà độc lập, chung tường hay condo tuỳ túi tiền giá từ 500 ngàn USD tới vài ba triệu USD. Có chế độ trả góp. Mỗi toà chung cư cũng chỉ cao 3-4 tầng, mỗi tầng chỉ có từ 2 tới 5 căn hộ nên rất thoáng. So với giá condo Toronto thì tiền xây cất và tiền bảo trì đều khoảng bằng ¼. Một đáp án nghỉ ngơi và nghỉ hưu hợp túi tiền với tầng lớp trung lưu Canada.

Cabo San Lucas
Photo : Lan Pham

Công ty Discovering Mexico gợi ý mình là sẽ thật thú vị nếu khi nghỉ ngơi có bạn bè yêu quí xung quanh và mời nhà mình hợp tác. Mình vui vẻ nhận lời. Bạn nào có nhu cầu và muốn khám phá giống mình xin mời inbox.

Trấn giữ bờ Tây của Mexico, nơi ra đời ca khúc bất hủ Hotel California của Eagles, thiên đường nghỉ ngơi trần giới đã thành một phần mái nhà tiếp theo của đời mình. 

Dù ở đâu thì mỗi ngày sống thực phải là một lễ hội trong đời. 

Cabo San Lucas 2020-2021

Đảo hoa hồng: một câu chuyện Ý có thật và đáng kinh ngạc

Nguyen Tieu Quoc Dat

Phải mấy năm rồi mới xem phim của Ý và lại đúng phim hay: Đảo Hoa hồng. Bộ phim dựa trên sự kiện có thật và từng gây chấn động nước Ý vào năm 1968 khi một anh kỹ sư cơ khí Giorgio Rosa (bố anh này làm cho Ducati) quyết định tạo ra đất nước cho riêng mình. Cùng với bạn bè Giorgio đã xây được 1 hòn đảo ở vùng biền quốc tế (các lãnh hải Ý 500m, thời đó lãnh hải chỉ cách đất liền 10km).

The Incredible Story of Rose Island

Là một kỹ sư nên Giorgio đã tìm ra giải pháp xây đảo với giá siêu rẻ. Nếu một giàn khoan tốn hàng trăm triệu đô thì anh này ủ mưu 10 năm (58-67) để xây đảo (trong phim thì cảm giác như vài tuần).

Cast of The Incredible Story of Rose Island

Và cuối cùng Giorgio đã có một quốc gia riêng, tự tuyên bố mình là tổng thống, tự xây nội các, có cờ, con tem và ngôn ngữ riêng. Hòn đào này suýt được LHQ thừa nhận… cho đến khi hải quân Ý đến cưỡng chế phá bỏ.

Rose Island

Bộ phim lãng mạn hoá nhiều chi tiết lịch sử nhưng được làm rất đáng yêu, hài hước đặc biệt diễu nhại quan chức Ý thời đó. Khi xem làm mình nhớ đến tinh thần của Cuộc sống tương đẹp, Rạp phim thiên đường và nhiều phim Ý đã xem mà quên mất tên.

Giorgio Rosa and his wife Gabriella

Sau này vì vụ Đảo hoa hồng mà luật biển cũng thay đổi, vùng lãnh hải được tăng lên 20km để làm nản lòng những gã điên đi lập quốc.

Though badly damaged, Rose Island remained standing until 1969. (Image courtesy of Defacto Borders.)

Phim có trên Netflix

Bào toán xây đảo giá rẻ của https://www.engineering.com/story/rose-island-the-building-of-a-utopia

Dữ kiện ls: https://www.wantedinrome.com/news/rose-island-a-true-and-incredible-italian-story.html

Cuộc sống của dân Bắc Âu trong ‘Thứ Bảy Nhỏ’ hàng tuần

Khi gió Bắc Cực nổi lên thổi tung tuyết lơ lửng, công việc của Harpo Adolfsson được cắt ngắn lại.

Adolfsson, thợ vận hành máy móc 63 tuổi tại khách sạn băng nổi tiếng ở Jukkasjärvi, miền bắc Thụy Điển, dọn sạch những ụ tuyết bột trên các con đường và lối đi.

