GS CARL THAYER và mối tình với phở

Tina Hà Giang

Carlyle Alan Thayer

Người ta biết Giáo Sư Carl Thayer, thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc, là một chuyên gia về Việt Nam. Nhưng mấy ai biết ông mê phở tới mức nào?

Lúc ấy, chắc cũng 7, 8 năm rồi, hồi còn làm việc ở báo Người Việt, tôi muốn viết một loạt phóng sự về cách ăn phở Việt của người ngoại quốc, nên nhân dịp phỏng vấn Giáo Sư Carl Thayer về một đề tài nào đó, hỏi xem ông có ăn phở không, và nghĩ thế nào về món ăn thuần túy Việt Nam này. 

Phở bò

Ai ngờ, để trả lời câu hỏi đơn giản, Giáo Sư Carl Thayer đã gửi một email dài tâm sự về “mối tình của ông với phở”. 

Ông còn ngẫu hứng nhân câu hỏi,  rủ vợ lái xe cả tiếng đồng hồ đến tiệm phở ông thích nhất, vừa ăn vừa thưởng thức hương vị để ghi lại cho sống động và nhờ người chụp hình gửi cho cô nhà báo ông quen biết đã lâu ở Cali.

Những tấm hình này lâu quá thất lạc đâu rồi chưa tìm lại được.

Nghe ông tả về cách ông món ăn thân quen này của người Việt, người ta thấy ông dành cho tô phở sự quan tâm đặc biệt của một “nhà nghiên cứu”.

Có thể món phở mà Giáo Sư Carl Thayer không phải là món phở quốc hồn quốc túy ngày xưa của bếp Việt, nhưng hình ảnh một người ngoại quốc xì sụp món phở không hiểu tại sao vẫn cứ làm tôi cảm động. 

Dưới đây là nguyên văn email của Giáo Sư Carl Thayer về phở gửi cho Hà Giang bằng tiếng Anh và đã được chuyển ngữ.

Vietnamese Chicken Noodle Soup (Phở Gà)

—-

Phở à?

Tôi biết ăn phở chứ, sao lại không?

Phải nói là mê mới đúng. Tôi mê món ăn này ngay từ lần ăn thử đầu tiên. Có thể nói đây là “love at first bite!”

Tôi được nếm thử món phở vào năm 1967, khi tôi đến Sàigòn trong tư cách một tình nguyện viên làm việc với Cơ Quan Chí Nguyện Quốc Tế (Internaltional Volunteer Service).

Lúc đó, một đám bạn hay rủ tôi đi ăn phở tại một tiệm phở Bắc ở Mỹ Tho. Nếu tôi nhớ không lầm thì tụi tôi cũng rất thích ăn ở một tiệm phở tên là Phở 79.

Ở chỗ tôi ở tại Úc, muốn ăn phở cũng dễ thôi, đâu cũng có, nhưng phở ở Úc không gây được cho tôi nhiều “ấn tượng” như phở ở Hawaii.

Trong thời gian ở Honolulu từ Tháng Giêng năm 1999 đến Tháng Giêng năm 2002, vợ chồng chúng tôi rất mê phở ở một tiệm phở ở đây. 

Thường thì vào mỗi sáng Thứ Bẩy khi đi mua sắm xong, lúc nào vợ tôi cũng đến đấy mua phở mang về nhà để hai vợ chồng cùng ăn.

Có khi trời lạnh, chúng tôi ăn phở một tuần hai lần.

Chúng tôi thường dùng Phở thay cho bữa ăn trưa. 

Tôi thích đủ mọi thứ, tái, nạm, gầu,  gân, sách, nên ở Canberra, tôi hay gọi món Pho Special tức “phở đặc biệt”. 

Lần về Hà Nội cách đây mấy tuần, tôi dùng phở cho điểm tâm mỗi buổi sáng, cứ một ngày ăn phở bò thì ngày kia lại ăn phở gà (cho bớt béo). Ăn phở bò thì tôi thích thịt tái phải trụng thật kỹ.

Khi ăn phở, tôi thích bỏ ba bốn khoanh ớt vào tô phở, rồi trộn đều cho đến khi mấy miếng ớt chìm xuống dưới tô. Kế đến, tôi chế vào tô một ít hoisin sauce. Tôi cũng thích bỏ mấy giọt nước mắm vào phở. Thiếu nước mắm phở ăn làm sao ấy, không “đạt”. Cuối cùng tôi vắt chanh vào và bắt đầu ăn. Nếu có giá tôi thường bỏ giá lên trên cùng.

Tôi dùng đũa ở tay phải, và cầm muỗng ăn phở bằng sứ bên tay trái rất sành sỏi. 

Phải dùng muỗng sứ ăn phở mới ngon!

Tôi rất thích ăn rau thơm với phở, nhưng rau thơm ở ngoài Việt Nam ăn hắc lắm, không giống như rau thơm ở Việt Nam. 

Tôi đặc biệt thích cọng rau dài có gai ở hai bên (ngò gai) và thỉnh thoảng cũng ăn lá quế, khi nó không hắc. Lá quế ở Úc hay bị hắc lắm. Khi lá quế không hắc, tôi dùng tay ngắt lá rồi bóp nhè nhẹ cho ra mùi thơm.

Bạn bè hay trêu chọc tôi về cái tật mê say phở. Nếu ai có dịp đến thăm chúng tôi thì sẽ thấy nhà tôi đầy rẫy chứng cớ “mối tình của tôi với phở.”

Ðầu năm 2005, khi tôi còn làm việc ở School of Advanced International Studies tại Johns Hopkins University ở Hoa Thịnh Ðốn, tôi được dịp làm bạn với một phụ nữ Việt Nam được học bổng Fulbright qua Mỹ. Bà ấy dậy vợ tôi cách nấu phở, làm chả giò, và một vài món khai vị Việt Nam khác.

Sau khi gần mãn nhiệm kỳ làm việc tại Hoa Thịnh Ðốn, tôi đưa vợ tôi đến thăm Việt Nam lần đầu tiên, và chúng tôi đi tìm mua cho bằng được tô ăn phở bằng gốm Bát Tràng ở gần Hải Phòng. Phải mất bao nhiêu công lao chúng tôi mới mang chúng về đến Canberra an toàn không bị vỡ.

Món phở của Việt Nam rất tuyệt, và đã được đưa vào thực đơn quốc tế của gia đình chúng tôi. Thỉnh thoảng khi có khách quý, chúng tôi nấu phở, và dọn ăn trong tô Bát Tràng hẳn hoi.

Tôi thích chỉ cho mọi người cách ăn phở. 

Ai cũng thích! Tôi nghĩ, nếu biết phát triển đúng cách, phở sẽ trở thành món ăn rất được ưa chuộng nhất trong vài thập niên tới./.

Tina Hà Giang

Bí Mật “Mật Mã 2035” Của Tập Cận Bình

Mạnh Kim/ The New Viet

Ngày 30-10-2020 (GMT +7)

Cả Mao Trạch Đông lẫn Tập Cận Bình đều liên quan hai “con số bí ẩn” – theo bài viết khá thú vị của tác giả Katsuji Nakazawa trên Nikkei Asia (29-10-2020). Những con số đó là gì và chúng nói lên điều gì?

Hai con số mà Katsuji Nakazawa đề cập là “8341” và “2035”. Trong khi “8341” liên quan Mao Trạch Đông thì “2035” được xem là “mật mã” của Tập Cận Bình. Và muốn “giải” được mật mã Tập Cận Bình thì phải trở lại thời Mao Trạch Đông. “8341” là mật danh mà Mao Trạch Đông dùng để đặt cho Trung đoàn Cảnh vệ Trung ương – đơn vị chịu trách nhiệm bảo vệ các nhà lãnh đạo tối cao của Trung Cộng. Điều kỳ lạ là Mao Trạch Đông chết năm 83 tuổi (tính theo “tuổi âm”), 41 năm sau khi giữ ngôi vị lãnh tụ cao nhất của Đảng Cộng sản lẫn Quân đội Trung Quốc (kể từ năm 1935).

Con số này ra đời lúc nào? Theo nhiều tài liệu, nó có nguồn gốc từ Hội nghị Tuân Nghĩa (Zunyi Conference) tổ chức ở Tuân Nghĩa (Quảng Châu) từ ngày 15 đến ngày 17-1-1935, ở giai đoạn Mao đang tổ chức chiến dịch Trường Chinh vang động lịch sử. Hội nghị này thay đổi quyền lãnh đạo “tam nhân đoàn” (Bác Cổ, Lý Đức, Chu Ân Lai) với việc bổ sung Mao làm ủy viên Thường vụ Bộ chính trị, hình thành nên nhóm lãnh đạo cấp cao gồm Trương Văn Thiên, Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông. Cũng từ hội nghị trên, Mao được khôi phục quyền chỉ huy Hồng quân.

“8341” đã trở thành con số bí ẩn mang tính “huyền thoại” trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nó trở thành con số “thần thánh” khi “thánh” Mao dường như tiên đoán được chính xác thời điểm mình từ trần và cả số năm mình ngồi ghế lãnh tụ. Sau khi Mao chết ngày 9-9-1976, “mật mã” “8341” vẫn tiếp tục “sống”. Năm 1993, khi Trung Quốc phóng một vệ tinh nhân sinh nhật lần thứ 100 của Mao, một bảng vàng khắc “8341” đã được đặt bên trong vệ tinh!

Tương truyền rằng (lịch sử Trung Hoa đầy dãy cái gọi là “tương truyền”), một đạo sĩ đã ban cho Mao con số bí ẩn trên trước khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1949, và rằng nhân vật cận kề bên Mao trong cuộc diện kiến lịch sử đó (giữa Mao với đạo sĩ “thần tiên”) sau này được Mao phong làm chỉ huy trưởng Đơn vị cảnh vệ 8341. Lại có một “tương truyền” rằng “8341” là số serie của khẩu súng bộ binh yêu thích thời Mao còn trẻ. “Lý thuyết” này có vẻ hợp lý khi sau này Mao dùng con số đó để đặt tên cho lực lượng cảnh vệ. Nó cũng có vẻ hợp với câu nói nổi tiếng của Mao: “Sức mạnh chính trị đến từ nòng súng”.

Với Tập Cận Bình, con số bí ẩn là “2035”. Tại sao Tập dùng “2035”? “Mật mã” này ra đời cách đây ba năm khi nó xuất hiện trong một diễn văn mà Tập phát biểu tại Đại hội Đảng toàn quốc. Tập tuyên bố Trung Quốc “sẽ cơ bản hiện thực hóa công cuộc hiện đại hóa vào năm 2035”, thời điểm mà Trung Quốc qua mặt Mỹ trở thành sức mạnh kinh tế lớn nhất thế giới. Đó là một tuyên bố quan trọng, nếu không muốn nói là một chỉ thị tối cao, để Trung Quốc có thể hãnh diện tổ chức 100 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản vào năm 2049.

Với quyền lực bao trùm như hiện nay, chẳng ai có thể cản Tập ngồi thêm “nhiệm kỳ” năm năm nữa (từ 2022 đến 2027) và thậm chí thêm 10 năm (từ 2022 đến 2032). Điều trùng hợp giữa “8341” và “2035” không chỉ là, vào năm 2035, Tập sẽ 83 tuổi (“tuổi âm”) – cùng tuổi mà Mao chết; mà còn ở chi tiết rằng Trung đoàn Cảnh vệ của Mao được chính thức làm lễ thành lập vào tháng 6-1953 – cùng tháng sinh của Tập. Nếu con số bí hiểm “8341” hiện thân cho sự trường cửu lãnh đạo của Mao thì “2035” đối với Tập Cận Bình cũng ám chỉ tương tự, rằng từ nay đến 2035, Tập vẫn tiếp tục ngồi ở vị trí lãnh đạo tối cao để chứng kiến ngày Trung Quốc thống trị thế giới.

Cần nói thêm, Hội nghị toàn thể lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX (còn được gọi là “Hội nghị Trung ương 5 khóa XIX”) vừa bế mạc ngày 29-10-2020 sau bốn ngày làm việc. Tại hội nghị này, “mật mã “2035” của Tập Cận Bình một lần nữa đã được nhấn mạnh, với “Kế hoạch năm năm phát triển kinh tế và xã hội quốc gia và các mục tiêu dài hạn cho năm 2035”. Không chỉ đề cập đến “mục tiêu dài hạn” liên quan xây dựng sức mạnh kinh tế, sức mạnh khoa học và công nghệ, và sức mạnh tổng thể của quốc gia…, “mật mã 2035” còn nói đến việc “duy trì sự thịnh vượng và ổn định lâu dài của hai vùng lãnh thổ Hong Kong và Macau, đồng thời thúc đẩy sự phát triển hòa bình của các mối quan hệ xuyên eo biển và sự thống nhất đất nước”.

Hãy để ý đến chi tiết gọi là “thống nhất đất nước”. Điều này không là ám chỉ mơ hồ gì nếu không phải là một xác quyết rằng bằng mọi giá phải thu tóm được Đài Loan. Đây mới chính là điều cốt lõi nhất trong mật mã “2035” của Tập Cận Bình mà tác giả Katsuji Nakazawa đã không đề cập.

HỒN TỔ QUỐC NGỰ GIỮA RỪNG SÂU THẲM

Thảo Dân

Rừng là môi sinh nguyên thủy của con người từ thời tiền sử. Dằng dặc qua các thời đại, con người sống nhờ rừng, nương vào rừng, núp trong rừng để vươn tới văn minh. 

Trong mấy cuộc chiến tranh, người ta ngợi ca “rừng che bộ đội rừng vây quân thù”. Lên xanh, lên cứ… là vô rừng. Rừng che giấu, che chắn, che chở. Rồi người ta sẵn sàng một tâm thế “đốt cháy cả dãy Trường Sơn để giành cho được độc lập”. Độc lập theo về tận những cánh rừng. Độc lập phá, độc lập chặt, độc lập tróc vi tróc vảy từng mảnh da rừng. Chặt, phá…chưa đã đời. Còn đào sâu cả gốc rễ để mang về tạo tác những thành phẩm gỗ cầu kỳ khác biệt. 

Có thời kỳ, các đội Lâm nghiệp còn thi đua đốn gỗ, thi đua tìm cách cải tiến tăng năng xuất lao động để xây dựng xã hội chủ nghĩa. Thậm chí, có cả những anh hùng lao động xuất hiện từ các đội chặt hạ gỗ rừng này. Người ta phá rừng và trơ trẽn hát hò Mùa xuân là tết trồng cây một cách vô thức. Để rồi đua nhau chặt rễ chặt cành cổ mộc, bứng về trồng lấy lệ, tưới tắm lấy lệ và chễm chệ đặt một biển hiệu mang tên mình dưới gốc cây hàng trăm năm tuổi.

Những đại lão linh mộc ngàn năm, trăm năm bị tận diệt. Ngàn năm bị đốn hạ dưới lưỡi cưa máy của những phường lâm tặc áo trắng cổ cồn. 

Phá rừng tàn khốc để làm thủy điện. Góp phần phá nát rừng, không thể không nhắc tới chính sách di dân đi kinh tế mới, đưa người miền Bắc vào Tây Nguyên, khai thác gỗ bừa bãi để lấy đất làm nương rẫy, trồng cây công nghiệp như keo, cao su, cà phê…những loại cây rễ đơn, rễ cọc, và khi trồng thì lại phải phát sạch lớp thực bì che phủ, khiến rừng thiếu tán cây và thiếu đa tầng thực vật nên không giữ được nước mưa, làm cùng kiệt mạch nước ngầm, khiến kết cấu địa chất suy giảm, mất cân bằng, thiếu bền vững. Tình trạng nổ mìn phá đá xây thủy điện càng phá vỡ, gây đứt gãy các liên kết địa tầng, khiến đất dễ trượt khi có thêm tác động từ thiên tai. Các nhà chuyên môn còn phải lập bản đồ hiện trạng sạt lở để cảnh báo nguy cơ hiện hữu và lâu dài do hệ lụy nổ mìn phá đá xây thủy điện gây ra. 

Hậu họa của nó, đã, đang và vẫn sẽ tiếp diễn hàng năm. Đến nỗi, người chết vì lũ đã thành thông lệ. Những cái chết đổi lấy biệt phủ, biệt thự, đổi lấy những thẻ xanh, những xuất du học của một nhóm người. Tất cả đều được xây từ máu lệ và xác dân.

Không còn cách nào khác, là phải trồng lại rừng. Dù biết rằng, mỗi nhánh cây con yếu đuối sẽ bám rễ rất khó khăn, nhọc nhằn trên những cánh rừng xói lở. Nhưng, với khí hậu nhiệt đới, sẽ có dây leo, thảm rêu, vỏ dại….đa tầng tương hỗ. Rồi dăm bảy năm sau, chục năm sau sẽ khác. Chỉ có đóng cửa tuyệt đối để giữ những mảnh rừng còn sót lại và tái tạo rừng mới là sinh kế dài lâu, mới là lời tạ lỗi với mẹ thiên nhiên thành khẩn nhất.

Thuỷ điện Dakmin 2

Nếu rừng thiên nhiên mới bị tận diệt độ năm chục năm trở lại đây thì cánh rừng phong hóa thì đã bị đào tận gốc trốc tận rễ từ cái ngày phá kho thóc Nhật. Thành lũy nhân vị, nhân văn, nhân ái… bị đạp đổ không thương tiếc bởi những bước chân còn lấm bùn thời cuộc dưới bóng dáng ngoại lai vong bản hắc ám. Kể làm sao cho hết. Hậu họa để lại là phong hóa suy đồi, đạo đức xã hội lẫn gia đình bị băng hoại suy vi. Chỉ vì vài đồng bạc mà con giết cha mẹ, anh chị em tàn hại lẫn nhau, xóm giềng đổ máu, mất mạng vì vài gang tay đất, thậm chí, có những án mạng man rợ chỉ vì những nguyên nhân nhỏ nhặt. 

Chẳng phải vô cớ mà lương dân thành gian ác. Cũng là trông gương người trên cả. Bách hại ân nhân, giết sống đồng đội đồng chí, cướp đoạt tài sản, nhà cửa, đất đai của những nơi là cơ sở cũ, ăn không từ một thứ gì…. “Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật/ Anh hùng di hận kỉ thiên niên”.

Bao thế hệ trẻ lớn lên giữa thời đại ra ngõ gặp tượng đài, mà vẫn bơ vơ không thể tìm đâu ra bóng đại thụ văn hiến để nương náu, không thể tìm đâu một thành tựu mang tầm quốc gia để kiêu hãnh, không thể tìm thấy một lý tưởng để dấn thân ngoài cái bóng thánh thần giả ảo được phết vàng mạ bạc. Chúng còn tội nghiệp, đáng thương, nhọc nhằn hơn những cây non trồng trên đá hoang núi trọc. 

Quản Trọng thời Xuân Thu Chiến quốc bên Tàu, trong sách Quản Tử, chương Quyền Tu, trang 53 có viết: ” Thập niên chi kế mạc như thụ mộc; chung thân chi kế mạc như thụ nhân- Lợi ích mười năm không gì hơn trồng cây, lợi ích trọn đời (trăm năm) không gì bằng trồng người”

Trồng cây hay trồng người, ở đất nước này đều là thiết thân thiết thực.

Ảnh : Hoàng Hải

Các hoạt động từ thiện trong bão lũ thể hiện tình đồng bào, rất cảm động nhưng không thể, không nên biến thành hoạt động thường niên.

Kêu ca, thương xót, uất ức… là những cảm xúc rất người nhưng nó ủy mị và bất lực.

Cộng đồng phải làm gì để cứu lấy môi trường sống?