Vào những ngày gió đặc biệt lớn, ông phải làm việc tới 12 giờ, từ 4h sáng. “Làm việc với máy móc, anh cần phải tỉnh táo trong mọi lúc, do đó có thể thật sự mệt mỏi,” ông cho biết. “Đôi khi, phải chờ đợi mỏi mòn cho đến dịp nghỉ cuối tuần.”

Xả hơi giữa tuần

Bốn năm trước, Adolfsson và một vài đồng nghiệp bắt đầu gặp nhau vào tối thứ Tư để chia nhỏ tuần làm việc.

Họ uống bia Guinness bên ánh nến, và thay phiên nấu ăn tại nhà của nhau. Đồng nghiệp Đan Mạch của họ đem đến món smørrebrød, trong khi Adolfsson thích làm hamburger và thịt tuần lộc tại nhà.

“Bạn không bao giờ biết chúng tôi sẽ ăn gì,” ông nói. “Đôi khi là món gì đó chiên xào, hay cá hồi. Đôi khi đó là bữa ăn chuẩn mực, với ba món.”

Adolfsson nói các buổi gặp gỡ vào thứ Tư với đầy đồ ăn ngon và trò chuyện sôi động đã giúp ông giữ tinh thần lạc quan, bằng cách lúc nào cũng để cho mình mong đợi cái gì đó – đặc biệt là vào mùa đông khi trời tối tới 20 giờ mỗi ngày. “Điều đó giúp tôi vui hơn vì tôi biết nó sẽ xảy ra và mọi thứ sẽ tốt đẹp,” ông nói.

Các cuộc tụ họp của Adolfsson là ví dụ về việc thực hành ‘Thứ Bảy Nhỏ’, tức lillördag.

Đó là truyền thống văn hóa Bắc Âu, trong đó thứ Tư được xem là cơ hội cho các buổi vui chơi nhỏ kiểu cuối tuần.

Theo ông Rickard Grassman, trưởng khoa quản lý và giảng viên cao cấp tại Đại học Stockholm, cách diễn tả này xuất phát từ việc người hầu và nô bộc làm việc vào các ngày thứ Bảy và thay vào đó có một ngày nghỉ trong tuần.

Trong lịch sử, kể từ đó nó đã được áp dụng như một kỳ nghỉ nhỏ vào giữa tuần khi mọi người cần thời gian để giải tỏa năng lượng.

Vì đại dịch đã làm mờ ranh giới giữa ngày làm việc và cuối tuần, mượn truyền thống Bắc Âu này có thể là một cách để sắp xếp tuần lễ, và thậm chí đưa một chút vui chơi và sự nhẹ nhõm vào sự tẻ nhạt của một ngày nữa phải ở nhà.

Điều này đặc biệt được hoan nghênh trong thời điểm ưu tiên sức khỏe và hạnh phúc là quan trọng hơn bao giờ hết, Grassman nói.

“Việc có cái nhìn cân đo hơn, vừa phải hơn về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống sẽ tạo ra cảm giác ổn định hơn về ý nghĩa của hạnh phúc,” ông nói. Có thêm thời gian để cho mình tận hưởng những buổi ‘Thứ Bảy Nhỏ’ là khởi đầu tốt để nhìn về phía trước với sự lạc quan.

Việc mong chờ sắp đến ‘Thứ Bảy Nhỏ’ khiến Harpo Adolfsson (bìa phải) và bạn bè ông cảm thấy hứng thú
Haddock & Elisabeth Photography
Một chút tận hưởng có thể tạo tâm lý nhẹ nhõm vô cùng lớn

Không phải người Thụy Điển nào cũng tham gia lillördag, nhưng cách làm này có tiếng vang với một số người, như Adolfsson, vốn thấy rằng xả hơi giữa tuần giúp họ nâng cao tinh thần.

Và mặc dù về mặt kỹ thuật bất kỳ ngày nào trong tuần nào cũng có thể làlillördag (tương tự, ở Na Uy và Đan Mạch, Thứ Bảy Nhỏ được gọi là lille lørdag), nó diễn ra phổ biến nhất vào ngày thứ Tư.

Sinh viên đại học có thể tiệc tùng hết mình tại các sự kiện đặc biệt ở các quán rượu, nhưng Thứ Bảy Nhỏ cũng có thể là buổi tối yên tĩnh với gia đình và bạn bè hoặc bất kỳ cái cớ nào để nuông chiều bản thân.