1. Các nhà khoa học, các trí thức hãy lên tiếng bằng chính những kiến thức chuyên môn của mình. Một người kêu, không ai nghe. Trăm người, ngàn người thì sẽ khác. Các vị có trùm chăn thì cũng trùm tới cổ thôi. Điển hình, nhà khoa học Trinh Le Nguyen thường xuyên, kiên trì có những bài viết phản biện rất nhiệt huyết, khoa học để góp ý cho Dự luật Bảo vệ môi trường và những dự án trồng rừng giá trị. 

2. Tẩy chay, lên án đồ dùng làm từ gỗ rừng, tạo thói quen dùng gỗ ván ép và các nguyên vật liệu khác như tre, nứa…

3. Ủng hộ các dự án xanh của các nhóm hoạt động dân sự. Có thể kể tên:

– Dự án RỪNG VIỆT NAM của ca sĩ Hà Anh Tuấn.

– Nhóm SỐNG FOUNDATION với dự án trồng rừng ngập mặn của Jang Kều.

– Dự án BWG Bamboo Vietnam hướng dẫn trồng, khai thác và sử dụng tre (của kiến trúc sư Nguyễn Trọng Nghĩa).

– Nhóm ZERO WASTE HANOI của nhà hoạt động độc lập Nguyễn Anh Tuấn về sử dụng sản phẩm xanh…

Xin hỏi, Nếu để tham gia tái sinh rừng, cần bạn hỗ trợ, mỗi gia đình có vui lòng chia sớt mỗi tháng 10 ngàn đồng để góp một bàn tay vỗ? 

4. Yêu cầu nhà nước ngưng hoạt động và xây dựng thủy điện cóc, thậm chí, cùng nhau xuống đường mà đòi hỏi vì Biểu tình là quyền được ghi trong hiến pháp. Chúng ta không hô hào lật đổ hay chống phá ai, chỉ lên tiếng giữ tương lai cho con cháu.

Trồng cây hay trồng người, mười năm hay trăm năm, không việc nào là nhỏ. Việc mười năm để di dưỡng chuyện trăm năm. Vấn đề là, ngoài ngồi đó kêu than, bạn có cùng bắt tay hành động?

Đừng than trách mãi về thể chế. Đừng đổ vấy tại xích xiềng. Đẩy thuyền được thì lật thuyền được. Thể chế do con người tạo ra, và con người có thể thay đổi thể chế. Từ những điều gần gũi nhỏ bé bình thường. Đừng chỉ ngồi làm triết gia mơ chuyện thay trời đổi đất mà không bao giờ chịu bắt tay hành động. 

Còn rừng, còn hồn nước. Mất rừng, hậu sinh sẽ bị diệt vong.

“Hồn Tổ quốc ngự giữa rừng sâu thẳm.

Rừng điêu tàn là Tổ quốc suy vong”*

* (Câu thơ xin từ trang bạn Phan Thúy Hà).

Điều gì khiến một số người ‘bắt cá hai tay’?

27 tháng 10 2020

Ta thường nghĩ quan hệ yêu đương là sự hòa hợp thấu hiểu giữa hai người. 

Nhưng giờ đây, lệ thường này ngày càng bị soi xét khi nhiều người định nghĩa lại tình cảm lãng mạn. 

“Sự duy nhất có ý nghĩa gì đối với anh?” Amy Hart, người tham gia loạt chương trình truyền hình thực tế Love Island (Đảo Tình yêu) ở Anh hồi năm 2019, chất vấn. 

Nên quay lại với người yêu cũ hay bỏ đi?

Dịch vụ thuê người ‘cắm sừng’ ở Nhật Bản

Vì sao phụ nữ càng thành đạt càng dễ ly hôn

Người yêu cô, Curtis Pritchard, bị dồn vào thế bí và cô biết điều đó. Anh đã hôn nhiều cô gái khác sau lưng cô. 

Pritchard thu mình trong chiếc ghế khi Hart hùng hồn và bình tĩnh liệt kê ra những khúc mắc trong tình yêu của họ, bắt đầu từ việc anh có thể có cảm xúc lãng mạn với hai người cùng lúc, đến chuyện cô cần anh ra sao và anh đã khiến cô hụt hẫng thế nào. 

Hart đang sống với quy tắc cho rằng tình yêu lãng mạn chỉ có thể xảy ra giữa hai người với nhau mà thôi, và cô cho rằng Pritchard đang phá vỡ luật chơi. 

Nhưng những gì mà chúng ta biết về tình yêu của con người là, về mặt lịch sử thì tình cảm đó phức tạp hơn rất nhiều so với chế độ một vợ một chồng vốn đã trở nên đương nhiên trong nhiều xã hội ngày nay. 

Liệu ta có thể quay trở lại với cội rễ đa thê hoặc đa phu như trước kia không? 

Quan hệ tình nhiều bên

Việc thuận tình chấp nhận mối quan hệ nhiều bạn tình (consensual non-monogamy, viết tắt là CNM) cho phép hai người trong cặp đôi có thể thoải mái qua lại tình cảm với những người khác. 

Điều này bao gồm tất cả mọi thứ, từ quan hệ đa thê, đa phu cho đến thay đổi bạn tình và những thể thức khác của quan hệ “mở”. 

Dù là dưới hình thức gì, thì một trong những điều tạo nên định nghĩa ‘thuận tình chấp nhận mối quan hệ nhiều bạn tình’ là hai người trong cặp đôi đó thảo luận và đồng ý với những giới hạn, chẳng hạn như họ có thể đi xa tới mức nào, và khi nào, ở đâu. 

Điều này có nghĩa là hành vi dại dột của Pritchard không nằm trong định nghĩa này, vì Hart chưa đồng ý. 

Tuy nhiên, sự tồn tại – tuy không nhiều cho lắm – của mối quan hệ đa phu hoặc đa thê trong cộng đồng có thể lý giải vì sao Pritchard hành động như vậy. 

Bất chấp sự phổ biến của quan hệ một vợ một chồng, nói chung con người bị ta vẫn ám ảnh về việc muốn có quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn đời. 

Nhà tâm lý học Justin Lehmiller yêu cầu 4.000 người Mỹ mô tả khát khao tình dục họ muốn trong cuốn sách của ông, Hãy Nói Tôi Nghe Bạn Muốn Gì (Tell Me What You Want). 

Làm tình tay ba là điều được nhiều người mơ tới nhất, với một số giới hạn. Vậy quan hệ tình dục ba người là gì nếu không phải là sự đồng thuận quan hệ nhiều bạn tình? 

Không hẳn lúc nào cũng cần một đám đông – quan hệ tình dục ba người là một trong những mơ tưởng phổ biến nhất

“Nếu tính tất cả những người đang có người yêu, thì khoảng 5% trong số đó có thể gọi là có nhiều bạn tình,” Amy Muise, phó giáo sư tâm lý tại Đại học York ở Toronto, Canada, chia sẻ. 

Tìm tình yêu qua Tinder và các app hẹn hò

Sống nghèo khổ khiến đàn ông dễ bị trầm cảm

Yêu lành mạnh với bao cao su ‘chay’

Nhưng nếu tính cả những người muốn thử tìm để có nhiều bạn tình cùng lúc thì con số này tăng lên. “Trong cuộc sống, 21% mọi người từng có lúc duy trì mối quan hệ với không chỉ một người.” 

21% là tỷ lệ thấp hơn so với số hộ gia đình ở Mỹ nói ở nhà một thứ ngôn ngữ nào đó không phải là tiếng Anh (21,9%). 

“Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu điều này phổ biến hơn,” Amy Moors, phó giáo sư tâm lý từ Đại học Chapman, California, nói. 

“Do kỳ vọng xã hội, nên mọi người thường trả lời theo cách bảo thủ hơn. Đó có thể là lý do vì sao mọi người thường ước tính cao hơn thực tế số lượng trái cây hay rau củ họ ăn mỗi ngày, hoặc ước tính thấp hơn thực tế lượng nước họ uống mỗi ngày.” 

Vào lúc này, cơ hội gặp bạn tình mới bên ngoài gia đình có thể là khá ít do nhiều quốc gia đang áp dụng các biện pháp hạn chế giao tiếp xã hội, nhằm phòng chống Covid-19. 

Những người có nhiều bạn tình nay nhận ra rằng bản thân họ đang có nhiều thời gian hơn ở bên người chung sống cùng nhà, đồng thời phải học cách thích nghi với việc giảm bớt rất nhiều thời gian đến với những bạn tình khác.

Chưa rõ điều này ảnh hưởng ra sao đến sức khỏe về lâu dài. 

Và, như ngành tâm lý học xã hội giải thích, trong những khoảng thời gian bình thường thì có nhiều lý do cho thấy người cùng lúc quan hệ tình cảm với nhiều bạn tình có thể được lợi một số thứ mà những người trong quan hệ một vợ một chồng không có. 

Quan hệ một vợ một chồng hình thành từ khi nào?

Câu hỏi khi nào thì quan hệ một vợ một chồng xảy ra với con người vẫn còn là đề tài gây tranh cãi. 

Một số nhà nhân chủng học lấy thực tế rằng con người thời cổ đại cực kỳ lưỡng hình về mặt tính dục – tức là nam giới và nữ giới hoàn toàn khác nhau về kích cỡ, hình dáng – làm bằng chứng cho thấy có sự tồn tại của mối quan hệ đa phu/đa thê. Mức độ lưỡng hình về tính dục cao cho thấy áp lực chọn lọc tính dục là cực kỳ lớn với một hoặc cả hai giới tính. 

Ở một số loài như khỉ đột, các con đực to lớn hơn nhiều khả năng sẽ có lợi thế hơn về mặt tính dục, vì kích cỡ to lớn chính là lợi thế giúp chúng áp đảo các con đực khác. Chẳng hạn, với khỉ đột núi, một con đực ở thế thượng phong sẽ kiểm soát và thực hiện 70% tổng số các lần giao phối, tạo ra một quần thể xã hội đa thê (nơi nhiều cá thể cái giao phối với một cá thể đực). 

Lưỡng hình về tính dục không hẳn lúc nào cũng là ở vóc dáng, kích cỡ. 

Một số loài phô trương vẻ đẹp cơ thể hoặc những dấu hiệu chứng tỏ độ sung sức, như ở chim là bộ lông cánh lộng lẫy hay ở cá là màu tươi sáng, làm vũ khí cạnh tranh nhằm quyến rũ bạn tình, thay vì dùng vũ lực để tranh giành với các đối thủ. 

Sự khác biệt giữa các loài động vật này so con người, là chúng thường không có tính xã hội, vì vậy một con đực hay một con cái có thể sẽ không kiểm soát được tất cả những bạn tình tiềm năng trong khu vực. 

Lập luậ tương tự cũng có thể được dùng để giải thích theo hướng ngược lại – đó là sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà thời cổ đại khá tương tự như chúng ta ngày nay, và điều này được chứng minh qua các mẫu hóa thạch cổ khác nhau. Vì vậy, rất có thể chế độ một vợ một chồng đã xảy ra từ rất sớm. 

Sự đa dạng hoặc thiếu đa dạng nhiễm sắc thể Y ở con người cũng là điều được dùng để lý giải vì sao con người duy trì chế độ đa thê cho mãi đến thời gian gần đây. 

Một lần nữa, các nhà nhân chủng học lại phản bác bằng chứng. Tuy nhiên, một số người cho rằng sự thiếu đa dạng trong các dữ liệu về gene ở nam giới cho thấy chỉ có một số ít đàn ông có cơ hội giao phối trong quá trình tiến hóa của con người. 

Trong thời gian gần đây hơn, sự đa dạng này đã tăng lên, cho thấy số lượng nam giới được thực hiện hành vi giao phối hơn, nhờ chế độ hôn nhân một vợ một chồng. 

Chế độ hôn nhân chỉ bắt đầu được áp dụng rộng rãi sau khi ý niệm về sở hữu đất đai nổi lên, đặt ra những vấn đề về thừa kế

Ta biết được từ các bằng chứng khảo cổ học rằng con người cổ đại sống trong những nhóm nhỏ gồm các gia đình nhiều thế hệ. 

Mô hình máy tính mô phỏng xã hội săn bắn – hái lượm cho thấy nhìn chung họ cần phải quan hệ với những người bên ngoài nhóm mình để có thể duy trì nòi giống. Vì vậy, có thể là đã có dòng dịch chuyển lớn các cá nhân giữa các cộng đồng săn bắn – hái lượm khác nhau, nhằm tìm đến và giao phối với nhau. Duy trì một gia đình giữa những người có chung bộ gene giống hệt nhau là điều bất khả thi. 

Mô hình máy tính cho thấy xã hội săn bắn – hái lượm là dạng một vợ một chồng theo từng thời kỳ, nghĩa là các cặp đôi ở bên nhau một khoảng thời gian cho đến khi đứa con nhỏ cai sữa thì họ chuyển qua tìm bạn tình mới. Điều này cực kỳ có lợi về mặt tính dục cho đàn ông hiện đại, đó là lý do có thể lý giải vì sao đàn ông thích có quan hệ mở hơn. 

Nghiên cứu của Lehmiller về những khát khao tình dục cho thấy đàn ông thích làm tình tập thể (khoảng 26% nam giới, so với 8% là nữ giới). 

Xu hướng tương tự cũng thấy ở các dạng “tình dục cộng đồng” khác, như thích tham dự tiệc tình dục hoặc các câu lạc bộ trao đổi bạn tình (17% nam giới thích điều này so với 7% nữ giới). 

Tuy nhiên, những phụ nữ mơ tưởng tới chuyện này nhiều khả năng sẽ thực hiện điều đó hơn so với đàn ông. Số người trong cùng nhóm tham gia trả lời nghiên cứu nói rằng họ từng tham dự hoạt động làm tình tập thể là khoảng 12% nam giới và 6% nữ giới. Có vẻ như phụ nữ dễ tìm được cơ hội thích hợp hơn trong các phiêu lưu tình dục. 

Điều mà ta biết là trong khoảng 85% xã hội hiện đại trên toàn cầu, các hình thức quan hệ vượt ra ngoài khuôn khổ một vợ một chồng sẽ bị trừng phạt. 

Dẫu rằng trong Kinh Cựu Ước có đầy các đoạn trích dẫn về chế độ đa thê/đa phu, nhưng điều được đương nhiên chấp nhận trong hầu hết các xã hội vẫn là một vợ một chồng. 

Dù rằng mô hình này thời nay là phổ biến, nhưng bất kể bạn nhìn vào vấn đề này theo cách nào thì trong lịch sử, con người trước đây không sống kiểu một vợ một chồng như chúng ta bây giờ. Vậy tại sao một vợ một chồng suốt đời lại được xem là điều đương nhiên? 

“Rất khó để trả lời câu này một cách cô đọng mà không đề cập tới truyền thông,” Moors giải thích, nhấn mạnh rằng tác động của nghệ thuật và văn hóa có ảnh hưởng đến ta trong quá trình lớn lên. 

“Trong hầu hết thời gian khi ta lớn lên, cha mẹ ta đã kết hôn hoặc cố gắng sống kiểu một vợ một chồng. Ở hầu hết mọi nơi trên thế giới, ta đều có chế độ hôn nhân.” 

“Từ khi con người bắt đầu chiếm hữu và sở hữu đất đai, quan hệ hôn nhân trở nên phổ biến, bởi đó là cách rành mạch để kiểm soát tài sản, để tài sản thuộc về gia đình bạn,” Moors lý giải. “Từ thời điểm đó, ta bắt đầu ưu tiên quan hệ vợ chồng và quan hệ dị tính.” 

Quen thêm người khác có tốt không?

Các nghiên cứu về quan hệ tình nhiều bên cho thấy nếu hai người trong một cặp đôi để ý tới tình dục theo mức khác nhau, thì sẽ tốt hơn nếu mỗi người có nhiều bạn tình. 

“Trong một mối quan hệ, thường sẽ có sự khác biệt giữa sở thích của hai người,” Muise nói. “Tuy nhiên, những người có nhiều bạn tình nói chung cảm thấy được thoả mãn hơn. Nếu bạn có ham muốn tình dục với người khác, thì sẽ là lành mạnh thôi nếu như bạn đi khám phá ham muốn đó.” 

Điều mà nghiên cứu về quan hệ tình nhiều bên còn thiếu đến nay, đó là thời gian nghiên cứu kéo dài, trong đó những nhóm người muốn tính đến chuyện mở rộng quan hệ sẽ được tiếp tục theo dõi trong nhiều năm, thậm chí từ trước khi họ có đối thoại đầu tiên với bạn đời.

Một số người có thể đóng vai trò khác nhau trong mối quan hệ bạn tình; có những người là do có nhu cầu chăm sóc người khác, có những người tìm đến nhiều bạn tình vì khát khao được đáp ứng ham muốn tình dục

Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã bắt đầu lấp khoảng trống đó. 

Trong một nghiên cứu, những người tò mò với mối quan hệ nhiều bạn tình và những người chưa bao giờ nghĩ tới chuyện đó được mời trả lời một bảng hỏi về tình yêu và mức độ thỏa mãn tình dục của họ. 

Ban đầu, không ai trong số họ nói chuyện với bạn đời về ý tưởng có quan hệ mở với người khác. Cuối cùng, họ được hỏi lại cùng những câu hỏi trên về việc họ cảm thấy thỏa mãn ra sao về đời sống tình cảm, và đồng thời hỏi họ có mối quan hệ mở hay chưa.

“Với những người muốn có quan hệ mở và cuối cùng đã có mối quan hệ đó, thì mức độ thỏa mãn của họ cao hơn thấy rõ,” Samantha Joel, phó giáo sư tâm lý xã hội từ Đại học Western ở London, Canada, cho biết. 

“Trong khi đó, những người nghĩ đến ý tưởng này nhưng không thực hiện, thì sự thỏa mãn của họ sụt giảm, nhưng mà giảm không đáng kể.” 

Joel cho rằng sự thỏa mãn tăng lên ở những người chuyển qua mối quan hệ có nhiều bạn tình có thể là kết quả của hiệu ứng dây chuyền. 

Đời sống tình dục tốt hơn với bạn tình thứ hai khiến cho sự thỏa mãn với bạn tình thứ nhất, tức là người bạn đời chính thức, tăng lên, bởi đột nhiên áp lực trong việc chỉ có một người phải đáp ứng nhu cầu của họ đã được gỡ bỏ. 

“Chúng ta cũng biết rằng khi viên mãn với đời sống tình dục thì con người ta sẽ giao tiếp tốt hơn,” Joel cho biết. 

“Những người có nhiều bạn tình nói rằng họ tâm sự cởi mở – bởi sẽ rất khó để có nhiều bạn tình nếu bạn không trao đổi với nhau về các giới hạn. Trong khi đó, giữa những cặp đôi một vợ một chồng, họ không mấy khi thảo luận về các giới hạn.” 

Sự thỏa mãn về cảm xúc – như cảm giác yên tâm, sự chăm sóc và gần gũi – có xu hướng tăng lên theo thời gian trong các mối quan hệ thông thường. 

Trong khi đó, sự bất ngờ và thích thú, vốn liên quan đến sự phấn khích tình dục, sẽ giảm xuống. 

“Ban đầu, tình cảm rất đắm say và nồng nhiệt, nhưng dần dần nó trở nên dễ đoán,” Rhonda Balzarini, nhà tâm lý học từ Đại học York cho biết. “Khó mà duy trì được sự mới mẻ cũng như sự cuồng nhiệt.” 

Balzarini lấy ví dụ về người bạn tình chính, người mà bạn kết hôn hợp pháp, sống chung, có con và nói chung là có một số trách nhiệm liên quan đến cuộc sống hôn nhân một vợ một chồng. 

Với tất cả những mối lo cơm áo gạo tiền đi kèm như thế, người ta sẽ cần phải dự tính nhiều việc – khiến mối quan hệ không còn hấp dẫn về mặt tình dục nữa, bà giải thích. 

Người bạn tình thứ hai có thể không cần phải chia sẻ trách nhiệm gì với bạn, và vì vậy, sự cuồng nhiệt cảm xúc sẽ không bị lụi tàn. Kết quả là người thứ hai sẽ có xu hướng làm chuyện chăn gối với bạn nhiều hơn mà lại có ít cam kết, ràng buộc nhau hơn. 

“Nói chung, tôi nghĩ có sự điều chỉnh giữa sự mới mẻ và an toàn, và sống trong mối quan hệ nhiều bạn tình về lâu về dài là cách để có thể đồng thời thỏa mãn được cả hai nhu cầu,” Joel nói. “Đó không phải là cách duy nhất, nhưng là một trong các cách và nó có tác dụng với một số người.” 

Số cách để có mối quan hệ với nhiều bạn đời cũng đa dạng như số người đang sống theo cách này. 

Bạn kiểm soát sự ghen tuông ra sao? 

Ích lợi của mối quan hệ nhiều bạn tình có thể thấy rõ nhất khi cả hai người trong mối quan hệ chính đều ủng hộ cho hạnh phúc của người kia, Muise nói. 

“Nó giống như khi một người muốn bạn đời của họ được thỏa mãn đời sống tình dục, nhưng bản thân họ không nhất thiết phải là người đem đến sự thỏa mãn đó,” bà giải thích. “Và một người, khi thấy bạn đời của mình muốn thành toàn cho mình thì họ sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi tìm đến người thứ ba, thứ tư để thỏa mãn nhu cầu.” 

Điều này giải thích một khái niệm tâm lý, mà trong tiếng Anh gọi là “compersion”, tức là trạng thái một người cảm thấy hài lòng khi thấy người mình yêu được thỏa mãn tình dục hoặc thăng hoa cảm xúc với một người khác. 

Bạn có lẽ sẽ thấy dễ hình dung hơn về khái niệm này khi thay quan hệ yêu đương, tình dục bằng một dạng quan hệ khác. Ví dụ, hãy nghĩ tới cảm giác của bạn khi nhìn người khác vui sướng mở gói quà. 

Vậy làm sao những người sống trong mối quan hệ chấp nhận đối phương có nhiều bạn tình khác có thể dẹp bỏ cảm giác ghen tuông? 

Với đàn ông, cảm giác ghen tuông dễ nổi lên hơn khi bạn tình không chung thủy về thể xác hơn là về tâm hồn, Katherine Aumer, tác giả và là nhà nghiên cứu ở Đại học Hawaii Pacific, viết. Bà là đồng tác giả một nghiên cứu về tâm lý ‘compersion’ trong mối quan hệ một vợ một chồng và trong các mối quan hệ nhiều bạn tình. 

Theo thuyết tiến hóa, thường thì người đàn ông sẽ rất muốn biết ai là cha ruột của con mình, trong khi với người phụ nữ thì việc xác định mẹ đẻ lại không phải là vấn đề gì phức tạp. 

Tuy nhiên, phụ nữ dễ cảm thấy ghen tuông hơn trước sự không chung thủy về mặt cảm xúc, Aumer nói. 

Với áp lực tiến hóa trong việc nuôi nấng con cái, phụ nữ có động cơ mạnh mẽ trong việc giữ bạn đời ở bên cạnh để người đàn ông đó chu cấp nuôi dưỡng và bảo vệ cho hai mẹ con trong thời gian họ còn phải nuôi con bằng sữa mẹ. 

Nếu người đàn ông đang dồn tình cảm cho một người phụ nữ khác, người mẹ có thể sẽ không được anh ta chăm sóc ở mức tốt nhất, không được anh ta bảo vệ trước các bất trắc, khó khăn có thể có. 

Tại sao một số người chọn cách sống có nhiều bạn tình? 

Có bằng chứng cho thấy một số người khéo hơn những người khác trong việc thu xếp, duy trì nhiều mối quan hệ tình cảm một lúc. 

Thuyết gắn bó miêu tả cảm giác về tâm trạng an toàn và bất an hình thành nên những mối quan hệ tình cảm của ta, và nó cũng có thể lý giải vì sao một số người không chấp nhận chia sẻ bạn đời với người khác. 

Việc chuyện trò tâm sự với nhau là yếu tố then chốt trong mối quan hệ CNM, nhưng có thể lại không được ưu tiên trong mối quan hệ một vợ một chồng

Chris Fraley từ Đại học Illinois đã thu thập dữ liệu về sự gắn bó ở những người tham gia bảng hỏi trên mạng trong hai thập niên qua. 

Tổng số có khoảng 200.000 người đã tham gia trả lời, và rất nhiều nhà nghiên cứu khác đã dựa vào bộ dữ liệu đồ sộ này để thiết lập chuẩn mực cho nhiều kiểu hành vi khác nhau. 

Dựa trên những dữ liệu này, Moors cho biết bà nhận thấy những người có quan hệ tình cảm với nhiều người thì có mức độ ‘gắn bó lo âu’ và ‘gắn bó tránh né’ thấp hơn so với những người khác. 

Tuy nhiên, bà cũng chỉ ra rằng đây chỉ là phát hiện mang tính tương đối, bởi rất có thể là chỉ có những người cảm thấy vững tâm, không lo âu, không tránh né mới bị thu hút với lối sống như vậy. 

Hồ sơ tâm lý của những người có nhiều bạn tình cho thấy họ có những nhu cầu cảm xúc mà chỉ một người thì không thể nào thỏa mãn được. 

“Nói chung, người có nhiều mối quan hệ tình cảm có nhu cầu cao hơn bình thường,” Balzarini nói. “Chúng tôi thấy rằng những người có mối quan hệ một vợ một chồng có sự cân bằng trong nhu cầu chăm sóc và hưng phấn tình dục. Nhưng ở những người có nhiều bạn tình, họ có thể có nhu cầu này cao hơn nhiều trong lúc nhu cầu kia lại thấp hơn nhiều. Họ là người cần cả hai nhu cầu cùng lúc, và rất khó mà đạt được tất cả từ một bạn đời duy nhất. Người bạn đời gắn bó, người vẫn luôn ân cần chăm sóc cho họ không hẳn là người có hấp lực tình dục đối với họ.” 

Rất khó có thể dựng nên chân dung một người có nhiều bạn tình, theo Moors. 

Bà cho rằng không có tương quan nào giữa tuổi tác, thu nhập, nơi sinh sống, trình độ giáo dục, chủng tộc, dân tộc, tôn giáo hay hội nhóm liên quan đến kiểu sống có nhiều bạn tình trong nghiên cứu của bà. 

Những người đồng tính nữ, đồng tính nam, người song tính có xu hướng có nhiều bạn tình cùng lúc hơn so với những người khác. 

Nếu có điều gì trải dài suốt cuộc đời, đó là vẫn có sự kỳ thị không che giấu đối với việc có nhiều bạn tình. 

Moors lấy ví dụ, người ta vẫn coi tình yêu trong sáng không cần đến quan hệ thể xác, hay tình yêu vô tận dành cho gia đình là điều bình thường, nhưng vì lý do nào đó ta lại tin rằng tình yêu lãng mạn là nhất thời. 

“Ta đã biết cách để có mối quan hệ yêu đương gần gũi với nhiều bạn đời,” bà chia sẻ. “Nhưng ta lại tin rằng tình yêu lãng mạn chỉ tồn tại hữu hạn? Bao nhiêu bạn tình tuyệt vời nhất mà bạn có thể có trong đời? Ồ, thật đáng ghê tởm nếu bạn có quá nhiều bạn tình? Nói ra như vậy nghe quả thật ngớ ngẩn.” 

Ta đòi hỏi rất nhiều từ bạn đời. Ta kỳ vọng họ là người nâng đỡ cuộc đời ta, là bạn thân, là tri kỷ. 

“Chúng ta không nên đòi hỏi một người phải đáp ứng được tất cả mọi thứ,” Moors nói. Có lẽ tốt hơn hết là ta nên đem nhu cầu của mình chia sớt, đòi hỏi từ nhiều người. 

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Future.

MỘT NGÀY CÔ ĐỘC

Lê Giang Trần

Hoàng hôn nhuộm đỏ tôi ngồi

Nhà hàng sát biển ngắm lời sóng khua

Người quanh rộn tiếng vui đùa

Ngoài trời chiều hải âu chua tiếng buồn

Trong lòng phơ phất quê hương

Cần Thơ Đà Lạt Sài Gòn Bạc Liêu

“Chiều chiều chim vịt kêu chiều

Bâng khuâng nhớ bậu chín chiều ruột đau”

Mặt trời chìm xuống biển sâu

Người trôi nổi thả trên cầu mông lung

Lung linh trăng áo nhạt vàng 

Gió bồng sóng vỗ nỗi lòng lan man

Đêm Thu trở lạnh sẽ sàng

Đồi nương se sắt lá vàng rắt rơi

Sóng biển xả stress lên đời

Bãi khuya quạnh quẽ gió trời quạnh hiu

Nỗi tan hoang mộng tình yêu

Trái tim một chiếc đũa liêu xiêu trầm

Tâm hồn như chiếc tàu ngầm

Dò la đáy biển ngư nhân chốn nào?

Đi như du hành xuyên sao

Đến hằng hà trái tinh cầu tìm em

Từ khi em biệt trái tim

Địa cầu đã trở thành viên đất buồn

Tình như bài Hành Phương Nam

Như đào kép diễn tấn tuồng phu thê

Như miền Trung bão lê thê

Miền Tâm nước lũ não nề lụt dâng

Đường về dờn dợn sương lan

Như bầy ma dạo lang thang nhát người

Thấy mình cũng giống ma trơi

Hoang liêu xóm chợ xó đời múa rong…

Tiếng đàn thê thiết cung thương

Chùng sương co lá mù đường khuyết trăng

Một ngày cô độc tận cùng

Chìm trong tiếng hát hoang đường tôi say

(192618 Thu đã vào lạnh, và Phạm Hoàng Dũng, Lập Minh… đêm có tiếng hát)

Cách chúng ta đối xử với tự nhiên như thế nào thì nó sẽ đối xử lại với chúng ta y như vậy.

Hợp Bích Hồ

Con người chúng ta ngày nay đang mất dần sự kết nối với thiên nhiên, họ tước đoạt rất nhiều thứ từ thiên nhiên để phục vụ cho nhu cầu của bản thân mình, và quên mất rằng thiên nhiên còn tồn tại thì con người chúng ta mới có sự sống. Cách chúng ta đối xử với tự nhiên như thế nào thì nó sẽ đối xử lại với chúng ta y như vậy.

Hồ Kochelsee, Schlehdorf, bang Bayern, Đức. Photo : Hợp Bích Hồ

Những ngày qua nhìn sự cuồng nộ của tự nhiên lên dãy đất Miền Trung của Việt Nam, chúng ta không thể không sợ hãi và đau lòng. Nhưng mọi chuyện đều có gốc rễ của nó, thiên tai đáng sợ, thêm nhân tai thì còn đáng sợ hơn nhiều. Điều quan trọng của mỗi con người chúng ta ngày nay cần có ý thức bảo vệ môi trường sống của chính mình. Chăm sóc cho thiên nhiên chính là chăm sóc cho cuộc sống của chính chúng ta. Ngoài ra chính quyền cần có trách nhiệm, bớt tham lam, bớt ích kỷ và có những hành động cụ thể để tái thiết lại tự nhiên, cải thiện môi trường sống, giúp con người có thể sống hòa hợp với thiên nhiên như trước đây. Không thể có chuyện mình gom vét từ thiên nhiên, từ dân ngèo để mình ở nhà cao cửa rộng, con mình đi du học, con người ta phải ngụp lặn trong nước lũ, con người đâu thể độc ác như vậy phải không?

Hồ Kochelsee, Schlehdorf, bang Bayern, Đức. Photo : Hợp Bích Hồ

Nhưng một điều đáng buồn, con người đang khai thác thiên nhiên vượt quá khả năng tái sinh, thiên nhiên đang bị tàn phá với “tốc độ hủy diệt”, có thể mất cả vài trăm năm thì con người cũng không thể phục hồi lại một phần thiên nhiên đã bị tàn phá.

Hồ Kochelsee, Schlehdorf, bang Bayern, Đức. Photo : Hợp Bích Hồ

Tôi luôn mong đất nước mình đẹp đẽ thanh bình, nhiều cây xanh bóng mát như những nơi tôi đã từng đến. Nhưng có lẻ rất khó bởi chúng ta chưa thực sự sẵn sàng.

Hồ Kochelsee, Schlehdorf, bang Bayern, Đức. Photo : Hợp Bích Hồ
Hồ Kochelsee, Schlehdorf, bang Bayern, Đức. Photo : Hợp Bích Hồ
Hồ Kochelsee, Schlehdorf, bang Bayern, Đức. Photo : Hợp Bích Hồ
Hồ Kochelsee, Schlehdorf, bang Bayern, Đức. Photo : Hợp Bích Hồ

Bài và ảnh : Hợp Bích Hồ

Câu chuyện thị trấn nơi Phạm Duy từng sống qua

Vũ Quí Hạo NhiênSeptember 11, 2020

Blog VOA

Ở Little Saigon có vùng đất mang tên Midway City. Nó nằm khoảng góc Bolsa và Newland, chỏng chơ lọt thỏm giữa thành phố Westminster với một khúc ngắn giáp ranh Huntington Beach. Lúc sinh thời nhạc sĩ Phạm Duy sống tại đây và ông đặt tên Việt cho nó là “thị trấn giữa đàng.”

Midway City tuy mang tên vậy nhưng không phải là một “city,” thành phố, theo đúng nghĩa hành chánh. Ở Mỹ, thông thường một tiểu bang được chia làm nhiều county, và tất cả các county gộp lại thì bằng tiểu bang. Có tiểu bang, là tự động có county. City thì khác. City phải tự lập ra theo luật định. Quá trình thành lập một thành phố được gọi là “to incorporate,” cùng chữ với việc lập một công ty. Phải incorporate xong, một city mới có tư cách pháp nhân, mới có thể tự ký hợp đồng, chi tiền và thu tiền, kiện và bị kiện, y hệt như một công ty phải incorporate xong mới có tư cách pháp nhân.

Thế thì ngày xưa ở đây có ba vùng đất, Midway City, Barber City, và Westminster. Cũng như Midway City, Barber City đặt tên “city” cho vui chứ không phải là city, không có tư cách pháp nhân, không có chính quyền riêng, mà trực thuộc Orange County.

Năm 1957, cư dân ba vùng này quyết định gộp lại làm một và incorporate thành một city. Họ đặt tên cho thành phố mới là Tri-City, “Tri” vì là 3 khu gộp lại. Nhưng, vào phút chót, cư dân Midway City tính ra lợi bất cập hại, tiền thuế sợ bị tăng lên mà dịch vụ chắc cũng không hơn gì, nên rút lui. Sự xáo trộn chính trị này mém làm cuộc bỏ phiếu thất bại. Nhưng rồi cử tri Barber City và Westminster đồng ý sáp nhập với tỷ số khít khao 1096 phiếu thuận, 1008 phiếu chống. Thành phố Westminster ra đời, để lại Midway City tiếp tục trực thuộc Quận Cam.

Ranh giới giữa Midway City và Westminster, năm 1962, góc Bolsa và Eden hiện nay. Xa xa phía trước sau này sẽ là khu Bank of America và siêu thị ABC. (Hình: OC Archives)

Nói vậy chứ Westminster cũng không vừa. Đi đêm – và đi ngày – với chính quyền Quận Cam, Westminster bắt đầu gặm nhấm, sáp nhập từng chút từng chút đất của Midway City. Không chỉ Westminster, mà Huntington Beach ở phía nam cũng muốn nuốt chửng Midway City. Thời thập niên 1980, thị trưởng Kathy Buchoz của Westminster đã đề nghị sáp nhập Midway City “luôn cho rồi,” nhưng bị Phòng Thưong Mại Midway City phản đối quá kịch liệt, nên đành rút lại. Nhưng cuộc cắn xé thì vẫn tiếp tục.

Midway City đâu có gì đâu mà ham dữ vậy? Đúng, nếu quý vị đã từng tới lui khu Little Saigon thì quý vị hẳn biết Midway City chỉ có nhà cửa cho dân cư chứ “đâu có gì đâu” thiệt. Nhưng quý vị biết tại sao không? Tại quý vị chỉ nhìn thấy kết quả sau khi Midway City đã bị gặm nhấm hết rồi.

Món mồi béo bở của Midway City, cái mà cả hai thành phố Westminster và Huntington Beach đều ham, là đường Beach Boulevard với các cơ sở thương mại và dealer xe hơi hai bên đường. Chỉ riêng các dealer xe hơi đã đẻ ra tiền thuế nhiều hơn cả khu Little Saigon cộng lại. Trong cuộc giành ăn này, Quận Cam về hùa với Westminster và kết quả ngày hôm nay Midway City bị xé lẻ làm 4 miếng rời rạc với nhà ở là chính.

Midway City bị xé lẻ, bao bọc hầu hết bởi Westminster với một cạnh ngắn giáp ranh Huntington Beach. (Hình: Vũ Quí Hạo Nhiên, trên nền zipmap.net)

Một thửa ruộng trồng rau cần tây năm 1900, đâu đó trong vùng đất Westminster hay Midway City hiện nay. (Hình: OC Archives)

Như hầu hết Quận Cam thời xa xưa, vùng đất nay là Midway City trước đây là đất ruộng. Sách “History of Orange County California with Biographical Sketches of the Leading Men and Women of the County” của Samuel Armor xuất bản năm 1921 kể về gia đình đầu tiên dọn tới đây, là gia đình Hazard. Hiện nay, vẫn còn tên đường Hazard chạy song song với Bolsa.

Sách kể rằng từ miền Đông hai vợ chồng Robert và Betsy Ann Hazard về vùng “Viễn Tây” của thời đó, là Iowa, mua miếng đất chăn bò. Từ Iowa, họ chuyển qua canh tác ở Nebraska, rồi tới năm 1881 dọn cả gia đình qua California, tới giáp ranh vùng Bolsa đã được thiết lập trước đó.

Tại đây, họ mua miếng đất 40 acres với giá 700 đô-la dùng để trồng trọt, chăn nuôi. Ông Robert mất sớm vì bệnh tim, bà Betsy Ann tiếp tục ở lại canh tác. Trong các con cháu, người cuối cùng ở lại làm ruộng với bà là cô con gái Bertha và cháu nội, cũng tên Robert. Cha của Robert là Frank; ông này mua một miếng đất 120 acres cũng ngay khu này, nên Robert thừa hưởng cả hai miếng đất và trở thành chủ nhân gốc của Midway City. Con của Robert là Clyde, sau này trở thành một nhân vật tên tuổi trong cộng đồng Midway City. Ông Clyde Hazard mất năm 1993.

Người thực sự sinh ra Midway City không phải trong gia đình Hazard, mà là John Harper. Hiện nay vẫn còn đường Harper Street mặc dù qua thời gian, với tiến trình đô thị hoá, con đường huyết lộ bắc – nam của Midway City chỉ còn là đường nhỏ bị cắt rời rạc trong khu nhà ở.Một khúc đường Harper Street ở Midway City. (Hình: Google Maps)

Ông này rất khôn. Ông chọn mua đất ở địa điểm này vì vừa gần bến xe ngựa, vừa sát phía bắc của khu khai thác dầu ở Huntington Beach. Năm 1922, ông mua 200 acres đất, phát triển hạ tầng cơ sở, và chia lô ra bán để xây nhà. Ông chọn tên Midway City vì nó nằm vừa đúng giữa đường từ Santa Ana ra biển.

Vừa đúng lúc đó, các giếng dầu ở Huntington Beach càng ngày càng phát triển. Các công ty dầu khí giải tỏa dân cư để lấy chỗ đào mỏ và xây đường ống dẫn dầu. Họ dọn người dân ra chỗ gần nhất, và kết quả là các lô đất của Harper bán chạy hết. Đó là điểm khởi đầu của Midway City.

Tuy trực thuộc Quận Cam, nhưng cử tri địa phương cũng triệu tập một hiệp hội chủ nhà (homeowners’ association) và một Phòng Thương Mại và xem hai tổ chức này như một thứ chính quyền để quyết định các vấn đề địa phương như quy hoạch, sửa đường, thay bóng đèn, này nọ. Các quyết định của hai tổ chức này tất nhiên không có tính pháp lý nhưng thường đều được chính quyền Quận Cam thông qua. Còn về dịch vụ như cảnh sát, cấp cứu, Quận Cam khoán ráo trọi cho Westminster. Lâu lâu lại nghe Westminster than phiền Quận Cam thiếu nợ tiền dịch vụ cảnh sát cho Midway City. Rốt cuộc không sáp nhập vào Westminster vậy mà Midway City được lợi, ít nhất ở khoản trả “bill” cảnh sát.

Vũ Quí Hạo Nhiên là giáo sư Toán đại học cộng đồng Coastline College ở Quận Cam, California, với hơn 10 năm dạy các đại học cộng đồng trong vùng như Santa Ana, Cypress, Santiago Canyon, và Orange Coast College. Ngoài ra, ông cũng từng làm báo Việt ngữ trong hơn 10 năm, với chức vụ Tổng thư ký Toà soạn và Phụ tá chủ bút cũng như cộng tác viên cho nhiều báo, đài phát thanh tại Mỹ và các nước khác.

Ông là giám đốc chương trình luyện thi SAT cho một trung tâm tại Garden Grove, là giám khảo chấm thi AP Statistics cho College Board / ETS, và là cộng tác viên viết sách giáo khoa Toán cho nhà xuất bản Hawkes Learning.

Trong blog này Vũ Quí Hạo Nhiên viết về những chuyện ông biết: Toán, giáo dục, lịch sử California. Ông hy vọng độc giả sẽ thảo luận, phê bình, kể cả chê trách, cũng như cho ý kiến đề nghị đề tài.

Các bài viết của tác giả là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

TRỊNH CÔNG SƠN Ở QUY NHƠN… .

Phạm Hiền Mây

Chiều xuống, mưa lại lắc rắc về, nghe Khánh Ly ru hồn người với giọng buồn, mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao… , mắt lơ đãng liếc qua trang báo, tình cờ đọc, ngày 12.10.20, Quy Nhơn (Bình Định) khánh thành tượng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tại bãi biển thành phố.

Tượng có chiều cao hai mét tư, làm bằng đá granite xám trắng trong tư thế ngồi, áo sơ mi dài tay, chân mang giày, ôm cây đàn guitar, bên cạnh là bản nhạc Biển Nhớ. Ngắm bức tượng một hồi, chợt nghe lòng chưng hửng, thấy người nhạc sĩ tài hoa với gần một nghìn ca khúc nổi tiếng để đời kia, sao mà lạ lẫm, sao mà xa cách với mình đến vậy.

Chợt nhớ đến bức tượng Chopin từng thấy lâu rồi bên nhà người bạn, bèn lục lại, để hai bức ảnh tượng đặt gần nhau và… .

Tượng Chopin của người Ba Lan, tinh tế, mềm mại, đầy chất phiêu lãng… 

Nhận ra, tượng Chopin của người Ba Lan, tinh tế, mềm mại, đầy chất phiêu lãng… bao nhiêu thì bên cạnh, tượng của Trịnh Công Sơn cứng đơ, thiếu hồn vía và sự bay bổng bấy nhiêu… .

Tự hỏi một mình, nhà thơ thì viết thơ hay ngâm thơ? Chopin, Trịnh Công Sơn viết nhạc hay đánh nhạc? Họ muốn bức tượng tạc nên một nhạc sĩ hay là một nhạc công, một diễn viên?

Vẫn đang tiếng khàn khàn, nhựa nhựa của Khánh Ly, chiều nay còn mưa sao em không lại, nhớ mãi trong cơn đau vùi, làm sao có nhau, hằn lên nỗi đau, bước chân em xin về mau… . Sao những thương nhớ đến xót xa, những nuối tiếc đến sững sờ đó… đã không được thể hiện trên bức tượng này. Diễn tả về một nhạc sĩ lớn, rất lớn, có cần kèm theo một nhạc cụ hay không, và nhất là, nhạc cụ ấy, chiếm gần năm mươi phần trăm diện tích bức tượng?

Quy Nhơn là nơi có nhiều kỷ niệm đẹp của nhạc sĩ khi ông theo học trường sư phạm tại đây từ 1962 đến 1964. Nhiều ca khúc nổi tiếng ra đời từ thành phố biển này. Ông từng “viết về thành phố tôi đã xa” như sau, Quy Nhơn có những tháp Chàm lặng lẽ nghìn năm, có thể rất gần đây tôi sẽ chuẩn bị một chuyến trở về Quy Nhơn để tần ngần ngồi nhìn một bờ biển của những ngày xưa, lúc một hạt cát cũng đủ làm tôi cảm động.

Phải, chỉ một hạt cát thôi cũng đủ làm ông cảm động. Người nghệ sĩ, họ làm ra các giá trị nghệ thuật bằng khối óc, bằng con tim của mình chứ không phải bằng các dụng cụ kỹ thuật hay các phương tiện tình cờ, tiện đâu đặt đó… .

Chẳng nhẽ làm tượng danh tướng thì tay phải ôm khẩu súng? Làm tượng nhà thơ thì tay phải cầm cây bút có gắn lông chim? Mới thấy người Ba Lan họ nhìn người nghệ sĩ của đất nước họ bằng cặp mắt cũng rất nghệ sĩ, tương xứng.

Mưa vẫn hay mưa cho đời biến động, làm sao em nhớ những vết chim di, xin hãy cho mưa qua miền đất rộng, để người phiêu lãng quên mình lãng du… .

Trịnh Công Sơn ơi, với bức tượng tạc ông vô hồn thế này, thì quả là ông sẽ được quên, quên Quy Nhơn, quên một thành phố, nơi ông đã từng thốt lên, dạo đó, tôi còn trẻ và tôi yêu biển vô cùng… !

Chiếc xe buýt trong ‘Into The Wild’ bị đưa khỏi khu hoang dã Alaska

NGƯỜI VIỆT

Chiếc xe buýt được trực thăng Vệ Binh Quốc Gia Alaska câu mang đi. (Hình: Sgt. Seth LaCount/Alaska National Guard via AP)

ANCHORAGE, Alaska (AP) – Một chiếc xe buýt bị vứt bỏ trong vùng hoang dã tại Alaska, nơi một thanh niên yêu thích đời sống thiên nhiên từng dùng làm nơi trú ẩn, và ghi lại trong nhật ký về tình trạng chết dần của mình trong 114 ngày vào năm 1992, đã được lấy ra khỏi nơi này, sau khi có nhiều người bất chấp hiểm nguy, và ngay cả cái chết, tìm đến tận nơi để chiêm ngưỡng.

Một trực thăng vận tải loại Chinook của Vệ Binh Quốc Gia Alaska hôm Thứ Năm, 18 Tháng Sáu, câu chiếc xe buýt ra khỏi khu rừng, nằm về phía Bắc của khu công viên và bảo tồn thiên nhiên Denali.

Anh Christopher McCandless, vào khoảng cuối Tháng Tư, 1992, đã dùng chiếc xe buýt này để tạm trú sau khi tìm cách đi bộ đến biển Bering ở về phía Tây nhưng không được vì rừng cây quá rậm rạp. Người thanh niên 24 tuổi, quê quán ở Virginia này định đi ngược trở lại nhưng cũng không xong vì nước sông Teklanika dâng cao. Anh viết nhật ký, được tìm thấy cạnh thi hài trên chiếc xe buýt, ghi lại từng ngày chết dần của mình.

Câu chuyện của anh McCandless được ký giả Jon Krakauer kể lại trong cuốn sách xuất bản năm 1996, có tên “Into the Wild” (Vào Nơi Hoang Dã). Cuốn sách sau đó được chuyển thành phim với cùng tên, do Sean Penn thủ diễn và ra mắt năm 2007.

Trong nhiều năm trời, chiếc xe buýt, được gọi là “xe buýt diệu kỳ” (magic bus) trở thành nơi thu hút những người mạo hiểm, muốn lần theo dấu chân anh McCandless. Nhưng con sông Teklanika từng ngăn cản anh McCandless về nơi an toàn cũng đưa nhiều người đi sau vào tình trạng nguy hiểm.

Chiếc xe buýt bỏ hoang nơi anh Christopher McCandless trú ẩn và chết vì đói năm 1992. (Hình: AP Photo/Jillian Rogers, File )

Có hai phụ nữ, một người từ Thụy Sĩ năm 2010 và một từ Belarus năm 2019, đã chết đuối khi vượt sông.

Giới chức Alaska nói có 15 cuộc tìm kiếm người mất tích khác đã phải tiến hành từ năm 2009 tới nay, kể cả một vụ liên quan tới 15 du khách người Ý mùa Đông năm trước, với một người bị phỏng lạnh (frostbite) trầm trọng.

Bức hình chân dung do anh Christopher McCandless tự chụp. (Hình: Wikepedia)

Sau khi được câu khỏi khu rừng, chiếc xe buýt được giữ tại một nơi an toàn, chưa được tiết lộ địa điểm, trong khi giới chức địa phương đang bàn thảo nên làm gì.

Vệ Binh Quốc Gia Alaska cũng nói phi hành đoàn chiếc trực thăng có giữ một túi có những kỷ vật cho gia đình anh McCandless, nhưng không cho biết rõ trong đó có những gì. (V.Giang) [qd]

Nguồn : https://www.nguoi-viet.com/xe-hoi/chiec-xe-buyt-cua-cau-chuyen-into-the-wild-duoc-dua-khoi-khu-hoang-da-alaska-vi-tao-nhieu-nguy-hiem/

“Giá Chúng Ta Giữ Được Tây Nguyên Như Bhutan”

ByNhà Văn NGUYÊN NGỌC

Tôi lên Tây Nguyên lần đầu năm 1950 và đến nay đã trải qua 66 năm gắn bó với mảnh đất này. Nơi đây không chỉ cứu sống và nuôi dưỡng tôi qua hai cuộc kháng chiến mà còn dạy tôi nhiều điều về minh triết trong cuộc sống. Tây Nguyên rất đặc biệt, nhưng cũng rất đáng lo. Tôi mong mọi người hãy nghĩ, hãy đến Tây Nguyên và làm gì đó để cứu mảnh đất này. Nói đến Tây Nguyên là nói đến rừng và làng. UNESCO đã rất tinh tế nhận ra khi công nhận di sản văn hóa thế giới của Tây Nguyên, không phải là cồng chiêng, cũng không phải là âm nhạc cồng chiêng, mà là không gian văn hóa cồng chiêng, tức không gian làng, với rừng của làng. Rừng và làng chính là không gian văn hóa của Tây Nguyên. Không còn hai yêu tố này, sẽ không còn văn hóa Tây Nguyên, hoặc nếu có, cũng không còn là văn hóa thật. Thế nhưng vấn đề quan trọng nhất hiện nay ở Tây Nguyên là sự đổ vỡ của các làng và rừng thì bị tàn phá.Rừng tự nhiên đến nay đã không còn nữa. Một số bị thay thế bởi cây công nghiệp như cà phê, cao su. Người ta gọi những mảnh đất rộng trồng cao su là rừng cao su. Nhưng nói đến rừng là nói đến tính đa tầng, độ che phủ; là nói đến yếu tố giữ nước. Cao su, rễ cọc, không giữ nước được nên hiểu theo nghĩa tự nhiên, cao su không được gọi là rừng. Rừng tạp mất đi, độ che phủ không còn và rồi Tây Nguyên sẽ mọc lên những rừng gai thấp lúp xúp. Chúng ta sẽ để lại cho con cháu những rừng gai lúp xúp? Chúng ta có muốn như vậy không?

Để khôi phục rừng Tây Nguyên, chúng ta phải trồng lại rừng, tạo rừng đa tạp. Có người hỏi tôi mất bao lâu? Tôi cho rằng chúng ta phải thực hiện trong 100 năm. Gì mà nhiều vậy? Thử nghĩ xem, 41 năm qua, mình đã khai thác rừng cạn kiệt mà. Giờ phải kiên trì trồng lại, cắn răng mà làm và 100 năm là không nhiều. Nếu không có rừng thì không còn Tây Nguyên đâu. Chúng ta cần phải cứu Tây Nguyên. Đây là một tấm gương về nông nghiệp sinh thái, phụng dưỡng đất đai. Tôi bảo người Tây Nguyên là những nông dân Mansanobu Fukuoka. Họ làm nông nghiệp giống hệt như người cha đẻ của “Cuộc cách mạng một cọng rơm”, không hóa chất, không thuốc trừ sâu với phương pháp chọc tỉa. Người chồng đi trước, dùng cây gậy chọc xuống đất, người vợ theo sau, tỉa hạt rồi dùng chân lấp đất lại. Họ rất tin đất đủ sức mạnh nuôi cây trồng. Họ không làm lười đất bằng phân bón.

Trước đây, dân số Tây Nguyên không nhiều. Với đất nước, họ là dân tộc thiểu số nhưng trên mảnh đất Tây Nguyên, họ chính là đa số tuyệt đối. Mỗi gia đình có 10-20 rẫy. Mỗi rẫy họ trồng 3-4 năm, đất bạc màu thì chuyển qua rẫy khác. Lúc đầu chúng tôi gọi là luân canh, nhưng luân canh dễ gây hiểu nhầm rằng trồng cây này rồi chuyển sang cây khác. Do vậy, sau, chúng tôi gọi là luân khoảnh. Lưu ý, họ luân khoảnh chứ không du canh du cư như ta từng nghĩ. Trong tư duy người Tây Nguyên, đất chính là rừng và rừng chính là đất. Đất rẫy là khoảnh đất mà con người ở đây mượn của rừng, làm rẫy, rồi trả lại cho rừng. Rừng mạnh lắm, sẽ lấn lại ngay. Người Kinh thấy rừng là gỗ, còn người dân tộc thấy rừng là Mẹ, là cội nguồn sự sống, là tôn trọng, là phụng dưỡng. Đây cũng chính là bài học tôn trọng tự nhiên và sống khiêm nhường giữa trời đất.

Sau năm 1975, chúng ta thực hiện một cuộc đại di dân và dân số Tây Nguyên tăng gấp 5,5 lần. Đến nay người Kinh chiếm 80% dân số tại đây và người dân tộc, từ tuyệt đại đa số, trở thành thiểu số trên chính mảnh đất xưa nay họ sinh sống. Đi kèm với di dân là chính sách quốc hữu hóa đất đai. Người dân tộc mất đất, trước họ có 10-20 rẫy, nay còn một, làm một thời gian, bạc màu, đâu còn đất để luân khoảnh, họ bán rẻ lại cho người Kinh, thậm chí cho không qua một cuộc rượu. Người dân tộc mất đất, bị đẩy sâu vào rừng, rồi sinh ra phá rừng và bắt đầu du canh du cư. Cấu trúc làng xã bị phá vỡ. Rừng bị tàn phá.

Các tộc người Tây Nguyên thật ra rất văn minh. Với họ, loạn luân được xem là tội nặng nhất vì làm ô uế tinh thần của làng. Họ đặt tinh thần cao hơn vật chất trong đời sống của họ. Như vậy không văn minh sao? Họ có một nền văn minh rất đặc biệt mà người Kinh nên tôn trọng, học tập. Ngay từ năm 1937, hai anh em Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, qua tác phẩm Mọi Kontum đã viết: “Người Bahnar có những điều tốt hơn hơn chúng ta rất nhiều”.

Xin nói qua từ “mọi”. Lâu nay chúng ta hiểu sai từ “mọi” và càng sai khi dùng từ “mọi rợ” theo nghĩa khinh miệt để chỉ các tộc người Tây Nguyên. Thật ra, từ “mọi” vốn ban đầu không hề có ý nghĩa xấu. Nó bắt nguồn từ từ “tơmoi” trong tiếng Bahnar, có nghĩa là khách đến thăm nhà mình; hoặc khách mời từ một làng khác đến; hoặc kẻ thù hoặc người ngoại quốc theo từ điển Bahnar-Pháp của Guilleminet. Những người phương Tây đầu tiên lên Tây Nguyên là các linh mục Thiên chúa giáo. Họ đến được vùng người Bahnar ở Kon Tum, lập xứ đạo Kon Tum, là xứ đạo Thiên chúa giáo đầu tiên tại đây, đến nay vẫn là xứ đạo Thiên chúa lớn nhất và quan trọng nhất ở Tây Nguyên. Bấy giờ những người Bahanr Kon Tum đến gặp các nhà truyền giáo thường xưng là tơmoi, là khách. Các nhà truyền giáo lại hiểu rằng đấy là họ tự giới thiệu tên tộc người của họ. Về sau dần dần tiền tố “tơ” bị rớt đi, còn lại “moi”, và “moi” nghiễm nhiên trở thành tên gọi người bản địa. Người Pháp gọi là “moi”, người Việt gọi là “mọi”, hoàn toàn là một danh xưng.

Nói tiếp chuyện văn minh. Tôi lấy ví dụ về nghệ thuật. Trong nghệ thuật Tây Nguyên, tượng nhà mồ Tây Nguyên là những tác phẩm đẹp tuyệt vời. Họ làm rồi bỏ hoang và để mưa gió tàn phá. Tôi từng thấy một bức tượng gỗ tuyệt đẹp. Hỏi dò thì biết một thanh niên kia làm. Trong chờ bữa rượu, tôi hỏi chàng thanh niên đó xem ở nhà còn bức tượng tương tự nào không. Đột nhiên anh ta nổi giận: “Nói tầm bậy”. Và những thanh niên trong xung quanh cũng bày tỏ thái độ như vậy.

Sau, tôi được anh Núp, một người bạn của tôi ở Tây Nguyên giải thích rằng với họ, làm nghệ thuật không phải để ngắm hay để bán mà làm vì có cái gì đó thôi thúc trong lòng, cần làm để bày tỏ lòng ngưỡng mộ với thần linh. Họ thăng hoa trong quá trình làm ra tác phẩm chứ không phải lúc tác phẩm hoàn thành. Tôi chia sẻ điều này với một người bạn học nghệ thuật ở Frankfurt – Đức và cô rất ngạc nhiên bởi nó giống như quan điểm của nghệ thuật đương đại, tức nghệ thuật là con đường chứ không phải đích đến. Cô bạn lên Tây Nguyên khám phá rồi mời vị giáo sư của mình bên Đức sang. Vị giáo sư sang xong rồi lại dẫn cả lớp của ông ấy sang.

Sau năm 1975, giá như chúng ta dũng cảm giữ Tây Nguyên như một Bhutan thì thật tốt. Chúng ta sẽ có một tấm gương để học cách sống sao cho có hạnh phúc, sống thế nào để khiêm nhường với Trời Đất. Ngày xưa người nông dân không dám làm điều ác, họ sợ thất đức. Ngày nay, xã hội không còn khái niệm về thất đức nữa. Người nông dân, những người bình thường nhất, đã không còn sợ cái ác, không còn sợ làm điều ác. Và đây là điều đáng sợ nhất. Con người, ở giữa đất trời, sống vô thần và không biết đến trời đất thì nguy hiểm quá. Nay tôi đã 84 tuổi, tính tuổi ta thì 85. Những năm cuối đời, tôi sẽ viết để kể với mọi người về một nền văn minh ở Tây Nguyên, rằng chúng ta có một nền văn minh như thế. Tôi sẵn lòng đi chia sẻ để nói tất cả mọi điều về Tây Nguyên. Tôi mong khơi gợi trong các bạn lòng ham muốn hiểu về Tây Nguyên và tìm được người kế tục để sau cùng có thể cùng chung sức cứu được Tây Nguyên.

Nguồn : https://thenewviet.com/“gia-chung-ta-giu-duoc-tay-nguyen-nhu-bhutan”.html