Trên Instagram, hàng chục ngàn bài đăng với hashtag #lillördag cho thấy sự tận hưởng từ hàu, rượu sâm banh cho đến đốt lửa trại.

Lillördag tương phản chan chát với khái niệm ‘Ngày Giữa Tuần’ ở Bắc Mỹ, xem thứ Tư như là chỉ xếp sau thứ Hai với tư cách ngày tệ nhất trong tuần; bạn sắp đi hết tuần, nhưng vẫn còn lâu mới đến cuối tuần.

Theo Constanze Leineweber, phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu Căng thẳng thuộc Đại học Stockholm, việc xem thứ Tư như là Thứ Bảy Nhỏ có thể làm cho tuần làm việc dễ chịu hơn – nhất là bây giờ khi những ngày chúng ta cách ly không biết khi nào kết thúc.

“Một thứ gì đó như Thứ Bảy Nhỏ có thể là cách làm khá khôn ngoan trong việc giúp mọi người tạo ra cấu trúc và sự viên mãn ngay cả khi họ mất phương hướng,” bà nói thêm. Bạn có thể trở nên có động lực hướng đến các mục tiêu nhỏ hơn trong tuần mà bạn có thể đạt được và được đền đáp… mà không hoàn toàn mất đi bối cảnh và cấu trúc chúng ta cần.”

‘Thứ Bảy Nhỏ là để giúp giữ tỉnh táo’

Trong khi Thụy Điển đứng đầu về Chỉ số Bình đẳng Giới của EU vào năm 2020, phụ nữ vẫn có nguy cơ cao hơn bị suy kiệt cảm xúc do mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống, bà Leineweber, nghiên cứu về xung đột giữa gia đình và công việc ở các nước Bắc Âu, cho biết.

Nghiên cứu của bà cho thấy phụ nữ ít có khả năng hơn nam giới để sử dụng thời gian ngoài giờ làm việc để thư giãn, thay vào đó tập trung vào nhu cầu việc nhà và gia đình.

Đối với Anitha Clemence ở Stockholm, một bà mẹ hai con và Ann Söderlund, một bà mẹ năm con, việc thực hành tự chăm sóc, tức lillördag, đã trở nên quan trọng hơn đối với cuộc sống của họ trong thời Covid-19.

Clemence cho phép con ăn những món tráng miệng như bánh sô cô la hoặc món yêu thích của Thụy Điển là kẹo các loại tự chọn, và thoa son môi để gặp gỡ bạn bè qua Zoom. Söderlund và chồng thì đặt thức ăn cho mấy đứa con trai của họ từ 4 đến 18 tuổi.

Clemence (phải) và Söderlund (trái) đã làm một chương trình podcast rất được ưa chuộng chuyên nói về Thứ Bảy Nhỏ
Anitha Clemence, Ann Söderlund

“Khi lớn lên, mỗi ngày chúng tôi đều thực hiện lillördag vì cha tôi là nhà báo, và chúng tôi di chuyển và đi du lịch rất nhiều. Nó ở trong máu của tôi,” Söderlund, nữ diễn viên và nhà văn Thụy Điển giống như người bạn Clemence của cô, giải thích.

Sáu năm trước, truyền thống này đã tạo cảm hứng cho hai người bạn này khởi động podcast gọi là Lillelördag, mà họ tung ra vào thứ Tư hàng tuần.

Họ nói tới nói lui về những vấn đề cấm kỵ về các mối quan hệ, làm mẹ và lối sống, tách ra để tự lập và sống theo phương châm của họ, “Không có gì là cấm kỵ vào Thứ Bảy Nhỏ.”

Chương trình của Clemence và Söderlund đã có được lượng theo dõi lớn mà chủ yếu là nữ giới, và Lillelördag là một trong 50 podcast hàng đầu của Thụy Điển.

Theo Clemence, hai người đồng dẫn chương trình đã xúc động khi nghe podcast này đóng vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc sống của thính giả trong đại dịch, đem đến cho họ bản nhạc vui nhộn khi họ đi dạo ngoài trời hay vào giờ nghỉ ăn trưa, khuấy động cảm giác Thứ Bảy Nhỏ.

“Thứ Bảy Nhỏ là để giữ tỉnh táo,” Clemence cười nói. “Chúng tôi luôn khuyến khích thính giả chiều chuộng bản thân thêm nữa vào Thứ Bảy Nhỏ chỉ vì… nó có ích rất nhiều.”

Đó là những thứ nhỏ nhặt

Với tình trạng đại dịch không thấy hồi kết rõ ràng – và kế đến tuần làm việc kéo dài bất tận của chúng ta cũng không thấy hồi kết – thì việc vay mượn cách làm lillördag của Bắc Âu có thể giúp chúng ta mong đợi cái gì đó mỗi tuần như một cách phá vỡ sự đơn điệu một cách dễ chịu.

Söderlund, vốn bản thân cũng nhiễm Covid-19, nói đại dịch đã giúp cô nhớ rằng những thú vui đơn giản của cuộc sống có thể quan trọng như thế nào – và làm thế nào trong thời gian thử thách, chính những điều nhỏ nhặt lại có thể tạo ra tất cả khác biệt.

“Mỗi ngày tôi bày ra ít nhất 21 dĩa, dao và đĩa cho bữa tối, chúng ta đang học tập và làm việc tại nhà,” cô nói, thở ra. “Trong thời gian đại dịch, lillördag thậm chí còn trở nên quan trọng hơn đối với tôi. Nó giống như là ‘giờ đây tôi có thể thả lỏng và uống một ly vang’.”

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC WorkLife.

Bé Ký, nữ họa sĩ nổi danh trong hội họa Việt Nam, qua đời

NGƯỜI VIỆT

WESTMINSTER, California (NV) – Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với hội họa của người Việt Nam, qua đời vào chiều Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại nhà ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Họa sĩ Bé Ký lúc còn trẻ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Tin này được ông Hồ Thành Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ thành công với nhiều tác phẩm đầy tình mẹ con.”

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

Họa sĩ Bé Ký tên thật là Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1938 ở Hải Dương. Bà mồ côi cha mẹ từ lúc 8 tuổi. Vì vậy, ông Cung cho rằng điều đó ảnh hưởng nhiều tác phẩm của bà, và tạo ra những bức tranh đầy tình mẹ con.

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

Theo ông, bà sống với cha mẹ nuôi khi vào miền Nam, sau đó tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng họ đã qua đời.

Về phần hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dạy.

Họa sĩ Bé Ký lúc còn trẻ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Từ năm 1957 đến 1975, họa sĩ Bé Ký có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn.

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại Học Viện Smithsonian.

Họa sĩ Nguyên Khai, người cùng thời với họa sĩ Bé Ký, cho hay sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với hội họa của người Việt Nam vì bà có rất nhiều cống hiến.

Ông nói với nhật báo Người Việt: “Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa này, và có nét vẽ theo đường lối mới rất đặc biệt. Bà tự học vẽ từ nhỏ và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.”

Theo ông, những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng và đầy tinh thần dân tộc, thể hiện được nhiều mặt của xã hội.

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

“Tranh của bà có đề tài rất xã hội vì vẽ người bán hàng ngoài đường, hớt tóc, ráy tai, nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà được báo chí Pháp ca tụng rất nhiều,” ông chia sẻ.

Cuối cùng, họa sĩ Nguyên Khai nói: “Sự ra đi của bà là mất mát lớn của hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ vì bà là đại diện cho họ trong nhiều chục năm.” (Thiện Lê) [qd]

Secret beach – Oregon

Secret beach – Oregon

Một điểm khá đẹp để tham quan , chụp ảnh nếu có dịp ghé Oregon , đường dốc đứng tầm 10 phút đi bộ từ parking

Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo

Hawaii

Hawaii
Photo by : Nang Tran

Hawaii nổi tiếng và trở thành 1 tiểu bang của Hoa Kỳ 1 phần vì vị trí chiến lược, 1 phần có lẽ nó có 1 khí hậu và cảnh vật nó rất khác biệt, là 1 điểm nhấn giữa 1 đất nước ôn đới. Thảm thực vật đậm chất nhiệt đới của Hawaii làm nhiều người chọn nơi đây để nghỉ dưỡng thay vì phải bay nữa vòng trái đất về châu á. Đây chỉ là nhận xét cá nhân của mình.

Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran