“TRUYỀN THỐNG” LÀ TRUYỀN THỐNG NÀO?

Đặng Đình Mạnh

Lê Công Định

Lại sắp đến ngày 10/10 hàng năm, “ngày Truyền thống Luật sư”.  Khi vừa mới bước chân vào nghề, các luật sư thường được xã hội mặc nhiên thừa nhận rằng họ đã vinh dự khoác chiếc áo của một trong số ít nghề nghiệp danh giá, khả kính và đương nhiên có địa vị trong xã hội. 

Dĩ nhiên, chúng ta không ảo tưởng hoặc mơ hồ đến mức cho rằng sự danh giá ấy là thành quả được tạo dựng bởi đội ngũ luật sư hiện đang hành nghề trên đất nước này. Trên thực tế, cái nhìn hào phóng của xã hội có nguồn gốc từ ánh hào quang và thành quả hoạt động của giới luật sư phương Tây từ hàng chục thế kỷ qua, ít nhất từ thế kỷ thứ tư sau công nguyên, khi nghề luật sư còn chưa dành cho đại chúng, mà hầu như chỉ là lãnh địa nghề nghiệp riêng của giới quý tộc vốn dồi dào tài chính để theo đuổi những chương trình luật học khó khăn và đắt đỏ. 

Với giới luật sư thời xa xưa ấy, hành trang vào nghề luật sư không chỉ là kiến thức luật học, mà còn là những hành xử cao quý của các quý ông thuộc giới tinh hoa của xã hội phương Tây. Họ hành nghề không vì nhu cầu vật chất cơm, áo, gạo, tiền, v.v…, mà áp lực chính đối với họ là những giá trị tinh thần, là sự thật, là công lý, là công bằng xã hội. Vô hình chung, họ đã tạo dựng nên những giá trị truyền thống tốt đẹp, cùng lý tưởng và danh giá cho nghề luật sư. 

Hãy nhìn vào chiếc áo choàng rộng của họ tại pháp đình, trông uy nghiêm và lãng tử như chiếc áo choàng của các hiệp sĩ khi hành hiệp trượng nghĩa. Họ, các luật sư, thật sự chính là hiệp sĩ vì công lý. Cũng chiếc áo ấy, tua rủ màu đen từ vai trái thả đến trước ngực, nơi tọa lạc của trái tim ẩn mình dưới tấm da thỏ trắng phau, tượng trưng cho trách vụ người luật sư phải mang vác trên vai mình: hắc bạch phân minh.

Là một quốc gia Á Đông, Việt Nam chưa biết đến nghề luật sư cho đến cho đến khi văn minh phương Tây cùng với nghề luật du nhập vào Việt Nam theo bước chân viễn chinh của người Pháp. Đầu thế kỷ 20, khi chính phủ thuộc địa mở rộng phạm vi hành nghề luật sư cho người có quốc tịch Việt Nam tham gia, thì nhiều người Việt theo tân học đã sớm trở thành luật sư, như LS Phan Văn Trường. 

* Ảnh LS Phan Văn Trường (1876 – 1933), Luật sư Tòa Thượng Thẩm Paris, vị luật sư người Việt đầu tiên.

Và chỉ ít lâu sau, nhiều người trong số họ đã có thể trở thành những chính khách hàng đầu, nắm giữ những chức vụ quan trọng trong nhiều chính phủ đã từng được thành lập, kể từ thời cựu hoàng Bảo Đại cho đến năm 1975. Tiêu biểu nhất là LS Trịnh Đình Thảo, LS Phan Anh, LS Trần Văn Chương, LS Vũ Văn Hiền, LS Vũ Văn Mẫu, LS Nguyễn Văn Huyền, LS Trần Văn Tuyên, v.v… .

Các luật sư hành nghề trong suốt thời gian này đều là những hậu duệ kế thừa các giá trị tinh thần cao quý từ các luật sư Pháp quốc và phương Tây, họ luôn giữ gìn phẩm hạnh và lý tưởng nghề nghiệp, vốn tạo nên danh giá và sự khả kính của giới luật sư trong xã hội.

Đáng tiếc, các giá trị tinh thần cao quý vốn là truyền thống của nghề luật sư Việt Nam đã mai một dần qua hai lần chịu sự tác động của lịch sử. Lần đầu tại phần lãnh thổ phía Bắc vĩ tuyến 17 từ năm 1954 và lần hai trên toàn phần lãnh thổ đất nước từ năm 1975. Đó là sự tổn thất vô bờ!

Đến tận năm 1987, nghề luật sư mới được manh nha tái lập. Thực chất là xây dựng mới hoàn toàn, trên cơ sở tự phát một cách hồn nhiên như cây cỏ hữu sinh vô dưỡng thành ra hữu danh vô thực, mà hầu như không có sự uốn nắn nào theo khuôn khổ những giá trị truyền thống của nghề luật sư. Vì lẽ, thế hệ luật sư sở đắc những giá trị truyền thống tốt đẹp ấy đã không còn mấy người hoạt động, một số rất ít luật sư được chân truyền thì lại không có đủ tiếng nói trọng lượng hoặc lòng nhiệt thành để truyền bá lại cho đồng nghiệp. Cho nên, sự mai một các giá trị nghề nghiệp là điều không tránh khỏi và là cái giá phải trả quá đắt cho nghề nghiệp luật sư kể từ thời điểm “khai tử” nghề vào năm 1975.

Có bao giờ các luật sư tự hỏi “truyền thống” đang được nói đến là truyền thống nào? Truyền thống của lý tưởng và danh giá nghề nghiệp đã mai một, hay một thứ truyền thống không nguồn gốc và không liên quan đến nghề nghiệp mà các luật sư ngày nay đang cố tạo dựng? Trả lời câu hỏi ấy, các luật sư sẽ đo lường được niềm tự hào của mình trong “ngày Truyền thống Luật sư”.

* Ảnh LS Phan Văn Trường, Luật sư Tòa Thượng Thẩm Paris, vị luật sư người Việt đầu tiên.

THƯ CỦA PHẠM ĐOAN TRANG ĐỂ LẠI TRƯỚC KHI ĐI TÙ

Phạm Thanh Nghiên

NẾU TÔI CÓ ĐI TÙ…

Gửi các anh chị em, bạn bè thân yêu của tôi.

Không ai mong muốn phải ngồi tù, nhưng nếu nhà tù là chỗ tất yếu ai đấu tranh cho tự do cũng phải đến, và nếu vào tù là để thực hiện một mục đích nào đó ta đã định trước, thì ta nên đi tù.

Tôi có một số mục đích định trước như vậy. Thế nhưng đi tù chỉ là bước đầu để thực hiện các mục đích này, còn muốn hoàn thành thì rất, rất cần sự tiếp sức của các bạn.

Tôi trông cậy vào các bạn. Xin giúp tôi hoàn thành các mục đích sau, nếu tôi có phải vào tù. Trân trọng cảm ơn tất cả.

Nhà báo Phạm Đoan Trang

1. Vận động thông qua luật bầu cử mới, luật tổ chức quốc hội mới.

Mong các bạn làm mọi cách để gắn việc tôi đi tù (nếu có) với luật bầu cử mới, luật tổ chức quốc hội mới. Làm sao để công luận biết rằng tôi đã tham gia nghiên cứu và đưa ra luật mới về bầu cử và tổ chức quốc hội, và tôi bị bắt một phần là vì lý do đó.

Tôi muốn có một phong trào xã hội rộng lớn thúc đẩy việc thông qua hai luật này.

2. Quảng bá các cuốn sách của tôi viết:

Tôi mong rằng việc mình bị bắt, đi tù hoặc gặp bất kỳ điều gì khác, nhất là đi tù, sẽ là cơ hội để quảng bá các cuốn sách tôi viết, giúp sách được nhiều người đọc hơn, dưới bất kỳ hình thức gì dù là bản in hay bản điện tử hay sách nói.

Tôi viết nhiều sách nhưng đây là những cuốn tôi mong muốn phổ biến nhất:

a) Chính trị bình dân

b) Cẩm nang nuôi tù

c) Phản kháng phi bạo lực

d) Politics of a Police State (Tiếng Anh)

e) Chúng ta làm báo

f) Các ấn phẩm liên quan tới bầu cử.

3. Biến việc đi tù thành cơ hội để tận dụng

Nhà nước CHXHCN Việt Nam lâu nay luôn coi tù nhân lương tâm là một công cụ để mặc cả, trao đổi với nước ngoài. Khi trả tự do cho 1 TNLT và tống xuất người đó ra nước ngoài, nhà nước thu được rất nhiều cái lợi: ký được một hiệp định kinh tế nào đó, đánh bóng hình ảnh “tôn trọng nhân quyền”, vô hiệu hóa một biểu tượng đấu tranh vì tự dọ, và phớt lờ tất cả các cải cách thể chế.

Tôi rất không thích bị coi là một món hàng để nhà nước trao đổi. Thay vì thế tôi muốn rằng nếu mình có đi tù thì giới hoạt động dân chủ phải là một lực lượng đàm phán với nhà nước, trong đó tập trung nhấn mạnh vào việc đòi thông qua luật bầu cử mới và luật tổ chức quốc hội mới. Bản án càng dài, xin các bạn càng tận dụng nó vào việc đàm phán và gây sức ép lên chính quyền Việt Nam, buộc chính quyền phải thực hiện các yêu cầu của chúng ta.

Nói cách khác, tôi không muốn có một phong trào kêu gọi chính quyền Việt Nam “trả tự do cho Trang”. Tôi muốn một phong trào xã hội rộng lớn, thúc đẩy việc “trả tự do cho Trang và thông qua luật bầu cử mới”, “trả tự do cho Trang và bảo đảm bầu cử tự do, công bằng”,v.v…

* Tóm tắt mục (1), (2) và (3).

Nếu tôi bị bắt, tôi mong muốn các bạn làm truyền thông theo hướng vận động mỗi người, nếu ủng hộ tôi thì không cần làm gì nhiều, cũng không cần hô hào “tự do cho Trang”, mà chỉ cần truyền bá thông điệp sau:

 “Tôi ủng hộ luật bầu cử mới và tôi đọc sách của Đoan Trang”, hoặc “Tôi ủng hộ Đoan Trang nên tôi ủng hộ luật bầu cử mới và tôi đọc sách của Trang”, hoặc “Yêu cầu tổ chức bầu cử tự do và công băng ở Việt Nam”, hoặc “Ủng hộ ứng viên độc lập vào Quốc hội”.

Vài điểm xin các bạn lưu ý thêm:

1. Xin chăm sóc mẹ tôi giùm, đừng để mẹ tôi nghĩ là hai mẹ con đang đơn độc. Công an cũng đã đe dọa các anh trai và chị dâu tôi rất nhiều, xin bảo vệ họ.

2. Tôi sẽ không nhận tội, không xin khoan hồng, cho nên mọi điều công an nói hoặc làm mà có thể khiến dư luận tưởng như vậy thì đều là bịa đặt, lừa dối.

3. (Nhưng) tôi nhận hành vi: Tôi luôn khẳng định tôi là tác giả các cuốn “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”,  “Phản kháng phi bao lực”, cũng như tất cả các sách và báo cáo khác tôi từng viết và để tên thật. Tôi cũng khẳng định là tôi luôn muốn xóa bỏ chế độ độc tài ở Việt Nam.  Tôi muốn được mọi người nhắc đến như một người viết, luôn cố gắng để góp phần khai dân trí về các giá trị tự do, dân chủ và luôn đấu tranh để thay đổi xã hội.

4. Nếu có thể, xin vận động để tôi được nhận cây đàn guitar của tôi. Đối với tôi, đàn guitar quan trọng như Kinh Thánh đối với tín đồ Thiên Chúa Giáo.

5. Tôi không quan tâm đến số năm tù theo bản án, do đó tôi không cần luật sư bào chữa để giảm án- một điều hẳn nằm ngoài khả năng của các luật sư trong tình hình hiện nay ở Việt Nam. Thay vì thế, tôi mong các luật sư có thể làm một kênh truyển tải thông tin giữa tôi và mọi người bên ngoài.

6. Không ưu tiên tôi hơn các TNLT khác.

7. Nếu có vận động để trả tự do cho tôi, xin các bạn bắt đầu từ khoảng năm thứ 3 hoặc thứ 4 (tính từ thời điểm bị bắt), và xin hết sức lưu ý gắn mọi chiến dịch vận động với việc thực hiện các mục đích tôi đã nếu trên. Kịch bản lý tưởng là tôi được trả tự do mà vẫn ở Việt Nam (không bị tống xuất ra nước ngoài) và những mục đích tôi đề ra đều được hoàn thành.

Tôi không cần tự do cho riêng mình; nếu chỉ vậy thì quá dễ.

Tôi cần cái lớn hơn thế nhiều: Tự do, dân chủ cho cả Việt Nam.

Đó là một mục tiêu nghe có vẻ vĩ đại và xa vời, nhưng thật ra là khả thi, nếu có sự góp phần của tất cả các bạn.

Phạm Đoan Trang. (Ký tên)

FB: Phạm Thanh Nghiên

Đàn reo trước bão

LUẬT KHOA

Trịnh Hữu Long 25/02/2018

“Mệt mỏi quá em. Cứ thế này thì đến bao giờ. Hôm qua cắt điện. Hôm nay cắt net”.

Đó là tin nhắn sau cùng tôi nhận được từ Đoan Trang vào chiều mùng 9. Không đầy một tiếng sau tôi nhắn không thấy cô trả lời nữa, cho đến tận nửa đêm.

Gia đình cho biết cô đã bị hai người lạ mặt tới nhà bắt đi làm việc vì cuốn “Chính trị bình dân” mà cô là tác giả.

Khai phá những vùng cấm

Đoan Trang từng được coi là một trong những phóng viên xuất sắc của làng báo “lề phải”.

Mặc dù khởi nghiệp viết lách ở VnExpress năm 2001 nhưng tên tuổi của Đoan Trang lại gắn liền với VietNamNet và những phóng sự, bình luận gây bão đăng trên tờ Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Vào thời kỳ năm 2007-2008, loạt bài về Hoàng Sa – Trường Sa của Đoan Trang trên VietNamNet đã mang lại cho cô cả vinh quang lẫn tủi nhục. Đó có lẽ là lần đầu tiên, kể từ khi bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc đầu những năm 1990, vấn đề Biển Đông được phân tích trên báo chính thống một cách trực diện và giàu hàm lượng nghiên cứu đến thế. Cần nhớ rằng, vào thời điểm đó, Biển Đông là vùng cấm nhạy cảm bậc nhất ở nước ta mà không tờ báo chính thống nào dám nhắc tới.

Sự nghiệp cầm bút của Đoan Trang là hành trình khai khẩn những vùng đất hoang. Trước khi nổi tiếng với các bài chính luận đặc sắc trên VietNamNet, Đoan Trang đã cùng với Hoàng Nguyên chấp bút cuốn “Bóng”, tự truyện đầu tiên của một người đồng tính Việt Nam, vào năm 2008. Nhưng Biển Đông lại là vấn đề rất khác. Chạm đến vùng cấm này tức là đã đặt một chân vào sau chắn song sắt.

Sự thật là Đoan Trang đã đặt cả hai chân vào tù. Cô bị bắt và giam giữ trong chín ngày liền trong đồn công an cuối tháng 8, đầu tháng 9 năm 2009. Cuộc bắt bớ đó liên quan đến hai người bị bắt cùng thời điểm là blogger Bùi Thanh Hiếu (Người Buôn Gió) và blogger Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm).

“Cho đến nay, mình vẫn hoàn toàn không hiểu mình bị bắt vì chuyện gì”, cô chia sẻ.

Sau khi bị giam chín ngày trong trại tạm giam B14, Hà Nội, Đoan Trang mất việc ở VietNamNet. Chín ngày đó đủ để biến cô từ một phóng viên được trọng vọng thành một “đối tượng” xâm phạm “an ninh quốc gia” và đứng trước nguy cơ thất nghiệp vô thời hạn. Nhưng không lâu sau đó, cô về đầu quân cho văn phòng Hà Nội của tờ Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh theo lời mời và sự bảo đảm chắc nịch của Tổng biên tập Nam Đồng.

Nếu công an tính dằn mặt Đoan Trang thì họ đã lầm. Biến cố đó đẩy Đoan Trang đi xa hơn. Cô dấn thân vào hoạt động dân chủ và tiếp tục viết những gì các phóng viên “lề phải” khác chưa viết.

Blog phamdoantrang.com của cô dần dần bàn về những vấn đề chính trị nhạy cảm nhất như thể chế một đảng, chế độ công an trị, các cuộc biểu tình và các cuộc đàn áp, bắt bớ các nhà hoạt động. Cô xuất hiện trong các cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2011, 2012, hay phong trào biểu tình bảo vệ cây xanh ở Hà Nội năm 2015. Gương mặt cô trở thành tâm điểm của những phái đoàn vận động quốc tế ở Mỹ hay châu Âu.

Cô đặt chân vào tất cả những cánh rừng thiêng nước độc, những vùng cấm tối kỵ mà lực lượng an ninh của đảng Cộng sản Việt Nam luôn canh phòng cẩn mật.

Dĩ nhiên, thanh gươm của chế độ không dung tha cho những kẻ “nghịch dại” như vậy bao giờ.

Mèo vờn chuột

2 giờ 39 phút sáng một ngày giữa năm 2016, Đoan Trang bật dậy vì tiếng chuông cửa.

Cô đang ở nhờ nhà một người bạn trong hành trình chạy trốn một cuộc truy lùng của công an. Căn hộ chung cư này có bảo vệ canh gác 24/24, không người lạ nào có thể vào được chứ chưa nói là lên tận các tầng trên để bấm chuông.

“Đó chính xác là tiếng chuông gọi hồn”, Đoan Trang nhớ lại.

“Mình nghe rõ ngoài cửa có tiếng nói chuyện của một nhóm người. Không lý do gì khác có thể giải thích được sự xuất hiện của họ vào giờ đó, ngoài việc họ đã lần ra được dấu vết của mình”.

Không thấy có ai động tĩnh trong nhà, toán người lạ mặt rời đi. Đoan Trang thoát được lần đó.

Đi “dạt vòm” như vậy không phải là việc xa lạ với Đoan Trang. Trước mỗi cuộc biểu tình hay mỗi cuộc gặp với các quan chức nước ngoài, người phụ nữ bé nhỏ này đều phải lánh tới một địa điểm bí mật nào đó muộn nhất là vào đêm hôm trước để tránh bị an ninh giam lỏng ở nhà. Công an luôn tìm cách ngăn cản cô xuất hiện trong những sự kiện như vậy.

Khi thì cô tới ở nhờ nhà bạn bè, khi thì tới khách sạn, lại có khi phải trú ở một công trường xây dựng, vốn là nơi tập kết của nhiều số phận vật vờ bên lề xã hội. Nhưng chẳng phải khi nào cô cũng trốn được.

Không lâu sau khi từ Mỹ về nước vào tháng Một năm 2015, Đoan Trang bị bắt cóc ngay gần Hồ Gươm. Cô đang trên đường tới Trung tâm Văn hoá Pháp (L’ Espace) để phiên dịch cho cuộc gặp giữa gia đình của hai tử tù Hồ Duy Hải và Nguyễn Văn Chưởng với đại diện của Đại sứ quán New Zealand. Xe công an dừng sát bên đường và lôi cô lên xe, đưa về đồn công an gần nhất. Họ thả cô ra sau khi đã phá thành công cuộc gặp đó.

Những vụ bắt cóc tương tự xảy ra hết lần này đến lần khác, với tần suất hai hoặc ba tháng một lần.

“Mỗi lần như vậy anh em bạn bè lại nhảy bổ đi tìm khiến mình rất ái ngại. Mà bị bắt cóc thường xuyên như vậy, nếu tinh thần không vững thì con người ta dễ hoang tưởng, nhìn đâu cũng thấy an ninh”, Đoan Trang chia sẻ.

Nhưng như vậy cũng chưa đủ gay cấn.

Ngày 24/5/2016, một cuộc gặp gỡ giữa Tổng thống Mỹ khi đó là Barack Obama với một số đại diện của giới xã hội dân sự Việt Nam dự kiến sẽ diễn ra vào buổi sáng tại Hà Nội. Đoan Trang được mời tham dự cuộc gặp đó khi đang dưỡng bệnh ở Sài Gòn sau một ca phẫu thuật đầu gối.

Biết chắc an ninh sẽ theo dõi và ngăn cản cô tham dự cuộc họp, một chuyến xe bí mật do hai người bạn lái được bố trí để đưa cô ra Hà Nội.

Hành trình rất suôn sẻ. Họ về tới được Ninh Bình chiều muộn ngày 23, tức là trước cuộc gặp một ngày. Tìm được một nhà nghỉ rất kín đáo và cực kỳ khó phát hiện, họ yên tâm có thể qua đêm an toàn.

Nhưng lực lượng an ninh nhạy hơn họ nghĩ. Sáng sớm hôm sau, Đoan Trang thấy dưới sảnh đầy người với ánh mắt dò xét. Một nữ sĩ quan an ninh được một số người khác hộ tống mang những thiết bị lạ xông vào phòng với thái độ rất hả hê.

“Tôi cảm thấy mình như một con thú bị săn đuổi”, Đoan Trang nhớ lại.

Họ không đi hết được hành trình và bị giam lỏng ở Ninh Bình cho đến hết ngày.

“Trong văn học có tiểu thuyết ‘Cây thập tự thứ bảy’, nói về nỗi cô độc của người dân Đức trong hành trình trốn chạy phát-xít. Giờ thì mình đã hiểu được cảm giác của họ. Đôi khi đi giữa một thành phố lớn người xe tấp nập nhưng chẳng có lấy một chốn nương thân nào. Chẳng có nhà nghỉ hay khách sạn nào an toàn cả”.

“Họ không coi mình là người. Đối với họ, tất thảy chúng ta đều chỉ là những dự án dùng để chia chác bầu sữa ngân sách mà thôi. Vì thế nên đừng mong đối thoại được với an ninh. Chúng ta chỉ có thể đối thoại được với những người tôn trọng mình mà thôi”.

Điều này nghe có vẻ tiêu cực với nhiều người, nhưng đó là những gì mà một người bị ép “đối thoại” với an ninh hàng trăm lần nhận ra.

Thính giả giấu mặt

“Xưa em hay hát bài gì mà có ‘Let me go home’ ấy nhỉ? Nghe buồn chết đi. ”

Tôi nhận được tin nhắn như vậy từ Đoan Trang vào một buổi chiều khi cô đang lang bạt khắp nơi để tránh một cuộc truy lùng của công an.

“I wanna go home”, cô nhắn tiếp, mượn lời bài hát Home nổi tiếng của Michael Buble.

Rất thích chăm sóc nhà cửa, Đoan Trang nói cô “nhớ lọ hoa, nhớ cái bàn, nhớ bức tranh, và đặc biệt không thể xa cây đàn”.

Công chúng ít biết về đam mê chơi đàn guitar của Đoan Trang. Từng nhiều lần, Đoan Trang tâm sự với tôi rằng cô chẳng đam mê chính trị hay đấu tranh dân chủ như hầu hết mọi người vẫn nghĩ. Thứ cô không thể sống thiếu được lại chính là cây đàn guitar.

“Mình rất yêu cây đàn, xa nó thì nhớ da diết, về đến nhà mình ôm nó vào lòng, mình hôn nó và âu yếm nó bằng những ngón tay của mình”, cô nói.

Nếu có duyên, bạn có thể được nghe Đoan Trang đàn bản Cây sáo thần của Mozart, hay những bài đệm hát như If của Bread, I kiss your memories của Bee Gees, hay Love me with all your heart.

Đang mày mò học soạn nhạc, những ngày phải đi “dạt vòm” là những ngày khổ sở với Đoan Trang. Cuộc sống không cho cô chơi đàn trong những hoàn cảnh bình thường như bao người khác. Cô chơi đàn như thể ngày mai không còn được chơi đàn nữa. Người ta có nhiều lý do để sợ đi tù, riêng Đoan Trang thì sợ vào tù không có đàn. Ít khi nào trại giam để cho tù nhân chơi đàn, có chơi thì cũng phải bị giám sát chặt chẽ. Dây đàn là thứ mà tù nhân có thể dùng để làm nhiều thứ, kể cả… tự sát.

Điều Đoan Trang chưa bao giờ biết chắc được là nhà mình có “bọ” hay không. Nhiều người khẳng định chắc nịch rằng thành phần “phản động có số má” như cô thì không thể không bị nghe trộm được. Ở các nước Liên Xô và Đông Âu, sau khi các chế độ cộng sản sụp đổ, nhiều người mới biết được trong nhà mình có “bọ”.

Đoan Trang luôn có cảm giác dù chơi đàn một mình nhưng vẫn có người nghe.

“Chẳng bao giờ mình nghĩ sẽ chơi đàn trong hoàn cảnh này. Ở ‘đầu dây’ bên kia, nếu có nghe thì không hiểu ‘họ’ nghĩ gì. Có khi ‘họ’ nghĩ mình là con điên”, Đoan Trang nửa đùa nửa thật.

Viết cho giới bình dân

Ngày 9/2 vừa rồi, tờ Tin Tức của Thông Tấn Xã Việt Nam chạy một bản tin khá bất thường: “Hải quan Đà Nẵng tịch thu hàng loạt sách có nội dung nhạy cảm chính trị”.

Trong bốn bưu kiện sách “có nội dung nhạy cảm chính trị” này, có hai bưu kiện là cuốn “Chính trị bình dân” mà Đoan Trang là tác giả.

“Chính trị bình dân”, một cuốn sách tiếng Việt, phần lớn nói về Việt Nam, và viết cho người Việt Nam, nhẽ tự nhiên là phải xuất bản trong nước chứ không cần phải đặt hàng từ nước ngoài về. Hơn hai mươi năm trước, tôi lục trong chồng sách cũ của bố mẹ tôi cuốn giáo trình “Chính trị sơ cấp” do nhà nước phát hành và đọc một mạch cho đến hết cuốn sách đã ố vàng theo thời gian ấy. Những câu chữ giản đơn, mạch lạc của nó khiến cho một đứa trẻ lớp 6 là tôi khi đó cũng hiểu được và say mê với chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Nhưng nhà nước ra sách chính trị không có nghĩa là người dân cũng được làm. Nhiều năm sau đó, tôi lại được đọc một cuốn sách chính trị khác mà câu được trích dẫn nhiều nhất của nó có lẽ là “mọi con vật đều bình đẳng, nhưng có những con vật bình đẳng hơn những con vật khác”.

Cuốn tiểu thuyết “Trại súc vật” trứ danh đó của George Orwell, không biết vì lý do gì, đã lách được qua cửa kiểm duyệt để ra mắt bạn đọc với cái tên “Chuyện ở nông trại”. Nhưng rồi nó cũng nhanh chóng bị thu hồi và bị liệt vào danh sách cấm.

Cuốn “Chính trị bình dân” của Đoan Trang thì không “may mắn” được như thế. Cô không có cách nào xuất bản được nó ở trong nước mà phải dựa vào một “thế lực nước ngoài” là gã khổng lồ công nghệ Amazon.

Đoan Trang là một kiểu nhà báo luôn đau đáu với những người… chưa biết gì. Trái ngược với những tiếng thở dài ngao ngán của nhiều người về trình độ dân trí của nước nhà, Đoan Trang luôn tìm đến với những người dân còn xa lạ với những khái niệm căn bản về chính trị và pháp luật.

“Mình còn nhớ rất rõ hồi 2009, khi bị bắt, mình hoàn toàn ngây thơ và không biết một chút gì về luật, cũng chẳng biết phải ứng xử ra sao với công an. Đến hồi biểu tình chống Trung Quốc năm 2011 cả bọn cũng chẳng biết hơn gì nhiều, toàn bị công an bắt nạt”, Đoan Trang kể.

“Mãi đến năm 2013 mình mới thực sự bắt đầu tìm hiểu về chính trị, pháp luật, dân chủ, nhân quyền, v.v. Bởi vậy nên khi viết, mình luôn thấy như mình đang viết cho cái cô Đoan Trang trước năm 2013”.

Ý tưởng viết cho giới bình dân nảy sinh khi cô đọc lời bạt của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành trong cuốn sách dịch “Thám tử kinh tế” của Tim Harford, rằng cần có những sứ giả truyền đạt những kiến thức hàn lâm khó hiểu cho công chúng.

Làm báo gần hai mươi năm, Đoan Trang cho rằng, “báo chí, truyền thông Việt Nam không làm được việc đó. Đừng nói dân trí thấp, người dân không chịu đọc. Đó là do chúng ta không chịu khai phá, mở mang cho người đọc”.

“Mình viết sách chẳng mong nó thành tác phẩm để đời hay sống mãi gì cả. Sống mấy năm thôi cũng được, miễn là nó giúp thoát mù về chính trị cho độc giả và hy vọng có nhiều cuốn sách chính trị hay hơn. Ta phải viết cho người dân bớt sợ”.

Nói là làm, cô viết “Chính trị bình dân”, “Phản kháng phi bạo lực”, và đang chấp bút viết thêm nhiều cuốn nữa.

Khi cuốn “Chính trị bình dân” được xuất bản, một số độc giả có ý trách Đoan Trang vội vã quá mà để sót một số lỗi không đáng có.

“Vội vã”.

Đoan Trang luôn vội vã. Luôn giục giã. Luôn thúc vào mông người khác bắt họ phải khẩn trương lên.

Cô không chờ được. Vì có một thứ cô không biết sẽ ập đến lúc nào: sắc phục xanh và chiếc còng số 8.

“Chúng ta không thể bỏ cuộc”

Ít ai biết rằng, Đoan Trang từng có cơ hội xin tị nạn và ở lại Mỹ sau khi kết thúc học bổng chín tháng ở Đại học Southern California hồi năm 2014. Có ít nhất ba cơ quan, tổ chức đề nghị hỗ trợ cô làm thủ tục vì lo ngại cho sự an toàn của cô nếu trở về Việt Nam.

Nhưng Đoan Trang chưa bao giờ có ý định ở lại nước ngoài.

“Nhiều người nhìn vào cuộc sống của chị thì chỉ thấy một kẻ đi làm những việc chẳng giống ai và rước vào thân toàn là bất hạnh. Chị có thấy bất hạnh không?”, tôi hỏi Đoan Trang.

40 tuổi, không chồng, không con, sống nay đây mai đó và tài sản lớn nhất lại là một tương lai bất định, không mấy ai hiểu rằng cô hạnh phúc chứ không bất hạnh như họ tưởng.

“Nhiều người coi trọng sự ổn định, họ muốn lập gia đình, sinh con, sống cuộc đời yên ả, không có gì sai hay đúng ở đây cả vì đó là cuộc sống của họ. Nhưng với riêng mình, nếu không hoạt động thì sẽ không thể nào được trải nghiệm sự yêu mến mà mọi người dành cho mình”, Đoan Trang nói.

Quả vậy. Thỉnh thoảng tôi lại được Đoan Trang kể về những trải nghiệm đó một cách vừa hàm ơn, vừa hãnh diện. Khi thì một ông chủ khách sạn khuyên Trang nên rời đi ngay vì có công an đến hỏi, và còn chỉ đường cho cô đi. Khi phải mổ chân thì có nhiều người giúp đỡ, trong đó có nhiều người cô chưa gặp bao giờ.

“Có khi họ vào bệnh viện thăm, dúi cho chút tiền rồi vừa khóc vừa bỏ chạy. Hoặc có những bạn bè cũ bao nhiêu năm không liên lạc gì bỗng xuất hiện giúp cái nọ cái kia”, Đoan Trang kể.

“Bạn đi đường có người nhận ra bạn. Đặc biệt vui khi có những bạn trẻ nhận ra và nói đã đọc những gì mình viết. Vào tiệm ăn ở Sài Gòn thì anh chủ quán cứ nhìn mình cười cười, lại gần hỏi có phải Đoan Trang không. Biết rồi thì anh đích thân phục vụ cho mình, ăn xong tính tiền giá rẻ lại còn dúi quà cho mình”.

Đoan Trang nói, “đó là tài sản quý giá vô cùng. Đánh đổi cái gì mới được những tình cảm đó? Chúng ta không thể bỏ cuộc được vì còn có những người như vậy”.

Một trong những bài hát Đoan Trang yêu thích nhất là bài “Fernando” của ABBA, ban nhạc gắn liền với thế hệ 7X của cô. Lời bài hát là những hoài niệm của hai người bạn già đã cùng nhau chiến đấu cho tự do ở Mexico đầu thế kỷ XX.

Bài hát kết thúc bằng một câu điệp khúc đầy cảm hứng:

…If I had to do the same again
I would, my friend, Fernando…

(…Nếu phải làm lại
Tôi vẫn sẽ làm, Fernando bạn ơi…)

Có thể lúc này, ở một “đầu dây” nào đó trong trụ sở Bộ Công an, có một viên sĩ quan nào đó đang nghe tiếng đàn guitar réo rắt điệp khúc “Fernando”, tựa như chẳng cần biết đêm nay bão có về…

…If I had to do the same again
I would, my friend…

Nguồn : https://www.luatkhoa.org/2018/02/dan-reo-truoc-bao/

Ruth Bader Ginsburg, người nhỏ bé vĩ đại (Phần 2)

TIẾNG DÂN

Đinh Từ Thức

5-10-2020

Tiếp theo Phần 1

Chủ Tịch TCPV William Rehnquist, tay mặt, chủ trì lễ tuyên thệ nhậm chức của RBG, ngày 10/8/1993. Nguồn: Kort Duce/ AFP/ Getty Images

Từ luật sư thành thẩm phán

Trước tin RBG qua đời, cựu Tổng thống Jimmy Carter đã mô tả bà là “ánh sáng dẫn đường của công lý” (a beacon of justice) và thật sự là một phụ nữ vĩ đại (a truly great woman). Chính ông là người đã đưa cuộc đời bà tới khúc quanh quan trọng. Những thành công của bà trong thập niên 1970, thắng 5 trong 6 vụ cãi trước TCPV với danh tiếng lẫy lừng, khiến ông đề cử bà vào chức thẩm phán tòa phúc thẩm liên bang (US Court of Appeals for the District of Columbia Circuit) vào năm 1980. Từ địa vị đứng tranh cãi trước toà, bà đã trở thành người ngồi xử án.

Trong gần 13 năm tại toà phúc thẩm Washington DC, với môi trường hoạt động trái ngược hẳn với thời gian hai thập niên khởi nghiệp luật sư, bà không tranh đấu qua những vụ án điển hình như trước. Bà đã dùng thời gian để học hỏi, thu góp kinh nghiệm, hơn là tạo tiếng vang qua các vụ án tiêu biểu. Thời gian này, khuynh hướng quyết định của bà qua các phán quyết phúc thẩm gần với bảo thủ hơn cấp tiến.

Suốt 26 năm, kể từ năm 1967, khi Tổng thống Johnson đề cử Thurgood Marshall, một luật sư nổi tiếng trước khi làm thẩm phán toà phúc thẩm liên bang, phía Dân Chủ không có cơ hội cử người nào vào TCPV. Thurgood Marshall là thẩm phán Tối cao da đen đầu tiên, cũng là một nhà vô địch nhân quyền lọt được vào toà án cao nhất này. Sau hơn hai tháng tìm người, ngày 15/6/1993, tân Tổng thống Bill Clinton loan báo quyết định chọn Thẩm phán Ruth Ginsburg. Bà được Thượng viện chuẩn thuận ngày 3 tháng 8.

RBG không ở đầu danh sách, mà là lựa chọn cuối của Clinton. Sau vài lần thất bại trong việc chọn người vào tân chính phủ, Clinton đã rất đắn đo trong việc đề cử người vào TCPV. Sau cùng, nhờ hậu thuẫn của hai nghị sĩ, một Dân Chủ, một Cộng Hoà, ông đã quyết định đề cử RBG. Đó là Nghị Sĩ Daniel Patrick Moynihan (Dân Chủ, New York), do công vận động của Marty Ginsburg, chồng bà, và Nghị Sĩ Orrin Hatch (Cộng Hoà, Utah); một nghị sĩ cực hữu đã giúp đưa Thẩm phán Clarence Thomas vào TCPV hai năm trước, thế chỗ Thurgood Marshall. Bà Ginsburg đã được chấp thuận với tỉ lệ 96-3, gần như tuyệt đối, vì được sự ủng hộ của cả hai đảng.

Được ủng hộ từ cả hai đảng, vì lập trường của bà trung dung. Ví dụ tiêu biểu là vấn đề phá thai, bà cho rằng quyền định đoạt về cơ thể của mình là một quyền của phụ nữ, thuộc phạm vi quyền bình đẳng (equal protection), nhưng TCPV, qua phán quyết 1973 (Roe v. Wade), cho phá thai dựa vào lý do quyền riêng tư (matter of privacy) của mỗi người, là không đúng, khiến các tiểu bang bảo thủ cực lực chống lại, gây tình trạng chia rẽ. Bà đã từ chối yêu cầu của ACLU cãi trong vụ án liên hệ tới bênh vực Roe v. Wade.

Thái độ không tích cực ủng hộ phá thai này khiến giới tranh đấu nữ quyền lo ngại, không hiểu Ruth Ginsburg coi quyền lựa chọn (right to choose) là một quyền căn bản, hay một quyền ít quan trọng hơn (a fundamental right or a lesser right). Vì thế, theo Jill Lepore, khi được đề nghị chọn Ruth Ginsburg, Clinton đã lo ngại: “Phụ nữ chống lại bà” (The women are against her). Nhưng sau khi gặp và nói chuyện với bà một tiếng rưỡi tại Bạch Ốc ngày 13 tháng 6, Clinton đã chính thức loan báo quyết định chọn bà ngày 15 tháng 6. Bill Clinton nói: “Không thể gọi Ruth Bader Ginburg là cấp tiến hay bảo thủ; bà đã tự chứng tỏ là người quá sâu sắc cho các nhãn hiệu đó”. (“Ruth Bader Ginsburg cannot be called a liberal or a conservative; she had proved herself too thoughtful for such labels”.)

Trong cuộc điều trần để được chuẩn thuận, đáp câu hỏi của Nghị Sĩ Joe Biden, bây giờ là ứng cử viên tổng thống, lúc ấy là Chủ tịch Uỷ ban Tư pháp Thượng viện, về lập trường của bà, Ruth Ginsburg trả lời: “Cách tiếp cận của tôi, tôi tin là, không cấp tiến cũng chẳng bảo thủ”. (“My approach, I believe, is neither liberal nor conservative”.)

Cũng trong cuộc điều trần này, khi được hỏi về vấn đề phá thai, bà trả lời: “Đây là trọng tâm về cuộc đời của một phụ nữ, về nhân phẩm của nàng. Đó là quyết định nàng phải tự mình định đoạt. Và khi chính quyền kiểm soát quyết định đó cho nàng, nàng bị đối xử dưới mức một người trưởng thành có trách nhiệm về lựa chọn của chính mình”. (“This is something central to a woman’s life, to her dignity. It’s a decision that she must make for herself. And when Government controls that decision for her, she’s being treated as less than a fully adult human responsible for her own choices”.)

Nhưng về sau này, RBG đã dần trở thành ngôi sao của phía cấp tiến, qua những ý kiến sắc bén, đi trước thời đại, kể cả khi ở bên đa số, và nhiều hơn, trong các phản biện khi ở bên thiểu số. Có thể nói, nếu Thurgood Marshall là nhà vô địch nhân quyền về phía sắc tộc, Ruth Ginsburg là nhà vô địch nhân quyền về bình đẳng giới tính.

27 năm sau, trước tin RBG từ trần, cựu Tổng thống Clinton tuyên bố, bà đã “vượt quá những kỳ vọng cao nhất của tôi khi chọn bà”. (exceeded even my highest expectations when I appointed her.)

Những thành tích cụ thể

Vẫn trong tuyên bố trên, Clinton đã kể ra một số thành tích của Ginsburg: “Những quan điểm nổi bật của bà đã thăng tiến bình đẳng phái tính, bình đẳng hôn nhân, quyền cho người khuyết tật, quyền cho người nhập cư, và rất nhiều thứ khác đã đưa chúng ta tới gần một cộng đồng hoàn hảo hơn”.

Trong phần mở đầu một bài trên New Yorker vào 18 tháng 9, ngày RBG từ trần, giáo sư sử học Jill Lepore viết: “Ginsburg đã là nhân chứng, biện luận cho, và giúp cho cuộc cách mạng hiến-pháp-hoá cái quyền khó tranh đấu nhất và ít được biết đến nhất trong lịch sử hiện đại Mỹ: là quyền giải phóng phụ nữ”.

Đúng vậy, thành tích trong di sản của Ginsburg khá nhiều, nó bàng bạc trong nhiều lãnh vực, nhiều người được hưởng hàng ngày, mà cứ coi như chuyện tự nhiên, không cần biết nó đến từ đâu, và từ bao giờ.

Sara M. Moniuszko, Maria Puente và Veronica Bravo, đã liệt kê trên USA TODAY, tám thành tích cụ thể của RBG:

1– Trước Ginsburg, trường nhận trợ cấp từ công quỹ tiểu bang không bắt buộc nhận phái nữ.

Qua phán quyết đại diện đa số (7-1) trong vụ án nổi tiếng chống Học viện Quân sự Virginia (Virginia Military Institute – VMI) năm 1996, Ginsburg viết: “Không có lý do để tin rằng việc nhận những phụ nữ đủ khả năng về mọi điều kiện cho khoá sinh của VMI lại phá hoại học viện này, thay vì tăng cường khả năng phục vụ của học viện cho một quốc gia hoàn hảo hơn”. (“There is no reason to believe that the admission of women capable of all the activities required of [Virginia Military Institute] cadets would destroy the institute rather than enhance its capacity to serve the ‘more perfect union.’”)

2– Trước Ginsburg, phụ nữ không thể ký giấy vay tiền hay mở tài khoản tại ngân hàng, nếu không có phái nam cùng ký.

Ginsburg đã mở đường cho việc thông qua luật Equal Credit Opportunity Act năm 1974, cho phép phụ nữ xin thẻ tín dụng (credit cards) và vay tiền không cần phái nam cùng ký tên. Phụ nữ Việt sang Mỹ sau năm 1975, có thể tưởng tượng, nếu chỉ ở Mỹ trước đó vài năm, họ đã không thể tự mình ký giấy mượn tiền mua xe, mua nhà, hay xin credit card để đi shopping, cuộc đời dễ chán ra sao.

3– Ginsburg giúp phái nữ được bình đẳng với phái nam về lương bổng.

Qua phản biện nổi tiếng trong vụ kiện năm 2007, Ledbetter v. Goodyear Tire & Rubber Co. Vụ này, với tỉ lệ 5 trên 4, TCPV đã giữ nguyên bản án phúc thẩm của tòa dưới, với nội dung lật ngược phán quyết của tòa sơ thẩm đã cho nguyên đơn thắng trong vụ kiện chủ nhân kỳ thị giới tính đối với nhân viên, khi một quản lý (manager) phái nữ của hãng chế tạo vỏ xe Goodyear bị trả lương thấp hơn so với phái nam tương đương nhiệm vụ. Lý do tòa phúc thẩm lật ngược bản án sơ thẩm, và được TCPV giữ nguyên, là nguyên đơn đã để mất thời hiệu, nộp đơn kiện quá lâu sau khi xảy ra sự việc.

Tuy ở phía thiểu số, Ginsburg đã phản biện rất mạnh rằng, việc trả lương không bằng nhau giữa nam nữ, thường trong vòng kín đáo, người bị thiệt không thể biết ngay mình bị thiệt để khiếu nại. Do đấy, bà kêu gọi công luận và Quốc Hội cần có hành động để tăng thêm bảo vệ cho quân bình lương bổng. Chỉ hai năm sau, Quốc Hội đã thông qua đạo luật Lilly Ledbetter Fair Pay Act, được Tổng thống Obama ký ban hành năm 2009.

4– Ginsburg giúp duy trì quyền chọn lựa của phụ nữ.

Mặc dù hoài nghi về quyết định của TCPV khi cho phép phá thai qua vụ Roe v. Wade, Ginsburg tin rằng đây là một quyền lựa chọn của phụ nữ, và vẫn cố duy trì nó. Nếu không, nó đã bị phủ nhận.

5– Ginsburg đẩy mạnh việc bảo vệ phụ nữ mang thai.

Nửa thế kỷ trước, phụ nữ thường bị mất việc nếu mang thai. Chính Ginsburg từng là nạn nhân. Vào năm 1972, Ginsburg đã tranh cãi việc sa thải một phụ nữ mang thai ra khỏi Không Quân – như trong vụ án Struck v. Secretary of Defense mà Đại úy y tá Không quân Susan Struck kiện Bộ trưởng Quốc phòng – là kỳ thị giới tính (sex discrimination). Không quân đã bỏ chính sách này năm 1972, và vụ kiện chấm dứt trước khi xử.

6– Phụ nữ không nên bị loại khỏi vai trò phụ thẩm.

Cho đến năm 1979, nhiệm vụ bồi thẩm (jury duty) vẫn được coi là một quyền tùy nghi lựa chọn của phụ nữ tại Mỹ. Nhiều tiểu bang cho rằng, trọng tâm công việc của phụ nữ là trong phạm vi gia đình, nên có thể miễn trừ nhiệm vụ bồi thẩm. Ginsburg đòi cho phụ nữ quyền làm bồi thẩm giống như nam giới. Theo bà: “Phụ nữ thuộc về bất cứ nơi nào xảy ra những quyết định quan trọng. Họ không phải là phần tử ngoại lệ”.

7– Ginsburg là lá phiếu quan trọng cho phép hôn nhân đồng tính.

Năm 2015, qua vụ án Obergefell v. Hodges, TCPV, với đa số 5-4, đã cho cộng đồng LGBTQ trên khắp 50 tiểu bang, được kết hôn giữa những người đồng tính. Một trong 5 phiếu đa số này là của Ginsburg. Không có phiếu của bà, kết quả có thể đã khác.

8- Ginsburg đem lại tin tưởng cho phái nữ.

Một phụ nữ tiên phong trong lãnh vực dùng môi trường luật pháp để vận động bình đẳng nam nữ, với những thành tựu to lớn trong nửa thế kỷ, đã đem lại phấn khởi và tự tin cho nữ giới, nhất là những nhà lãnh đạo phái nữ muốn đi theo con đường của bà. Sự phấn khởi cụ thể không chỉ xuất hiện khi bà qua đời, mà có thể nhận thấy, ngay từ khi bà còn sống, trong các lãnh vực từ sách báo, phim ảnh, trang phục, bà đã trở thành một thần tượng văn hóa (pop culture icon), với hình ảnh và tên bà trên các sản phẩm trang sức của phụ nữ, hay y phục Halloween …

Hoa tưởng niệm Ruth Ginsburg bên ngoài TCPV vào ngày 19/9/2020, một ngày sau khi bà qua đời. Nguồn: Samuel Corum/ Getty Images

Nhà phản biện vĩ đại

Ruth Ginsburg được gọi là “nhà phản biện vĩ đại”, The great dissenter, vì không những bà nổi tiếng qua các phán quyết khi ở phía đa số, mà nổi tiếng nhiều hơn qua các phản biện ở phía thiểu số. Vẫn trong tuyên bố sau khi bà từ trần, Bill Clinton nói rằng: “Những phản biện mạnh mẽ của bà, nhất là tiếng nói bảo vệ quyền bầu cử và những bảo đảm khác về bình đẳng, đã nhắc nhở chúng ta rằng, chúng ta đã rời khỏi hứa hẹn trong Hiến Pháp với thiệt hại cho chúng ta. Bà đã làm tất cả các việc đó với sự tử tế, khả ái, và bình tĩnh, cư xử với những đối thủ mạnh mẽ nhất của bà với sự trân trọng”.

Tiêu biểu nhất cho phản biện đem lại kết quả tốt, là vụ Ledbetter v. Goodyear Tire & Rubber Co. đã nói trên. Vai chính trong vụ này, bà Ledbetter, đã bị hãng Goodyear trả lương thấp hơn các đồng sự phái nam. Bà đi kiện từ năm 1998, được toà dưới xử thắng, cho bà được bồi thường 3.3 triệu đô la. Toà phúc thẩm bác, với lý do nguyên đơn không nạp đơn kiện trong vòng 180 ngày, kể từ khi biết được mình bị chủ đối xử bất công. Nghĩa là từ khi nhận được pay check bất bình đẳng đầu tiên.

Vụ kiện lên TCPV, được xử vào năm 2007, với tỉ lệ 5-4, Toà Tối cao chấp nhận phán quyết của tòa phúc thẩm, hậu quả là bà Ledbetter không được nhận số tiền 3.3 triệu. Qua phản biện đại diện 4 người thuộc phía thiểu số, bà Ginsburg lập luận rằng, việc chủ trả lương sai biệt giữa người này với người khác không phải là chuyện dễ biết. Hơn nữa, chuyện này có thể diễn ra trong một thời gian lâu, qua những lần tăng lương. Trong bài phản biện công phu với đầy đủ tài liệu dẫn chứng, bà Ginsburg còn nêu ra mấy vụ sai lầm tương tự trong quá khứ, đưa đến chỗ Quốc Hội đã phải sửa luật. Cuối cùng, bà kết luận: “Một lần nữa, trái banh đang trong sân Quốc hội. Cơ quan Lập pháp có thể hành động để sửa lại” (“Once again, the ball is in Congress’s court. Legislative may act to correct it”.)

Hai năm sau, 2009, Quốc Hội đã đáp ứng, bằng cách thông qua đạo luật Lilly Ledbetter Fair Pay Act, mang tên người bị kỳ thị, từng thắng kiện ở bước đầu, nhưng thua ở hai cấp cao hơn. Đạo luật này bảo đảm quyền bình đẳng về lương bổng với mọi công nhân, chống lại mọi thứ kỳ thị dựa trên chủng tộc, tôn giáo, tuổi tác, giới tính, khuynh hướng chính trị… Và người bị kỳ thị có thể nộp đơn kiện bất cứ lúc nào, trong vòng 180 ngày, kể từ khi biết được mình bị thiệt. Nghĩa là, không phải căn cứ vào pay check đầu tiên, mà có thể là bất cứ pay check nào, từ đầu đến cái cuối cùng.

RBG nổi tiếng về phản biện, không do phản đối ồn ào lấy lệ, hay giận dữ khi quan điểm của mình không được nhiều người đồng ý. Mặc dù biết dư luận thường chú ý tới quan điểm của bên đa số, hơn bên thiểu số, bà vẫn làm công việc của mình một cách cẩn trọng, với hy vọng quan điểm của mình sẽ có ngày được nhiều người chấp thuận. Theo hai tác giả Irin Carmon và Shana Knizhnik mô tả trong tác phẩm Notorious RBG: The Life and Times of Ruth Bader Ginsburg, trong cách xử thế, RBG nói rằng, “Giận dữ, phẫn nộ, ghen tị. Những tình cảm này chỉ làm tiêu hao năng lực”. (“Anger, resentment, envy. These are emotions that just sap your energy”.) Và sở dĩ thành công trong cuộc vận động thực hiện mục tiêu của mình, thay vì chống đối, bà đã tìm cách làm người khác theo quan điểm mình. (“in a way that will lead others to join you”.)

Ví dụ, thành tích ngoạn mục nhất của RBG, là vụ U.S. v. Virginia về Học viện Quân sự Virginia đã nói trên, với tỉ lệ 7-1, diễn ra năm 1996, ba năm sau khi bà được nhận vào TCPV. Lần này, bà viết phán quyết đại diện đa số. Trong số 6 người đồng ý với bà, có cả Chủ Tịch TCPV William Rehnquist; người vốn không ưa phái nữ. Đường lối phản biện hữu hiệu nhất, theo Ginsburg, là: “Nêu ra những khác biệt không làm nguy hại tinh thần tương giao hay sự kính trọng của công chúng và sự tín nhiệm dành cho bộ tư pháp”. (The most effective dissent, spells out differences without jeopardizing collegiality or public respect for and confidence in the judiciary).

Hòa trong dị biệt

Quý vị đồng ý với chúng tôi, hay quý vị chống lại chúng tôi; bạn theo tôi, hay bạn là kẻ thù của tôi, đó là cách xử thế từ ngàn xưa, vẫn tồn tại đến nay. Cả các thánh nhân như Matthew, Luke, trong Tân Ước, đến các nhà độc tài như Lenin, Mussolini, cũng có thái độ này. Ngay đến Tổng thống hoa Kỳ, lãnh đạo một nước dân chủ mẫu mực của thế giới, cũng tuyên bố tương tự: “Tất cả mọi dân tộc, tại mọi vùng, bây giờ phải có một quyết định. Hoặc quý vị đi với chúng tôi, hay quý vị theo bọn khủng bố”. (“Every nation, in every region, now have a decision to make. Either you are with us, or you are with terrorists”), George W. Bush, trong diễn văn ngày 20 tháng 9, 2001, trước lưỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ, sau vụ tấn công 11 tháng 9 năm 2001.

Ruth Bader Ginsburg hoàn toàn ngược lại. Người bạn thân nhất của bà, từ thời gian cùng là Thẩm phán tòa phúc thẩm, đến khi cả hai cùng là Thẩm phán Tối cao, từ 1980 đến 2016, là Thẩm phán Antonin Scalia. Hai người thuộc hai cực đối nghịch: Ông là người Mỹ gốc Ý. Bà là người Mỹ gốc Do Thái. Hai cái gốc này một thời là kẻ thù không đội trời chung. Ông, Công Giáo, có con là linh mục (Paul Scalia). Bà, Do Thái giáo ngoan đạo, tôn giáo từng bị coi là phía giết Chúa. Ông, Mỹ gốc Ý đầu tiên vào TCPV. Bà, phụ nữ Do Thái đầu tiên vào TCPV. Ông, cực hữu, theo phái giải thích hiến pháp dựa trên văn bản nguyên thủy (originalist và textualist), chấp nhận án tử hình, chống phá thai và hôn nhân đồng tính. Bà cấp tiến, áp dụng hiến pháp phù hợp với thay đổi của thời đại, không chấp nhận án tử hình, coi phá thai là một quyền của phụ nữ, chấp nhận hôn nhân đồng tính. Ông theo Cộng Hòa, được đề cử bởi Tổng thống Reagan. Bà theo Dân Chủ, được đề cử bỏi hai Tổng thống Carter và Clinton.

Khác nhau hơn mặt trăng mặt trời như thế, kể đã quá đủ. Nhưng hai người là bạn rất thân của nhau trong nhiều thập niên, cả ngoài đời, lẫn trong công việc. Xin nêu vài thí dụ cụ thể chứng tỏ hai người khác nhau về mọi phương diện, nhưng vẫn thân nhau.

Ông Scalia qua đời ngày 13/2/2016, chỉ 4 tuần trước khi đủ 80 tuổi. Bà Ginsburg, hơn ông ba tuổi, viết, “chúng tôi từng là bạn bè thân thiết”. (“We were best buddies”.)

Các Thẩm Phán TCPV Antonin Scalia và Ruth Bader Ginsburg cưỡi voi tại Rajasthan, Ấn Độ, năm 1994. Nguồn: TCPV/AP

Trên phương diện khác nhau qua quan điểm về luật pháp, Nina Totenberg của NPR, một bạn thân của Ginsburg trong nửa thế kỷ, kể: “Họ thích tranh luận với nhau trên tinh thần tốt – trong tinh thần thẳng thắn – không theo kiểu tranh cãi ngày nay trên TV”.

Ginsburg từng thú nhận, những quan điểm khác biệt của Scalia đã giúp bà khá hơn. Không phải thú nhận với bạn bè riêng tư, mà nói cho mọi người biết, vào dịp cả hai cùng có mặt trong một cuộc phỏng vấn chung. Hôm ấy, Ginsburg kể, bà viết chưa xong một phán quyết đại diện đa số trong một vụ quan trọng. Scalia cho bà xem trước phản biện của ông ở phía thiểu số. Thấy lập luận của ông quá dở, bà dùng cả cuối tuần sửa lại luận cứ của mình. Giúp nó hay hơn nhiều khi chính thức công bố. Nói rồi, cả hai cùng cười vui vẻ.

Thắng lợi lớn nhất của Ginsburg tại TCPV là vụ US v. Virginia đã nói trên. Vụ này, Ginsburg đại diện đa số viết phán quyết. Phiếu duy nhất phản đối là từ đồng nghiệp thân nhất, Antonin Scalia. Một người không bỏ phiếu là Clarence Thomas.

Trong cuộc sống đời thường, hai người còn thân nhau hơn. Cùng với người phối ngẫu, họ gặp nhau ăn nhậu, nghe nhạc, coi opera, du lịch khắp nơi.

Một hôm, vẫn theo lời Totenberg, trong cuộc gặp mặt bạn bè, Ginsburg giải thích tại sao báo chí nói bà có vẻ buồn ngủ, trong khi nghe Tổng Thống Obama đọc diễn văn về tình trạng liên bang tại lưỡng viện Quốc Hội. Bà kể, “trước khi đi nghe diễn văn, đã tự hứa không uống rượu, chỉ uống nước trong bữa ăn tối hôm đó. Nhưng cuối cùng, món ăn ngon quá, cần rượu đi kèm”. Scalia chen vào, “Đó mới chính là lần đầu mà bà biết hành xử minh mẫn”. (Well that’s the first intelligent thing you’ve done”.)

Họ tranh cãi trong ôn hòa về sự khác biệt quan điểm, thỉnh thoảng đem nhau ra làm trò cười, rồi vẫn là bạn thân, mỗi người vẫn giữ vững lập trường của mình cả đời. Tình bạn không phải là con đường một chiều. Bà Ginsburg tôn trọng ông Scalia, ông này cũng tôn trọng bà tương tự, tình bạn mới tồn tại lâu dài. Trong lễ tưởng niệm sau khi ông Scalia qua đời, bà nhắc lại lời ông: “Tôi tấn công tư tưởng. Tôi không tấn công con người. Vài người rất tốt có vài tư tưởng rất bết”. (I attack ideas. I don’t attack people. Some very good people have some very bad ideas). Mọi người cười ồ, giữa khung cảnh lễ tưởng niệm trang nghiêm.

Bên cạnh những khác biệt mỗi người giữ cho mình cả đời, họ cũng có một điểm chung nổi bật: Cả hai cùng say mê opera. Năm 2013, một người tốt nghiệp trường luật ở Maryland đã đem quan điểm khác biệt của họ vào âm nhạc. Vào dip Scalia từ trần, Ginsburg kể lại, ở phần cuối của vở opera hài mang tên Scalia/ Ginsburg, Scalia với giọng tenor và Ginsburg soprano, họ đã song ca “We are different, we are one” (Chúng ta dị biệt, chúng ta là một). Ginsburg nói: Dị biệt trong cách giải thích văn bản; nhưng là một trong sự tôn trọng dành cho Hiến Pháp và cơ chế chúng ta phục vụ.

Các Thẩm phán TCPV Ginsburg (giữa, cầm quạt) và Scalia (bên trái bà) cùng với các diễn viên trong vở “Ariadne auf Naxos” sau cuộc trình diễn tại Washington National Opera, 1994. Nguồn: Stephen R. Brown/ AP

Thật ra, tinh thần của 6 chữ Anh ngữ trên đây không phải là sáng kiến mới của bà Ginsburg và ông Scalia, nó là khẩu hiệu đã được khắc trên quốc huy Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ từ ngày lập quốc, bằng tiếng Latin: “E pluribus unum” (Từ số đông thành một–Out of many, one). Điều đáng lưu ý là, trong khi hai người bạn gốc di dân, dù ở hai thái cực đối nghịch về tư tưởng, đã áp dụng nó hoàn hảo, còn những người có đầu óc mong muốn “nước Mỹ vĩ đại” lại quên mất điều này.

Một bài học quá rõ ràng và ngắn gọn, dành cho mọi người. Từ cấp lãnh đạo tới toàn dân. Một bài học sống còn chỉ gồm 6 chữ trong tiếng Anh, “We are different, we are one,” và 8 chữ dịch sang tiếng Việt. “Chúng ta dị biệt, chúng ta là một”. Chúng ta dị biệt về nguồn gốc, tôn giáo, dòng dõi, chủng tộc, màu da, giới tính, tuổi tác, học thức, văn hoá, địa vị xã hội… nhưng chúng ta chỉ là một, cùng có một Hiến Pháp đã thề bảo vệ, có một đất nước để sinh sống và để lại cho con cháu.

Có người nghĩ mình là thiên tài xuất chúng, cho rằng, “một” đây không phải là một hiến pháp, hay một đất nước, mà là một người. Voilà! Chính mình! Hậu quả là sinh hoạt mùa bầu cử 2020 cho thấy một hoạt cảnh đậm nét: Chúng ta dị biệt, mình tôi là nhất, bất đồng là kẻ thù, không đội trời chung! Chỉ mình tôi có thể “làm cho nước Mỹ vĩ đại”, giải quyết tất cả mọi rắc rối. Thiếu tôi, đất nước sẽ tiêu tùng!

Từ cuộc đời đến màn bạc

Cuộc cách mạng âm thầm và đơn độc của một phụ nữ đã gây ấn tượng sâu đậm cho nhiều người.

Trong thập niên cuối cùng của đời bà, cũng là thời gian đơn lẻ, sau khi Marty mất năm 2010, đã xuất hiện nhiều phim ảnh, sách báo, trang phục, vật dụng lưu niệm… về cuộc đời và sự nghiệp của RBG. Chỉ trong một năm, năm 2018, đã có hai phim về cuộc đời của Ruth Bader Ginsburg được phát hành, một phim tài liệu “RBG,” còn phim kia là On the Basis of Sex, dựa trên đời thật của Ruth Ginsburg.

Trong phim tài liệu RGB, có sự hiện diện của người thật, là các thành viên trong gia đình, từ bà Ruth Bader Ginsburg, đến hai con Jane và James và cháu ngoại Clara Spera. Phim dài 97 phút, đạt được nhiều thành quả tốt đẹp về uy tín và tài chánh. Nhận được nhiều giải thưởng giá trị về phim tài liệu hay nhất, được đề nghị Giải Oscar kỳ thứ 91. Về tài chánh, thu được 14 triệu đô la cho lần phát hành đầu tiên. Phim được chiếu lại sau khi RBG từ trần, tiền thu được, tặng quỹ của ACLU.

Nội dung phim tài liệu này, ghi lại đầy đủ cuộc đời của Ruth Bader Ginsburg, từ khi ra đời ở Brooklyn, NY, trong một gia đình di dân gốc Do Thái, đến khi thành đạt, tạo được những thành tích lẫy lừng.

Nội dung phim còn cho biết một khía cạnh đặc biệt khác: Cuộc sống hoà hợp của hai người khác biệt trong phạm vi gia đình. Thánh Phao Lồ (St. Paul), một người độc thân, thiếu kinh nghiệm hôn nhân, dạy rằng: Hai người nam nữ, sau khi thành hôn, trở thành một. Người nữ phục tùng chồng mình, như Giáo Hội phục tùng Chúa. Nếu theo đúng tôn chỉ này, Martin và Ruth Ginsburg không thể ở với nhau lâu dài. Tỉ lệ ly dị của những người Thiên Chúa Giáo, (Công Giáo và Tin Lành), khoảng từ 40 đến 50 phần trăm. Martin và Ruth khác nhau hoàn toàn, về bản tính tự nhiên, cũng như xu hướng tư tưởng, nghề nghiệp. Marty hướng ngoại, ồn ào sống động, chuyên về thuế vụ, làm bếp giỏi, thích đàn đúm bạn bè; Ruth hướng nội, dè dặt, nghĩ nhiều hơn nói, chuyên về nhân quyền, không biết nấu ăn, tiết kiệm, đị mua sắm không bao giờ quên dùng coupons. Họ không thể trở thành một, không ai sai khiến ai, không ai là chủ nhân hay tôi tớ của ai; họ tôn trọng lẫn nhau, mỗi người làm phận vụ hợp với khả năng của mình. Những công việc cả hai cùng làm được, phải thay đổi nhau mà làm.

Jane, con gái, kể: “Mẹ tôi tin rằng, sẽ không có bình đẳng thật sự, cho đến khi đàn ông tham dự vào việc chăm con và những việc khác trong nhà”. (“My mother strongly believes there won’t be true equality until men take full participation in child care and other household tasks”). Có lần, sau khi phải thức trắng đêm làm việc, sáng sớm, bị nhà trường gọi bảo phải đến họp, để nói về con phạm lỗi không trầm trọng. Bà trả lời, thằng bé có cả cha lẫn mẹ, làm ơn gọi thay đổi, mỗi người một lần. Từ đấy, bà ít bị gọi.

Trải qua bao khó khăn, bệnh tật từ cả hai người, họ đã ở với nhau được 56 năm, liên tục, từ khi kết hôn năm 1954, đến khi một người ra đi năm 2010.

RBG phát hành tháng 5, nửa năm sau, On the Basis of Sex, phát hành tháng 11/2018. Phim trước trình bày cuộc đời tư của Ruth Ginsburg, phim sau kể lại tiến trình sự nghiệp của bà, từ lúc theo học năm đầu tại trường luật Harvard, đến khi tốt nghiệp tại Columbia. Tiếp theo là những vụ án nổi tiếng, bênh vực quyền bình đẳng của phụ nữ, làm thay đổi cả phạm vi áp dụng Tu Chính 14 của Hiến Pháp. Cuối cùng, trở thành phụ nữ gốc Do Thái đầu tiên làm Thẩm Phán tối cao Pháp Viện. Phim do các tài tử thủ vai, chính bà Ginsburg cũng xuất hiện chốc lát trong màn chót, bước lên những bậc dẫn vào TCPV.

Phim này, tuy là phim truyện, nhưng do một người cháu bên chồng chủ trương, dựa trên sự thật, được bà chấp nhận cốt truyện, và nhấn mạnh việc tìm các tài tử, nhất là người đóng chồng bà, phải giống người thật – bà gặp cả các tài tử chính – nên có thể coi phim đã phản ảnh sự thật ở mức độ cao. Ruth Ginsburg là người yêu sự chính xác. Đã có người yêu mến bà, đưa nhận xét “can’t spell truth without Ruth” (không thể đánh vần sự thật mà không có Ruth).

Ngay cảnh đầu tiên của phim, bà đã phản đối, vì người đóng vai bà đi giầy cao gót tới học ở Harvard, trong khi đời thật, bà đã đi giầy thấp gót, vì phải đi bộ từ nhà tới trường. Nhà làm phim phải thuyết phục mãi, bà mới chịu; coi đây là điều duy nhất bà nhượng bộ. Sau đây là vài hình ảnh cho thấy tài tử chính khá giống người thật.

Cảnh trong phim On the Basis of Sex: RBG tại trường Luật Harvard, do Felicity Jones thủ vai.
Người thật, Ruth, sinh viên năm cuối tại Cornell. Nguồn: Jonathan Wenk/ Focus Features

Người định và Trời định

Vào thập niên chót của đời mình, sau khi vất vả săn sóc Marty bị trọng bệnh trước khi ông qua đời vào năm 2010, và sau khi Ruth tưởng đã thoát bệnh ung thư ruột già (đã được phát hiện sớm vào năm 1999), đến lượt bà cũng bị đủ thứ bệnh đáng sợ tấn công, như: Ung thư lá mía (pancreatic cancer) 2009; giải phẫu tim, 2012 và 2018; giải phẫu cắt mụn độc ở phổi trái, 2018; chạy phóng xạ khi ung thư lá mía trở lại, 2019. Ngoài ra, còn bị ngã, gẫy xương sườn. Nhưng bà vẫn cố gắng phi thường, it khi chịu vắng mặt trong các khoá xử ở Toà.

Hoa nến và kỷ vật thương nhớ đặt trước trụ sở TCPV tưởng niệm bà Ruth Ginsburg, ngày 19/9/2020. Nguồn: Jose Luis Magana/ AFP/ Getty Images

Thấy sức khoẻ bà bị đe dọa trầm trọng, nhiều người, từ Tổng Thống Obama đến các chính khách Dân Chủ, giáo sư luật, và các nhà bình luận báo chí, hoặc âm thầm vận động riêng tư, hay công khai đề nghị trên báo, muốn bà từ chức, để phía Dân Chủ có cơ hội đề cử người khác vào thay bà ở TCPV, hầu khỏi mất một ghế quan trọng cho phía bảo thủ, một khi Bạch Ốc hay Thượng Viện, hoặc cả hai, vào tay Cộng Hòa. Nhưng bà đã không đáp ứng yêu cầu, chắc không phải vì “tham quyền cố vị,” mà chỉ vì tinh thần phục vụ cao. Từ chức thời Obama, trước 2014 thì quá sớm, sau 2014 là thả mồi bắt bóng, Thượng Viện đã trong tay Cộng Hoà rồi, người do Obama cử đã chắc gì trót lọt. Theo nhà báo Totenberg, bà muốn đợi Hillary đắc cử, hy vọng nữ tổng thống đầu tiên sẽ đề cử một phụ nữ thay bà. Hoặc bà sẽ làm việc đến năm 90 tuổi rồi sẽ nghỉ hưu.

Nhưng người định một đàng, Trời định một nẻo. Bà có thể định việc từ chức hay không. Trời định mạng sống của bà. Khi biết không thể làm khác mệnh Trời, bà đã để lại ước vọng cuối cùng, mong chỗ của mình không bị thay thế, cho đến khi tổng thống nhiệm kỳ kế tiếp nhậm chức.

Ước nguyện này đã bị phủ nhận phũ phàng, cùng lúc Nghị sĩ đầu khối đa số Thượng Viện nói về sự ra đi của bà. Mitch McConnell tuyên bố: “Thượng Viện và cả nước để tang sự ra đi bất ngờ của Thẩm phán Tối cao Ruth Bader Ginsburg và sự kết thúc cuộc đời ngoại hạng của một người Mỹ. Người Tổng Thống Trump đề cử sẽ được toàn Thượng Viện biểu quyết”.

Quyết định của McConnell, hay của Trump, cũng chỉ là do người định. Trời đã định về sự sống của bà. Hãy chờ đợi, xem Trời định ra sao về hậu quả cái chết của bà. Cái chết của bà đã tạo được dấu ấn lịch sử: Người phụ nữ Mỹ đầu tiên, sau 34 nam giới, được quàn tang trên bệ Lincoln tại Quốc Hội. Biết đâu, nếu cái chết tưởng như không đúng lúc của bà, có thể giúp người dân từ mọi phía, nhìn rõ sự việc giữa vòng xoáy kinh hoàng của siêu bão lịch sử đang diễn ra, để có thể quyết định sáng suốt hơn trong cuộc bầu cử gần kề, cái chết của bà sẽ đem lại kết quả vĩ đại, có khi còn ngoạn mục hơn cả những gì bà đã tạo được khi còn sống.

Nguồn : https://baotiengdan.com/2020/10/05/ruth-bader-ginsburg-nguoi-nho-be-vi-dai-phan-2/

Ruth Bader Ginsburg, người nhỏ bé vĩ đại (Phần 1)

TIẾNG DÂN

Đinh Từ Thức

5-10-2020

Cái quan định luận, đợi nắp quan tài đóng lại, mới có thể khen chê sự nghiệp một đời người. Bây giờ, nắp quan tài của nữ Thẩm phán Tối cao Ruth Bader Ginsburg đã đóng lại, là lúc có thể nhận định về cuộc đời có vẻ thầm lặng, nhưng đã tạo nhiều thành tích vang dội của bà.

Thẩm phán Ruth Bader Ginsburg. Nguồn: Sebastian Kim / The New Yorker

Nặng trên dưới 40 ký, cao chưa tới 1,6 mét, ra đời năm 1933, giữa cuộc đại suy thoái về kinh tế, là phụ nữ thuộc một gia đình bình thường, sống trong xã hội Mỹ vào giữa thế kỷ trước, Ruth Bader Ginsburg (RBG) là một người nhỏ bé, theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nhưng khi nằm xuống vào ngày 18 tháng 9 năm 2020, di sản lịch sử của bà là của một nhân vật vĩ đại.

Đầu ngành Tư Pháp, Chủ tịch Tối cao Pháp viện Mỹ John Roberts thông báo tin buồn: “Đất nước chúng ta đã mất một thẩm phán có tầm vóc lịch sử. Chúng tôi ở Tối cao Pháp viện (TCPV) đã mất một đồng nghiệp trân quý. Hôm nay chúng tôi để tang, nhưng với tin tưởng rằng những thế hệ tương lai sẽ nhớ Ruth Bader Ginsburg như chúng tôi đã biết bà – một thẩm phán không mệt mỏi và cương quyết vô địch”.

RBG sinh năm 1933, thọ 87 tuổi, suốt đời tranh đấu cho công lý và bình đẳng nam nữ, từ chức vụ thư ký Sở An Ninh Xã hội, luật sư phụ tá, giáo sư, thẩm phán liên bang, và cuối cùng, phục vụ với tư cách là thẩm phán phụ nữ thứ nhì của lịch sử TCPV trong 27 năm. Một con người nhỏ bé, khiêm nhượng về hình thức, nhưng nhờ thông minh, cương trực, chịu khó, và qua những kinh nghiệm bất công từ thực tế phũ phàng, bà đã tạo được thành tích khổng lồ, không riêng cho cá nhân mình, mà ảnh hưởng tới mọi người.

Đầu ngành Hành Pháp, Tổng Thống Trump, khi biết tin bà qua đời, đã thốt lên: “She led an amazing life. What else can you say? She was an amazing woman, whether you agree or not. She was an amazing woman who led an amazing life”. (Bà đã sống một cuộc đời đáng kinh ngạc. Bạn có thể nói gì khác? Bà đã là một phụ nữ đáng kinh ngạc, dù bạn có đồng ý hay không. Bà đã là một phụ nữ đáng kinh ngạc sống một cuộc đời đáng kinh ngạc).

Một người có thói quen khen mình hơn khen người, vốn liếng chữ nghĩa thóa mạ của Tổng Thống Trump coi bộ phong phú hơn là lúc ông khen người khác. Ông chỉ nhắc đi nhắc lại một tiếng “amazing” để nói về cuộc đời và sự nghiệp của bà Ginsburg. Từ này, theo nghĩa thông thường là “kinh ngạc”. nhưng muốn dịch sát nghĩa sang tiếng Việt, có hai chữ thông dụng và rất đáng yêu của đất Thần Kinh Huế, là “dể sợ”. Nói “dễ sợ” là không đúng. Phải nói dể sợ (dấu hỏi). Đẹp dể sợ, hay dể sợ, thành công dể sợ… kể cả ác dể sợ, ngu dể sợ.

Với ông Trump, tuyên bố về bà Ginsburg như vậy, coi như đã là ngoại lệ. Bởi ông từng bị bà chỉ trích là faker (kẻ láo khoét) trước cuộc bầu cử năm 2016 và nói với báo New York Times rằng: “Tôi không thể tưởng tượng đất nước này sẽ ra sao nếu Donald Trump là tổng thống của chúng ta”. (I can’t imagine what the country would be with Donald Trump as our president). Thực tế bốn năm qua chứng tỏ, nếu là một người thường, nhận định và băn khoăn của bà không sai. Nhưng là thẩm phán tối cao, có quyền giải thích hiến pháp, cần vô tư tuyệt đối, không nên pha trộn công tư. Nhận định của bà về ông Trump, là cảm nhận riêng tư. Khi phát ra từ cửa miệng của bà, là tiếng nói của thành viên TCPV. Nếu trong một vụ kiện tranh chấp về kết quả bầu cử, như vụ Bush v. Gore năm 2000, lá phiếu của bà không thể vô tư. Sau đó, biết mình sai, bà đã vội vàng xin lỗi về phát biểu ngoài chuẩn mực của mình.

Các cựu tổng thống Mỹ còn sống, Obama, Clinton, Carter thuộc đảng Dân Chủ, kể cả Bush thuộc đảng Cộng Hoà – mặc dù bà chống lại phán quyết của TCPV cho ông đắc cử năm 2000 – đều nhiệt liệt ca ngợi sự nghiệp của bà.

Phía Lập pháp, tình trạng chia rẽ chẳng những tồn tại, còn tăng mạnh nhân cái chết của bà Ginsburg. Phía Cộng Hòa chạy nước rút cố dành thêm một ghế bảo thủ tại TCPV. Phía Dân Chủ cố gắng hết sức để ngăn lại. Thay vì “được an nghỉ trong thái bình”, dù tạm thời trong thời gian để tang, sự ra đi của bà khiến cuộc xung đột bỗng nhiên sôi nổi. Ngay cả ước nguyện cuối cùng của bà cũng gây lời qua tiếng lại ở cấp cao nhất.

Trước khi qua đời, bà đọc cho cháu gái ghi lại ước vọng cuối cùng của mình: “my most fervent wish is that I will not be replaced until a new president is installed”. (Mong ước nhiệt thành nhất của tôi là tôi sẽ không bị thay thế cho đến khi tổng thống mới nhậm chức).

Sau khi tuyên bố vào tối Thứ Sáu 18 tháng 9, rằng bà Ginsburg là một phụ nữ dễ sợ, đã sống một cuộc đời dễ sợ, và sau khi biết được ước vọng cuối cùng của bà, Tổng Thống Trump đã lên Fox & Friends, cho nổ một trái bom gây hoang mang dư luận vào thứ Hai 21 tháng 9, khi tang lễ chính thức chưa bắt đầu. Ông nói: “I don’t know that she said that, or if that was written out by Adam Schiff, and Schumer and Pelosi”. và rằng, “That came out of the wind. It sounds so beautiful, but that sounds like a Schumer deal, or maybe Pelosi or Shifty Schiff”. (Tôi không biết bà ấy nói thế, biết đâu lời đó đã được Adam Schiff, Schumer, và Pelosi viết ra. Nó như trên trời rớt xuống. Nó là những lời lẽ coi bộ đẹp đẽ, nhưng chắc là chuyện thương lượng của Schumer hay có thể của Pelosi hoặc tên Schiff gian trá). Cả ba người này là các dân cử cao cấp thuộc đảng Dân Chủ ở Quốc Hội; Schumer là trưởng khối thiểu số Thượng Viện, Pelosi là Chủ tịch Hạ Viện, Schiff là Chủ tịch Uỷ Ban Tư Pháp Hạ Viện.

Theo bài báo của hai phóng viên Glenn Thrush và Kevin Roose trên New York Times, sau trái bom hoài nghi trên Fox, phe phò Trump đã rộn ràng tung tin vô căn cứ trên Twitter, rằng bà Ginsburg đã đọc cho cháu gái 8 tuổi viết ước nguyện cuối cùng. Thật ra, bà Nina Totenberg của Đài Phát Thanh National Public Radio (NPR) đã xác nhận với chứng cớ: Người ghi lại di ước là cháu ngoại gái Clara Spera, luật sư, đã tốt nghiệp trường Luật Harvard từ năm 2017. Khi viết có sự chứng kiến của bác sĩ và những người khác.

Dân Biểu Schiff đã đáp lễ Tổng Thống Trump trên Twitter: “Thưa Tổng Thống, đây là chuyện ‘chơi bẩn’. Ngay cả đối với ông”. (“Mr. President, this is low. Even for you”).

Mất mát đầu đời

Ngay từ thời niên thiếu, Ruth đã trải qua những mất mát không thể bù đắp trong gia đình. Nhà có hai chị em, nhưng em gái mất khi mới 6 tuổi. Không được học trường tư danh tiếng như con nhà giầu, Ruth học trường công, rất xuất sắc trong việc học, cũng như trong các sinh hoạt học đường; cô đóng vai baton twirler, là người múa gậy dẫn đầu đội kèn nhà trường khi diễn hành. Rồi đến mẹ, Celia Bader, người được Ruth coi là thông minh nhất mà cô được biết trong đời, cũng là lực đẩy của Ruth, đã qua đời vì ung thư hôm trước ngày cô tốt nghiệp trung học, khiến cô không có mặt trong ngày lễ ra trường đầu tiên.

Nhờ học giỏi, 17 tuổi Ruth đã được học bổng toàn phần tại đại học danh tiếng Cornell. Theo nhà báo Nina Totenberg của NPR – người bạn thân suốt nửa thế kỷ – khi Ruth bị sách nhiễu tình dục tại Cornell, thay vì câm nín chịu đựng, cô sinh viên 19 tuổi đã nhìn thẳng mặt vị giáo sư sàm sỡ tấn công mình, giận dữ: “How dare you, how dare you!” (Sao dám làm vậy, sao dám làm vậy!) Tuy nhỏ bé, cô chẳng sợ ai.

Cũng tại Cornell, Ruth đã gặp Martin (Marty) Ginsburg, cả hai cùng học giỏi. Chàng hơn nàng một tuổi. Họ thành vợ chồng sau khi tốt nghiệp năm 1954. Quan niệm chung của nhiều thanh niên ở thế kỷ trước là một phụ nữ đẹp thường kém thông minh. “Điều khiến Marty vô cùng hấp dẫn, là anh ấy chú ý tới trí óc tôi”. (“What made Marty so overwhelmingly attractive to me was that he cared that I had a brain”), theo lời kể của Ruth.

Sau khi thành hôn, Ruth theo chồng tới sống ở Fort Sill, Oklahoma, nơi Marty bị động viên và làm việc ở đó. Chồng đi lính, vợ phải kiếm việc để tăng quỹ gia đình. Mặc dù đậu cao khi ra trường, và đạt điểm cao trong kỳ thi tuyển nhân viên của Sở An Sinh Xã Hội mà đáng lẽ phải được mướn ở Ngạch 5, Ruth, vì đã cho sở biết là bà có thai, đã bị đánh sụt điểm nhận việc xuống Ngạch 2, rồi chỉ được mướn qua chức thư ký đánh máy “do công việc này tránh cho nhân viên mang bầu phải đi công tác xa gia đình”.

Cặp uyên ương: Ruth và tân binh quân dịch Marty tại Fort Sill, Oklahoma. Nguồn: Bộ sưu tập của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ

Hai năm sau, Marty mãn hạn quân dịch, cả hai trở lại miền Đông học luật ở Harvard, ngôi trường danh tiếng nhất thế giới, nhưng vào giữa thế kỷ trước, phụ nữ vẫn bị coi thường ở đây. Trong lớp hơn 500 sinh viên, chỉ có 9 phụ nữ, kể cả Ruth. Một hôm, vị khoa trưởng họp cả chín cô lại, yêu cầu mỗi người trả lời câu hỏi: Cô chứng minh thế nào khi lấy chỗ đáng lẽ dành cho phái nam? Ruth, mặc dù xuất sắc hơn chồng, đã khiêm tốn trả lời theo đúng ngôn ngữ vợ hiền: Vì chồng tôi là luật sư, tôi học luật để giúp đỡ và có sự hiểu biết về sự nghiệp của anh ấy.

Theo tờ báo Crimson của Harvard ngày 23/7/1993, trong cuộc điều trần trước Uỷ Ban Tư Pháp Thượng Viện để được chuẩn thuận làm Thẩm phán Tối cao Pháp viện, Ruth Bader Ginsburg nói rằng, cách đối xử bất bình đẳng mà trường Luật Harvard dành cho phụ nữ — như nữ sinh viên không được vào thư viện Lamont, khách phụ nữ không được mời dự tiệc của Harvard Law Review, và nữ sinh viên không được cấp nơi ở tại ký túc xá trường Luật — thời bà theo học ở đó từ 1956 đến 1958, đã khiến bà dùng sự nghiệp của mình để phá vỡ rào cản trên đường tiến thân của phụ nữ trong xã hội.

Ba điều bất lợi

Tại Harvard, Marty học trước vợ một lớp. Vào năm chót của Marty, cũng là năm thứ nhì của Ruth, cả hai vợ chồng cùng bận học, thêm việc chăm con nhỏ, bỗng nhiên tai nạn ập tới. Thay vì chuẩn bị tốt nghiệp, Marty phải đương đầu với bệnh ung thư dịch hoàn (testicular cancer). Giải phẫu rồi chạy phóng xạ, Marty trở thành bệnh nhân tại nhà. Ngoài việc săn sóc và nuôi chồng bệnh hoạn, Ruth còn phải lo cho đứa con ba tuổi, tới lớp học của mình hàng ngày, và phụ trách công việc của Harvard Law Review – một tập san bình phẩm pháp lý danh tiếng của trường Luật. Điều này không do Ruth tự kể, mà do chính Marty nói với đài phát thanh NPR trong cuộc phỏng vấn năm 1993.

Cùng với việc học, Ruth phải săn sóc chồng bệnh Marty và nuôi con gái Jane. Nguồn: Bộ sưu tập của TCPV

Theo lời Ruth viết năm 2016 về kinh nghiệm vừa nuôi con vừa tác vụ nghề nghiệp của mình, được báo People ghi lại, và qua phỏng vấn với NPR năm 1993, người ta có thể biết được hoạt động của Ruth trong một ngày: “Tôi đến lớp và làm việc chăm chỉ cho đến 4 giờ chiều; những giờ kế tiếp là của bé Jane, ra công viên, làm trò hay hát hò vui đùa với bé, xem sách họa hình hay đọc thơ A.A. Milne dành cho trẻ em, rồi tắm và cho bé ăn”.

Thời gian chồng bị bệnh này, theo lời Ruth, công việc quá nhiều, đến nỗi giấc ngủ chỉ là niềm mơ ước. Sau khi được ăn trễ vào buổi tối, Marty đọc cho vợ viết lại bài vở năm chót từ ghi chép nhờ các bạn lấy cho ở lớp. Khoảng 2 giờ sáng, Ruth bắt đầu cầm tới sách học, sửa soạn cho bài vở của mình hôm sau.

Những cố gắng phi thường này đã được đền bù, Marty khỏi bệnh, vẫn tốt nghiệp cùng khóa, không bị trễ, và kiếm được việc ở New York. Ruth lại bồng con theo chồng, và học năm chót ở Columbia. Dù đã học hai năm đầu với điểm cao, và chuyển trường có lý do chính đáng, Ruth không được phép tốt nghiệp ở trường cũ với văn bằng Harvard. Sau đó bà tốt nghiệp thủ khoa ở Columbia. Sau này, Harvard thay đổi, cho sinh viên trong hoàn cảnh tương tự như Ruth được tốt nghiệp với văn bằng của Harvard. Dịp này, Marty viết thư cho khoa trưởng Luật Harvard, kể rằng, anh đã hỏi vợ có muốn đổi bằng của Columbia lấy bằng của Harvard không, nhưng Ruth chỉ cười. Khi đã nổi tiếng, Ruth cũng vui vẻ nhận một Tiến Sĩ Danh Dự từ Harvard.

Mặc dù ra trường hàng đầu từ một đại học danh tiếng, Ruth Ginsburg không thể kiếm được việc làm trong ngành luật tại New York. Nộp đơn mong được tuyển làm luật sư phụ tá (Supreme Court clerkship)[1] cho Thẩm phán Tối cao Pháp viện Felix Frankfurter, tuy với giấy giới thiệu rất tốt, Ruth không hề được gọi phỏng vấn. Người mẹ trẻ đủ thông minh nhận ra ba trở ngại đầu đời: phụ nữ, làm mẹ và gốc Do Thái.

Đường tới thành công

Theo lời kể cùa Nina Totenberg, cuối cùng, giáo sư bảo trợ Gerald Gunther đã kiếm được cho Ruth Ginsburg chức luật sư phụ tá với Thẩm phán Edmund Palmieri ở New York, với lời hứa nếu Ruth không làm được việc, ông sẽ thay thế bằng người khác. Theo Ruth Ginsburg, đây chỉ là “củ cà rốt”. Còn “cây gậy” là lời đe dọa đi kèm, nếu ông Toà Palmieri không chịu nhận Ruth, từ nay Giáo sư Gunther sẽ không bao giờ giới thiệu ai nữa. Kết quả là chức vị phụ tá thường chỉ có nhiệm kỳ là một năm, Ruth đã được giữ lại tới hai năm, từ 1959 đến 1961.

Chặng kế tiếp, Ruth Ginsburg được nhận cộng tác với Anders Bruzelius, một học giả chuyên về luật tranh tụng dân sự Thuỵ Điển (Swedish civil procedure) và cùng với ông này viết một cuốn sách, qua dự án của trường Luật Columbia về Luật Tố Tụng Quốc Tế. Ruth phải học tiếng Thuỵ Điển và sang nước này làm việc tại chỗ.

Trở về Mỹ, năm 1963, Ruth Ginsburg kiếm được chỗ dạy tại Rutgers Law School. Do kinh nghiệm quá khứ bị nhận việc xuống ngạch vì mang bầu, tại đây, cô giáo dạy luật 30 tuổi có lúc đã phải mượn áo mẹ chồng mặc để che cái bầu mới, đợi sau khi khế ước được tái tục mới cho lộ dạng. Bé trai ra đời sau chị Jane cả chục năm, trong thời gian này, bố bị ung thư dịch hoàn, rồi mẹ phải làm việc ở nước ngoài. Đứa con thứ nhì ra đời như một gói quà bất ngờ, và bác sĩ đã hỏi Ruth: Bà có thể cho biết cha đứa bé là ai? (Nhà báo Totenberg cho biết, James giống hệt bố Marty). Năm 1969, James bắt đầu học mẫu giáo, mẹ được thăng chức giáo sư chính thức tại Rudgers.

Từ đại học Rutgers, Ruth Ginsburg bắt đầu cuộc hành trình vận động bình đẳng nam nữ, bằng cách tình nguyện làm việc với A.C.L.U (Liên Đoàn Tự Do Dân Sự Mỹ  –  American Civil Liberties Union), và đồng sáng lập Dự Án Nữ Quyền (Woman’s Rights Project).

David nữ đấu Goliath nam

Trong một xã hội còn nặng đầu óc kỳ thị nam nữ, một người nữ nhỏ bé đơn độc như Ruth Ginsburg, làm thế nào để thắng đối phương là cả một tập thể nam giới khổng lồ? Nhất là trên lãnh vực pháp luật, nơi tất cả các cứ điểm quan trọng đều nằm trong tay nam giới. Văn kiện quan trọng nhất trong lãnh vực pháp luật là Hiến Pháp. Nhưng Hiến Pháp chỉ là một mớ chữ nghĩa câm nín, nhiều chỗ quá vắn tắt, khó hiểu hoặc lỗi thời.

Hiến Pháp áp dụng thế nào, là do giải thích của Tối cao Pháp viện. Cho đến thập niên 80 của thế kỷ 20, tất cả thành viên TCPV đều là nam giới, những người hầu hết thuộc giới thượng lưu. Thành phần chọn lọc này trưởng thành trong môi trường phụ nữ là người phục vụ. Từ người mẹ chiều con vì tình thương, vợ theo chồng vì bổn phận, và đầy tớ phục vụ chủ vì đồng lương. Đối với những ông lớn đẻ bọc điều này, họ không cảm thấy phụ nữ có nhu cầu bình đẳng. Khác biệt giữa vai trò nam nữ được coi như sự phân công tự nhiên do Thượng Đế an bài.

Đó là thực tế, còn trên lý thuyết, giáo sư sử học Harvard, Jill Lepore, viết trên tuần báo New Yorker, thì theo lập luận của các bậc khai quốc – như Thomas Jefferson – phụ nữ bị loại khỏi các vấn đề quốc sự từ đầu, chính là để bảo vệ họ, “for their own protection”. Để tránh thương tổn về đạo lý và các vấn đề mơ hồ khác, không nên để họ pha trộn với các phần tử tạp nhạp trong những cuộc tụ họp của đàn ông.

Dù Tu Chính Hiến Pháp 14 đã được phê chuẩn từ năm 1868, vào năm 1873, qua vụ kiện Myra Bradwell chống tiểu bang Illinois – do đã từ chối bà hành nghề luật – một Thẩm phán Tòa Tối cao đã giải thích rằng: “Sự rụt rè và mảnh mai tự nhiên của nữ giới chính là bằng chứng làm cho giới tính này bất khả với nhiều nghề nghiệp thuộc về cuộc sống dân sự”. (The natural and proper timidity and delicacy which belongs to the femal sex evidently unfits it for many of the occupations of civil life). Bà Ginsburg ví chuyện này như cái cũi bị nịnh hỡm là tượng thờ (a cage pretending to be a pedestal).

Hiến Pháp Mỹ nguyên thủy không hề nói tới bình đẳng nam nữ, bình đẳng hôn nhân hay giới tính. Mãi đến năm 1868, Tu Chính Án 14 mới có thêm một câu cuối điều 1: “No state may deny any person, under its government, equal protection of the law” (Không tiểu bang nào có thể phủ nhận bất cứ ai, dưới chính quyền mình, được luật pháp bảo vệ bình đẳng). Mấy chữ chót (do người viết tô đậm) quan trọng này, được gọi là “Equal Protection Clause”. Trong đó, cũng không có chữ nào nói rõ bình đẳng nam nữ. Khoản này, do ra đời sau Nội chiến Nam Bắc, nhiều người, tiêu biểu là Thẩm phán Tối cao liên bang Hugo Black, đã nghĩ rằng chỉ áp dụng cho bình đẳng chủng tộc. Phải đợi một trăm năm nữa, mới tới phiên Ruth tranh đấu để áp dụng cho bình đẳng nam nữ.

Một thế hệ sau Thế Chiến II, thế giới bùng lên cơn sốt vỡ da của giới trẻ vào năm 1968. Ở Mỹ, một phần do ảnh hưởng từ chiến tranh Việt Nam, ở Âu châu, chẳng dính gì tới cuộc chiến này, cũng làm cho người hùng Charles de Gaulle phải từ chức tổng thống Pháp vào năm 1969, sau những cuộc xuống đường liên tiếp của sinh viên và công nhân vào năm 1968. Nhu cầu bình đẳng chủng tộc và bình đẳng giới tính cũng dâng lên, nhờ làn sóng phản kháng này.

Trước trào lưu mới, năm 1971, Tổng Thống Nixon, một người không hề quan tâm tới nữ quyền, nếu không muốn nói là nặng đầu óc kỳ thị nữ giới, nhưng với ý định kiếm phiếu trong kỳ tái cử năm 1972, đã nghĩ đến chuyện đề cử một phụ nữ vào TCPV. Nhưng khi biết được ý định này, Chủ tịch TCPV Warren Burger đã đe dọa, nếu Nixon đề cử một phụ nữ, ông sẽ từ chức. Khi Hugo Black quyết định về hưu vào tháng 9/1971, sau 34 năm phục vụ, Nixon đã đề cử người thay thế thuộc phái nam: Lewis Powell, ông được chuẩn thuận ngày 7/12/1971, và bắt đầu nhậm chức từ 7/1/1972.

Trong khi ấy, Ruth Ginsburg bắt đầu cuộc vận động bình đẳng nam nữ, qua hợp tác với ACLU. Ngày 22/11/1971, trong khi cuộc điều trần về việc chuẩn thuận Lewis Powell còn đang diễn ra tại Thượng Viên, Ruth Ginsburg đã đạt được kết quả chấn động qua vụ kiện lịch sử, Reed v. Reed. Vụ này đã giúp Ruth Bader Ginsburg nổi tiếng, qua luận trạng (brief) đầu tiên trước Tối cao Pháp viện.

Vụ án xét xử cuộc tranh tụng giữa một cặp vợ chồng đã ly thân, chồng Cecil Reed và vợ Sally Reed. Cả hai cùng nộp đơn tại Toà Án Di Sản Quận Ada (Probate Court of Ada County), thuộc tiểu bang Idaho, đòi quyền được quản trị tài sản (ước tính vào khoảng 1000 đô la) của con nuôi, Richard Reed 19 tuổi, khi còn nhỏ ở với mẹ, đến tuổi thiếu niên ở với bố, đã tự tử bằng súng của bố, không để lại di chúc.

Toà Di Sản căn cứ vào luật Idaho, liệt kệ 11 hạng người được quyền quản trị tài sản người quá cố không để lại di chúc. Ưu tiên 1 là vợ hay chồng còn sống. Ưu tiên 2 là con cái. Ưu tiên 3 là cha hay mẹ. “Cha hay mẹ”. nghĩa là cha mẹ có quyền ngang nhau. Nhưng luật còn quy định: “Nam giới phải được hơn nữ giới” (“males must be preferred to females”) trong việc chọn người quản trị di sản. Do đấy, toà đã cho Cecil Reed được quyền này.

Sau nhiều lần xử và kháng án, từ Toà Tối cao Tiểu bang, cuối cùng, lên tới Tối cao Pháp viện Liên bang. Tại đây, Ruth Bader Ginsburg và các cộng sự từ Liên Đoàn Tự Do Dân Sự Mỹ (ACLU), đã lập luận rằng, Equal Protection Clause bảo vệ quyền lợi của “mọi người”. nghĩa là không phân biệt nam nữ. Luật Idaho quy định “phái nam phải được hơn phái nữ”, rõ ràng đã vi phạm Tu chính 14.

Tối cao Pháp viện chấp nhận quan điểm này, ra phán quyết lần đầu tiên qua vụ Reed v. Reed, rằng Equal Protection Clause của Tu Chính Hiến Pháp 14 cấm không được phân biệt đối xử dựa trên phái tính. Đây là sự kiện lịch sử làm thay đổi hẳn phạm vi áp dụng Tu Chính 14. Từ chỗ chỉ bảo vệ quyền bình đẳng dựa trên chủng tộc, từ đây, bao gồm cả bình đẳng giới tính. Chính Chủ tịch Burger đã dựa trên quan điểm trong luận trạng của Ruth Ginsburg, khi viết phán quyết chính của TCPV, đại diện cho toàn thể các thẩm phán khác. Theo Jill Lepore, vài năm sau, đối diện với Ruth Bader Ginsburg trong một vụ kiện khác, Chủ tịch Burger đã bối rối, không biết phải xưng hô thế nào cho đúng: “Bà Bader, hay Bà Ginsburg?”

Từ năm 1972, không riêng Idaho, các nơi khác đều đã phải sửa lại tất cả luật lệ hiển nhiên không phù hợp với Tu Chính 14.

Vụ kế tiếp mang tên Charles Moritz chống sở thuế (Charles Moritz v. Commissioner of IRS), diễn ra vào năm 1972. Moritz xin được trừ thuế về khoản chi phí dành cho việc săn sóc mẹ già 89 tuổi. IRS không chịu, vì theo luật, chỉ có phụ nữ, đàn ông goá vợ hay đã ly dị, mới được hưởng khoản khấu trừ này. Vì Moritz còn độc thân, không đủ điều kiện.

Đầu đuôi câu truyện khá dài dòng để trình bày đầy đủ trong khuôn khổ một bài báo. Vụ này, cả hai vợ chồng Ginsburg cãi chung ở toà dưới, chồng phụ trách phần thuế vụ, vợ tranh cãi về quyền bình đẳng theo hiến pháp. Có thể tóm tắt là, bà Ginsburg đã dựa vào Equal Protection Clause để biện luận rằng, luật thuế đã vi phạm Hiến Pháp khi trọng nữ khinh nam.

Bà không tranh đấu cho quyền lợi phụ nữ đưa đến thiệt hại cho phái nam. Ngược lại, bà dựa vào Equal Protection Clause, để đòi cho phái nam được bình đẳng quyền lợi với phái nữ. Bà đã thắng kiện, kết quả vụ án trở thành tiền lệ, áp dụng Tu Chính 14 HP trong việc bảo vệ bình đẳng quyền lợi cho cả hai giới nam và nữ. Nhờ vụ này, hàng trăm luật lệ thuế vụ đã phải sửa đổi để khỏi vi hiến. Từ gần nửa thế kỷ nay, biết bao người được hưởng lợi mà không biết đến công lao của bà Ginsburg.

Vụ án ưng ý nhất

Trên đây mới chỉ là vài thắng lợi bước đầu. Tuy vậy cũng đã giúp Ruth Ginsburg nổi tiếng đủ để trở thành nữ giáo sư chính thức đầu tiên tại trường Luật Columbia. Theo mô tả trong cuốn sách nổi tiếng về cuộc đời của bà: Notorious R.B.G.: The Life and Times of Ruth Bader Ginsburg, của Irin Carmon Shana Knizhnik, xuất bản năm 2015, và do vai chính trong vụ kiện là Stephen Wiesenfeld, kể lại trên New York Post, sau khi bà qua đời, vụ kiện bà ưng ý nhất là vụ bắt đầu từ năm 1972 ở New Jersey, đến năm 1975 kết thúc với thắng lớn ở TCPV.

Bà ưng ý nhất vụ này, vì nó diễn ra từ đầu đến cuối hoàn toàn phù hợp với kế hoạch và tính toán của bà. Nói cho dễ hiểu, đây là chiêu “gậy ông đập lưng ông”. Dùng quyền lợi của phái nam, để thuyết phục phái nam chấp nhận bình đẳng nam nữ. Trong vụ này, không phải thân chủ đi kiếm luật sư. Ngược lại, luật sư đi tìm thân chủ.

Tại New Jersey, tháng 12 năm 1972, Stephen Wiesenfeld viết cho một tờ báo địa phương, kể lể hoàn cảnh éo le của mình: Nửa năm trước, Paula, vợ anh, qua đời khi sinh con. Mẹ chết, con sống. Paula từng là cô giáo, mỗi kỳ lương đều đóng góp đầy đủ vào quỹ An Sinh Xã Hội, như mọi người đi làm, không phân biệt nam nữ. Lâm cảnh gà trống nuôi con, Stephen nạp đơn, xin hưởng khoản lợi tức An Sinh Xã Hội (Social Security benefit) của vợ, lúc ấy là 206 đô la mỗi tháng (tương đương 1000 đô la bây giờ), để có thể ở nhà nuôi bé Jason. Yêu cầu của Stephen bị bác, vì theo luật An Sinh Xã Hội thời ấy, chỉ có vợ goá được hưởng phần lợi tức của chồng. Goá vợ không được lãnh phần của vợ.

Đọc được thư ngỏ này trên báo, RBG như trúng mối, liên lạc ngay với Stephen. Tháng 2/1973, bà thay mặt Stephen nộp đơn kiện tại toà liên bang ở Trenton, New Jersey, với dự tính, dù bên nào thua, cũng sẽ kháng cáo lên Toà Tối cao tiểu bang, và cuối cùng, lên TCPV liên bang. Nếu thắng ở đấy, sẽ trở thành vụ án lịch sử, có ảnh hưởng đến mọi người.

Đúng như tiên liệu, ba thẩm phán Toà Tối cao New Jersey đã xử cho Stephen thắng, và chính quyền liên bang kháng án lên TCPV.

Phiên xử của TCPV vào tháng 1/1975, chỉ có 8 Thẩm phán Tối cao hiện diện, William O. Douglas vắng mặt vì ốm. Dù không bắt buộc sự có mặt của nguyên đơn, lần duy nhất trong các vụ kiện tham dự tại TCPV, bà Ginsburg đã xếp đặt để Stephen ngồi trước mặt 8 thẩm phán nam giới, để các vị này tự mình thấy rằng, bất bình đẳng nam nữ gây thiệt hại cho cả phái nam là chuyện thật trước mắt, không phải chỉ trên lý thuyết.

Qua luận trạng (brief), RBG nhấn mạnh, đại ý: Nội dung vụ kiện chứng tỏ luật lệ trong nước từ trước tới nay phản ảnh quan niệm người phụ nữ phụ thuộc vào chồng, nên khi chồng chết, được hưởng quyền lợi từ chồng. Chồng không phụ thuộc vợ, nên khi goá vợ, không được hưởng quyền lợi từ vợ. Rồi từ đây, RBG lý luận rằng, sự bất bình đẳng nam nữ trong luật, chẳng những riêng người chồng bị thiệt, cả đứa con cũng bị đối xử bất công. Nếu bố chết, được hưởng quyền lợi từ bố qua mẹ. Nếu mẹ chết, không được bố săn sóc nhờ quyền lợi từ mẹ. Cãi xong, về nhà đợi kết quả. TCPV không có lệ ra phán quyết ngay.

Stephen và Jason năm 1975. Nguồn: Stephen Wiesenfeld

Ngày 19/3/1975, bốn ngày sau sinh nhật thứ 43, trên xa lộ New Jersey tới Columbia, RBG sửng sốt qua tin radio trên xe. Bà vội tấp vào bên đường, tìm điện thoại công cộng, thời ấy chưa có cell phone, gọi báo cho Stephen biết kết quả vụ kiện, thắng lớn không ngờ, 8-0. Thời Warren Burger là Chủ tịch, TCPV còn rất bảo thủ. Ngay cả Thẩm phán Rehnquist, người vẫn còn dè dặt với nữ quyền, đã cho biết ông bỏ phiếu đồng thuận với đa số, để bãi bỏ luật làm thiệt hại tới trẻ em. Quá xúc động, trên đường tiếp tục tới trường, RBG đã phải cố bình tĩnh, để tránh gây tai nạn. Khi tới Columbia, Ruth chạy trên hành lang nhà trường, tìm ôm hôn báo tin mừng cho các sinh viên đã cộng tác với mình.

Vụ kiện này, mang tên Weinberger v. Wiesenfeld, đã trở thành sự kiện lịch sử. RBG nổi tiếng khắp nước, được nhiều người coi bà như tiêu biểu trong lãnh vực giải phóng phụ nữ. Ruth Bader Ginsburg không chịu, nói rằng, “Không phải là giải phóng phụ nữ, mà giải phóng cả nam và nữ”. (It is not women’s liberation; it is women’s and men’s liberation).

(Xin xem tiếp phần 2)

______

[1] TS: Judicial law clerk (assistant de justice), là chức vị của một luật sư đã tốt nghiệp trường luật và, trong đa số trường hợp, cũng đã đậu bằng hành nghề luật sư, được chọn làm phụ tá cho một thẩm phán tòa án liên bang hoặc tiểu bang, giữ việc tra cứu luật pháp, phác thảo hoặc biên tập các tài liệu liên hệ đến những phán quyết của vị thẩm phán đã chọn họ. Đây là một chức vị chọn lọc vì người được nhận làm phụ tá thẩm phán phải có kiến thức sâu rộng về luật pháp và khả năng lý luận sắc bén. Nên tránh lầm lẫn law clerk với legal clerk. Legal clerk là thư ký tòa án giữ công việc sắp xếp hồ sơ, thi hành các thủ tục giấy tờ, làm việc đóng dấu, niêm yết v.v…, nhưng không có kiến thức hoặc kinh nghiệm huấn luyện của một luật sư.

Nguồn : https://baotiengdan.com/2020/10/05/ruth-bader-ginsburg-nguoi-nho-be-vi-dai-phan-1/

Những mái nhà ‘trường tồn’ 40 tấn làm từ rong biển ở Đan Mạch

26 tháng 8 2020

Ở Læsø (Laesoe, viết theo ký tự Latin), những ngôi nhà phủ lá tranh từ búi rong biển nặng màu bạc, là thứ có thể trở thành vật liệu xây dựng hiện đại khắp thế giới. 

Trong hầu như suốt mùa hè trên hòn đảo Læsø ở Đan Mạch, bạn sẽ thấy ông Henning Johansen bận rộn làm việc.

Là dân đảo, Johansen làm nghề lợp mái nhà. Nhưng ở đảo Læsø, công việc của thợ lợp mái nhà không giống ở bất cứ nơi đâu. 

Nằm cách bờ biển Jutland 19km về phía đông bắc, hòn đảo xuất hiện trong thần thoại Bắc Âu này là nhà của người khổng lồ Ægir (Aegir, tức là Biển). 

Nơi đây có nhiều xác tàu đắm vòng quanh đảo, và được nhắc tên trong lịch sử hàng hải Đan Mạch. 

Tuy nhiên, đặc tính độc đáo nhất của hòn đảo Læsø lại là những ngôi nhà trên đảo, lớp mái bằng những bó rong biển màu bạc nặng và dày. 

Rong biển được dùng làm mái nhà trên đảo Læsø từ Thế kỷ 17 và nổi tiếng độc đáo trên hòn đảo, dù rằng mái nhà làm từ rong biển sau đó cũng xuất hiện ở Quần đảo Orkney của Scotland. 

Læsø, nơi có nghề làm muối phát triển, đã rơi vào tình trạng bị mất rừng – cây cối bị đốt sạch dùng cho lò nung muối – vì vậy dân đảo cần tìm ra chất liệu thay thế để lợp mái nhà. 

Bản thân hòn đảo là nơi khan hiếm tài nguyên, đa số là các bãi bùn và bờ cát, vốn rất khó khai thác, vì vậy dân đảo bắt đầu để mắt đến ngoài biển. 

Gỗ trôi nổi vớt từ tàu đắm có thể dùng làm gỗ dựng nhà, và loại rong lươn mọc đầy (tên khoa học là zostera marina) mà người ta vớt lên từ bờ biển có thể được dùng để lợp mái. 

Cho đến đầu Thế kỷ 20, hầu hết nhà của cư dân trên đảo được lợp mái bằng rong biển. Nhưng sau khi một căn bệnh nấm tiêu diệt sạch hầu hết rong lươn vào thập niên 1920, kiến thức về kỹ thuật lợp nhà dần mai một. Ngày nay chỉ còn 36 ngôi nhà lợp bằng mái rong biển còn tồn tại trên hòn đảo 1.800 dân. 

Từ năm 2012, Johansen đã làm hồi sinh kỹ năng này khi ông thay mái nhà, ông là người đầu tiên trong thế hệ ông làm việc đó. 

“Đó là một trong những phần vĩ đại nhất trong lịch sử đảo Læsø, vì vậy nó rất quan trọng với hòn đảo,” ông nói với tôi qua điện thoại khi đang lợp mái cho một căn nhà. 

“Trước kia thì đó là việc của phụ nữ,” ông cho biết thêm, giải thích rằng vì hầu hết đàn ông trên đảo đều làm nghề đi biển, nên phụ nữ ở nhà phải trông coi nông trại, nhà cửa. 

“Họ đơn độc trên đảo và phải tự chăm sóc bản thân. Họ tìm ra cách làm những mái nhà này, và chúng không có ở bất cứ nơi nào khác trên thế giới. Vì vậy, dĩ nhiên chúng tôi rất tự hào về di sản.” 

GETTY IMAGES Rong lươn là vật liệu xây dựng trung hòa carbon khi người ta thu hoạch và dùng trên đảo

Rong lươn là vật liệu xây dựng trung hòa carbon khi người ta thu hoạch và dùng trên đảo

Khoảng 40 đến 50 phụ nữ thường cùng nhau lợp một cái mái. Họ thu hoạch rong biển sau những đợt bão mùa thu, tãi chúng trên đồng phơi khô trong khoảng sáu tháng, bước này giúp loại bỏ vi tảo và khiến rong biển không bị thối rữa. 

Khi bắt tay vào xây dựng, họ lấy rong lươn, trông gần giống như sợi len, vặn xoắn chúng thành các bó lớn (gọi là vasks), rồi cột chúng vào xà nhà để làm phần lót bên dưới. 

Sau đó, người ta sẽ tiếp tục chất thêm các lớp rong biển lên trên lớp ban đầu và trét than bùn cho các lớp kết dính với nhau: một mái nhà trung bình dày khoảng 1m và nặng khoảng 35 đến 40 tấn. 

Những phụ nữ này sau đó sẽ đem ghế lên mái vừa làm xong, họ ngồi đó và nhìn về phía đường chân trời không một bóng cây xem những xác tàu đắm (biết đâu có cơ hội vớt được gì) và đi xung quanh, thậm chí khiêu vũ trên lớp rong biển để chúng được ép chặt vào nhau. 

Johansen cho biết họ có thể lợp được một mái nhà trong một ngày. 

Với đội thợ lợp mái gồm năm người của mình, ông thường tốn khoảng 21 ngày. “Vì tôi không có 50 phụ nữ.” 

Nhưng Johansen tìm cách làm hồi sinh kỹ thuật lợp nhà bằng rong biển này không chỉ vì mục đích bảo tồn. “[Rong lươn] là vật liệu rất thú vị,” ông kể, “vì nó không cháy, có quá nhiều muối đọng trong cuộng.” 

GETTY IMAGES Chụp lại hình ảnh, Một mái nhà trung bình dày hơn 1m và nặng từ 35-40 tấn

Một mái nhà trung bình dày hơn 1m và nặng từ 35-40 tấn

Dù rong lươn thường được coi là một loại “rong biển”, nhưng thực ra nó là một loại cỏ biển, với lá có thể mọc dài đến 2m. 

Người ta có thể tìm thấy rong lươn khắp thế giới, tuy phần lớn loại rọng này tập trung ở Bắc Bán cầu. 

Rong lươn không chỉ có đặc tính tự nhiên là chống cháy, chống rữa nát và chống côn trùng, mà nó còn hấp thụ CO2, và vì người ta không cần dùng đến nhiệt độ cao để xử lý nó trước khi đem ra dùng, cho nên nó là vật liệu trung hòa carbon khi thu hoạch và sử dụng tại chỗ. 

Rong lươn trở nên hoàn toàn chống nước sau khoảng một năm và có tính cách nhiệt không thua gì bông khoáng, một loại chất liệu xơ dày làm từ sợi thủy tinh nóng chảy, đá hay chất thải công nghiệp. 

Một mái nhà có thể tồn tại hàng trăm năm – một trong những mái nhà rong biển còn tồn tại trên đảo có tuổi thọ đã hơn 300 năm – nếu đem ra so sánh thì mái nhà gạch ngói bê tông thường tồn tại khoảng 50 năm. 

Sự kết hợp giữa tính chất bền vững và di sản này đã lọt vào mắt kiến trúc sư người Mỹ sống ở Copenhagen, Kathryn Larsen, người đang nghiên cứu cách lợp mái rong biển truyền thống trên đảo Læsø có thể được cải tiến để ứng dụng vào những loại vật liệu xây dựng bền vững đương đại trên thế giới. 

Khi học tại Trường Thiết kế và Công nghệ Copenhagen KEA, luận án của Larsen tập trung vào mái nhà rong biển ở đảo Læsø, là chủ đề có ít tài liệu trong tiếng Anh. 

“Nó trở thành bí ẩn lớn với tôi vì hầu hết thông tin viết bằng tiếng Đan Mạch,” bà kể lại. “Tôi đã thực sự bị nó hu hút trong vài năm: Tôi học thêm tiếng Đan Mạch và sau đó có thể tìm hiểu thêm về nó và trở đi trở lại chủ đề này. Nó trở thành thôi thúc thực sự.” 

GETTY IMAGES Vì đảo Læsø có ít tài nguyên, dân đảo đã để mắt nhìn ra biển tìm kiếm vật liệu xây dựng

Vì đảo Læsø có ít tài nguyên, dân đảo đã để mắt nhìn ra biển tìm kiếm vật liệu xây dựng

Sau khi biết trường của bà có nguồn cung cấp rong lươn từ những nhà nông địa phương chuyên cung cấp rong biển, Larsen bắt đầu thử nghiệm “cho vui”. 

Bà phát triển các tấm đúc sẵn sử dụng trên mặt tiền nhà và mái nhà để làm lớp cách nhiệt bền vững gia cố thêm vào chất liệu cách nhiệt chính, và bà lắp đặt các tấm này trên mái của trường để xem rong lươn sẽ phản ứng ra sao với các yếu tố khác theo thời gian. 

Tuy nhiên, sau đó bà sớm nhận ra bà cần phải lắp đặt ở nơi nào đó công cộng hơn. “Rất nhiều người thực sự nghi ngờ,” bà chia sẻ về việc sử dụng rong lươn. 

Vào cuối năm 2019, bà bắt đầu thực hiện dự án Hàng hiên Rong biển (The Seaweed Pavilion), một công trình kết hợp các tấm rong biển vào cấu trúc gỗ trong sân trường KEA. 

“Tôi muốn mọi người ngồi bên dưới chúng và tự trải nghiệm trực tiếp. Mọi người luôn ngạc nhiên khi họ nghĩ nó hẳn sẽ bốc mùi hoặc nhớp nháp, vì vậy khi có nhiều tương tác tích cực với chúng, tôi hy vọng sẽ thay đổi định kiến đó.” 

“Điều mà tôi thực sự muốn truyền đạt, đó là đây là cách lắp đặt tự nhiên rất tốt,” bà chia sẻ, và giải thích rằng với vật liệu này, bạn sẽ không cần đến lớp chống ẩm, vốn không thông khí. 

“Bạn có thể sử dụng rất nhiều chất liệu này mà không khí vẫn thông thoáng qua tòa nhà, không bị bí ở bên trong, vì vậy toàn bộ công trình có thể thở và không khí đạt chất lượng tốt hơn nhiều.” 

Mái nhà làm từ rong lươn có thể tồn tại hàng trăm năm

Larsen muốn thay đổi cách nhìn nhận của ngành công nghiệp xây dựng đối với các kỹ thuật cũ, vốn không chỉ “tốt hơn cho môi trường nhờ vào việc sử dụng các tài nguyên tự nhiên tái tạo, mà còn có thể xây nên những công trình lành mạnh hơn cho chúng ta. Về căn bản, ta đã tìm ra, [sau đó] ta lại mất tất cả những kiến thức này và [giờ đây] ta đang giam mình vào một cái hố to hơn, nơi mà chất lượng không khí trong các tòa nhà ngày càng tệ hại.” 

Vì rong lươn mọc khắp thế giới, bà thấy có rất nhiều tiềm năng trong việc việc biến chúng thành vật liệu xây dựng bền vững trên toàn cầu, “miễn là người ta thu hoạch và sử dụng chúng tại chỗ”. 

Rong lươn mà bà sử dụng ở Hàng hiên Rong biển là do Kurt Schierup thu hoạch và chế biến. Ông dùng kỹ thuật thu hoạch và phơi khô mà những phụ nữ trên đảo Læsø sử dụng, tuy ông dùng máy móc chứ không làm thủ công. 

Và dù ông mới thành lập công ty thu hoạch rong lươn, Møn Tang, vào năm 2016, nhưng Schierup đã làm việc này từ thời thơ ấu những thập niên 1950 trên hòn đảo Tærø (Taeroe, viết theo ký tự Latin) ở Đan Mạch, nơi rong lươn được xuất khẩu ra quốc tế để làm vỏ nệm ghế, cách nhiệt và làm chiếu. Chỉ riêng điều nhỏ bé này trong lịch sử đã cho thấy rõ rệt việc chất liệu rong lươn từng phổ biến ra sao. 

“Khi tôi còn bé, hồi 50 năm về trước,” Johansen kể, “mọi người đều ngủ dưới mái nhà rong lươn ở Đan Mạch. Nhưng rồi nhựa xuất hiện, rất rẻ. Vì vậy, trong 50 năm tất cả kiến thức về rong lươn đã biến mất.” 

Ở đảo Læsø, Johansen vẫn còn phải thay 10 mái nhà nữa. Đó là dự án dài hơi, nhưng là dự án ông nói ông không muốn hoàn thành “vì kể cho bạn nghe lịch sử sẽ dễ dàng hơn khi bạn đến và xem tôi sửa những ngôi nhà cũ.” 

Du khách đến đảo Læsø được mời đến tham quan ông làm việc vào các ngày trong tuần vào mùa hè, ở đây họ có thể được xem trực tiếp “cách nó vận hành, chất liệu và nó thú vị ra sao”. 

Ông nói rong lươn là một phần di sản thế giới. “Bạn có thể đến Læsø và tôi có thể cho bạn xem lịch sử của chính bạn từ đất nước của bạn” vì nó từng được sử dụng phổ biến khắp thế giới – từ Biển Wadden của Hà Lan nơi nó được dùng để xây các kè ven biển đến vùng New England nơi người ta cách nhiệt nhà bằng các tấm cách nhiệt và cách âm Cabot’s Quilt làm từ rong lươn khô. 

“Nó có lịch sử đồ sộ, vốn đã bị quên lãng nhanh chóng và giờ đây tôi bắt đầu kể lại câu chuyện đó. Thật dễ dàng khi kể câu chuyện khi bạn đứng cạnh một mái nhà cực kỳ cũ kỹ, nhìn lên nó và người ta nói ‘đúng là một chất liệu buồn cười’.” 

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Theo BBC

Luxembourg, thành phố gây bất ngờ bậc nhất châu Âu

BBC

Những ánh lửa vàng nhảy múa bập bùng xung quanh quầy bar dọc theo một dải hẹp những chai rượu whisky. 

Một lúc sau, nhân viên pha chế rượu (bartender) xăm trổ mặc chiếc áo nịt có in hình con báo trèo lên mặt bàn gỗ và bắt đầu lắc lư theo những nhịp điệu mạnh mẽ của giai điệu Back in Black của nhóm AC/DC. Những động tác của cô thu hút mọi ánh mắt bên trong căn phòng nhộn nhịp. 

Đó là đêm thứ Bảy tại quán bar Rock Box ồn ào và thất thường ở khu Rives de Clausen của Luxembourg, một quận sản xuất bia từ thế kỷ 12 được xây dựng lại thành một khu giải trí. 

Một trong điều mà tôi lầm tưởng trước giờ về thành phố lôi cuốn này đã tan thành mây khói.

‘Gibraltar phương Bắc’

Chán ngắt. Tẻ nhạt. Một thị trấn ma vào cuối tuần. Tôi đã đọc được ở đâu đó những bình luận này. 

Ít khi được đề cập đến trong các sách hướng dẫn du lịch châu Âu và dường như là nơi của giới công chức mặc com-lê, mang giày chỉn chu thỉnh thoảng xuất hiện trên các kênh tin tức địa phương, thành phố có vẻ giống một trung tâm tài chính kiểu Frankfurt, nơi người ta chỉ biết làm việc và làm việc, không chơi bời gì hết. 

GETTY IMAGES

Tôi đã không kỳ vọng nhiều lắm. Nhưng không chỉ có buổi tối điên cuồng đó mới khiến tôi suy nghĩ lại về thành phố độc đáo này.

Mười hai giờ trước đó, tôi đã dành buổi sáng đầu tiên ở thủ đô của Luxembourg để đi bộ dọc theo Chemin de la Corniche, một lối đi dạo mang đến một cái nhìn toàn cảnh về địa hình sống động của Thành phố Luxembourg. 

Cảnh quan hùng vĩ, nhiều tầng của thành phố, hoàn chỉnh với những hẻm núi sâu và những con đường ngoằn ngoèo giữa những tán cây rậm rạp và vách đá dựng đứng, tạo thành một bức tranh toàn cảnh cuốn hút.

Được nhà văn Luxembourg có tầm ảnh hưởng Batty Weber mô tả là ‘ban công đẹp nhất châu Âu’, con đường đi dạo nhìn ra những mái nhà quanh co của khu phố Grund nằm dưới thấp, dòng sông Alzette ngoằn ngoèo và ngọn tháp cô độc của Nhà thờ Saint-Jean-du-Grund. 

Ở phía tây là Bock Casemates đồ sộ, một pháo đài tự nhiên được tạc trên mặt vách đá vốn đã trở thành một trong những thành trì chiến lược nhất của châu Âu vào thế kỷ 17. 

Mang lại cho thành phố Luxembourg biệt danh ‘Gibraltar phương Bắc’, những công trình này đã được Unesco vinh danh là Di sản Thế giới vào năm 1994. Khung cảnh trở nên hoàn chỉnh với những cây cầu xa xa, cầu tháp cao và những ngọn đồi xanh mướt đổ xuống.

Thành phố của những thung lũng, cao nguyên và đường đi dạo này đã thu hút sự chú ý của tôi, nhưng, giống như nhiều người, tôi vẫn biết rất ít về Luxembourg – có lẽ là một điều lạ lùng khi nói về một trong những đất nước thịnh vượng nhất châu Âu.

Kinh tế năng động

Luxembourg City được coi là một trong những thủ đô nên thơ nhất ở châu Âu

Luxembourg City được coi là một trong những thủ đô nên thơ nhất ở châu Âu

Sau sự sa sút của ngành thép vào thập niên 1970, đất nước này buộc phải đa dạng hóa nền kinh tế và tập trung một cách khôn ngoan vào dịch vụ. 

Giờ đây, với GDP đầu người cao nhất EU, Luxembourg đã trở thành một địa điểm hết sức hấp dẫn để kinh doanh, nhờ cơ cấu thuế thuận lợi, chính phủ ổn định và nằm gần các trung tâm tài chính lớn khác của châu Âu. 

Là nơi đặt văn phòng của một số công ty lớn nhất thế giới, thủ đô của Luxembourg đã trở thành tâm điểm của trung tâm kinh tế năng động này.

Sự năng động đó đã lên tít báo toàn cầu vào đầu năm nay khi, hồi tháng Ba, Luxembourg trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới phục vụ giao thông công cộng miễn phí trên cả nước. 

Mặc dù chủ yếu là nỗ lực giải quyết nạn kẹt xe của Thành phố Luxembourg, nhưng đó là một bước đi táo bạo và là đặc trưng cho hướng đi của thành phố. 

Bên cạnh việc thân thiện với môi trường, việc này cũng có nghĩa là du khách có thể di chuyển nhanh chóng từ sân bay đến trung tâm thành phố trên mạng lưới xe điện hiện đại mà không tốn tiền và không phải loay hoay tìm cho đúng tờ tiền.

Nhưng giống như tôi, Amanda Roberts, cựu luật sư và hiện là tổng biên tập của sách hướng tiếng Anh về Luxembourg ‘City Savvy Luxembourg’, biết rất ít về thành phố này khi bà đến đây lần đầu tiên, trước khi có lời đề nghị chuyển đi khỏi nơi ở của bà lúc đó là Brussels. 

“Khi đang học thạc sĩ, tôi đã thực hiện một chuyến đi cho tòa án đến Luxembourg. Tôi đã dành nửa ngày ở đây và nó trông thật buồn chán,” bà nói với tôi. “Tôi không biết gì hết và thật sự là tôi từ chối chuyển đến đây.”

GETTY IMAGES Với mức GDP cao nhất trong khối EU, Luxembourg đã trở thành địa điểm kinh doanh hấp dẫn

Với mức GDP cao nhất trong khối EU, Luxembourg đã trở thành địa điểm kinh doanh hấp dẫn

Đó là tám năm trước, và kể từ đó thành phố (và đất nước) đã vận động để thông báo cho mọi người về bản chất cởi mở và tư duy hướng về phía trước. 

Các sáng kiến như Wi-Fi miễn phí toàn thành phố và kế hoạch hành động vì môi trường hiện đại đã báo hiệu tham vọng Thế kỷ 21 của Thành phố Luxembourg. Đất nước nhỏ bé này cũng tự hào với chênh lệch trả lương theo giới thấp thứ hai ở châu Âu.

Tuy nhiên, Roberts không phải là người đầu tiên cảm thấy xao động khi chuyển đến thành phố. 

“Thực lòng tôi không nghĩ mình có thể tìm thấy nó trên bản đồ,” Martin Jonsson, một người Thụy Điển đã sống ở thành phố Luxembourg được bốn năm, cười nói. Jonsson đã sớm nhận thấy cuộc trao đổi ‘nhàm chán’ trong cộng đồng người nước ngoài khá đông trên mạng. 

“Rất nhiều người đến từ London, Paris và những đô thị khổng lồ, và sau đó nếu họ đem so sánh những thành phố đó với Luxembourg thì sẽ là điều không thực tế. Tôi nghĩ bạn chỉ cần chủ động hơn 10% ở đây,” ông giải thích.

Văn hóa đa dạng

Và nhiều người trẻ tuổi của Luxembourg thấy tự hào về diện mạo của thành phố trong những năm gần đây. 

“Tôi nghĩ nó bị đánh giá rất thấp,” Claudia Zaunz, sinh viên và là công dân Luxembourg vốn cũng dạy tiếng Luxembourg cho những người nói tiếng Anh, nói. “Đó là một thành phố xinh đẹp có lịch sử, văn hóa, đời sống về đêm và những nhà hàng ngon. Đó cũng là nơi chấp nhận bất kỳ ai từ bất cứ nơi đâu,” cô nói thêm. “Bạn là ai hay bạn có ngoại hình như thế nào không quan trọng, bạn sẽ luôn được chào đón ở đây.”

Với tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng Luxembourg đều được công nhận là ngôn ngữ chính thức, hiện trạng ngôn ngữ đa dạng và cơ hội việc làm dồi dào đã khiến thủ đô nước này trở thành nam châm thu hút giới trẻ có bằng cấp trên khắp lục địa. 

Và bởi tiếng Anh là ngôn ngữ bổ sung nổi bật, được chấp nhận sử dụng ở nhiều công ty, phạm vi vươn xa của Luxembourg đã lan rộng ra toàn cầu.

GETTY IMAGES

Trên thực tế, mặc dù Thành phố Luxembourg chỉ có dân số khoảng 120.000 người, nhưng hơn 70% cư dân thành phố lại không phải là công dân Luxembourg mà là người đến từ 168 quốc gia khác nhau. Điều này khiến cho nó trở thành một thành phố hết sức đa dạng, và có sự pha trộn của các nền văn hóa này. 

Một phần đáng kể lực lượng lao động của thành phố đến từ các quốc gia lân cận, điều này có nghĩa là trung tâm thành phố rõ ràng là ít nhộn nhịp hơn vào các buổi tối và cuối tuần. 

“Đó là một vấn đề lớn,” Sebastian Redekker, giám đốc điều hành của Visit Luxembourg, cho biết. 

“Tạo động lực cho mọi người khám phá nơi họ làm việc là một phần trong chiến dịch của chúng tôi,” ông nói với tôi. “Cảm giác ở thành phố khá đặc biệt. Nó không hề nhàm chán chút nào nếu nói về ẩm thực và văn hóa.”

Ẩm thực phong phú

Với một số món ăn truyền thống thịnh soạn nhưng phong phú, nền ẩm thực của nước này về mặt lịch sử là sự phản ánh lạ lùng của vị trí địa lý của nó ở trung tâm châu Âu. 

‘Ẩm thực Pháp với sự pha trộn của Đức’ là nhãn hiệu châm biếm vốn không hoàn toàn là kém chính xác, nhưng thành phố này hiện có một loạt các nhà hàng cao cấp, phản ánh sự đa dạng văn hóa rộng lớn của thủ đô, từ Ý, Hy Lạp và Bồ Đào Nha đến Bangladesh, Ấn Độ và Nhật Bản.

GETTY IMAGES

Một trong những câu chuyện thành công lớn nhất của thành phố trong những năm gần đây là Chiche!, một nhà hàng Trung Đông phát đạt có lẽ tóm gọn tốt nhất sự năng động và đa dạng của thủ đô. 

Bếp trưởng người Syria Chadi đã thuê các đầu bếp từ Iraq, Afghanistan, Somalia và các nước khác nữa, tạo cơ hội cho các đầu bếp từ nước ngoài hòa nhập vào cuộc sống Luxembourg bằng cách cho họ những công việc có ý nghĩa, giúp tài năng họ tỏa sáng. 

Khởi đầu như một nhà hàng tự phát vào năm 2015 và hiện mở rộng thành hai nhà hàng hoàn chỉnh, đó là câu chuyện khác thường ở một thành phố nhỏ nhưng cởi mở và năng động không ngừng.

“Có rất nhiều cơ hội để mang thứ gì đó từ đất nước của bạn vốn chưa tồn tại hoặc tạo ra một cái gì đó mới mẻ,” Roberts nói. Không tệ đối với một thành phố tẻ nhạt khó tìm thấy trên bản đồ.

“Lúc đầu, tôi nói là ‘không đời nào tôi chuyển đến Luxembourg’,” bà cười và nhìn lại. “Lúc đó tôi thật sự dứt khoát không chuyển đến và bây giờ thật buồn cười vì tôi sẽ không bao giờ ra đi.”

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC Travel.

Nguồn : https://www.bbc.com/vietnamese/vert-tra-54370798

Người Việt ở Mỹ phản ứng về sự kiện TT Trump nhiễm Covid-19

Sự kiện Tổng thống Trump nhiễm Covid-19 là một chấn động lớn cho cả nước Mỹ, đặc biệt là cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ. Hầu như ai cũng có ý kiến về sự kiện này. 

Theo khảo sát của AAPI, có 48% người Việt ủng hộ Trump và 36% chống. Mặc dù hầu hết không ai thay đổi khuynh hướng ủng hộ, nhưng nó tạo ra một cường độ tăng cao cho những người chống Trump, và những người ủng hộ làm nhẹ vấn đề Trump bị nhiễm. 

Cử tri lớn tuổi nghĩ gì về tin Tổng thống Donald Trump nhiễm Covid-19? 

Covid gây nguy hiểm tới đâu cho sức khoẻ ông Trump?

Tổng thống Donald Trump nhập viện để điều trị Covid-19

Về phía ủng hộ Tổng thống Trump, ban đầu khi nhận được tin, họ có nhiều cảm giác khác nhau: khóc, hụt hẫng, sợ hãi, bàng hoàng, không tin, cho đây là thuyết âm mưu. 

Chị Janelle Từ chia sẻ: “Kinh ngạc và lo âu.”

Có người nghĩ Tổng thống Trump bị cài, có người nghĩ ông bày binh bố trận để đánh trận cuối cùng, có người cho là có người cố tình làm Tổng thống Trump và nhiều người trong phe Cộng hòa nhiễm bịnh, vì không ai bên Dân chủ bị cả. 

Nhưng cũng có nhiều người nghĩ là chuyện này không tránh được. Tổng thống luôn là người của công việc bận rộn, nên việc nhiễm virus là chuyện có thể xảy ra. 

Chị Phụng Đoàn cho rằng: “Theo tôi nó cũng giống như bệnh cúm mùa, có điều tốc độ lây lan khá nhanh nên y tế kiểm soát không tốt sẽ dẫn đến tình trạng nghiêm trọng, đặc biệt là những người có bệnh nền.”

Những người chống Tổng thống Trump coi việc ông bị nhiễm như hậu quả của sự khinh thường dịch của ông. Vài người cười chua chát, mỉa mai, hay tăng độ uất ức đã dồn nén. 

Cũng có người cho rằng đây là âm mưu của Tổng thống Trump và phải đề phòng. 

Về phần những người trung lập, họ có thêm ấn tượng xấu về cách thức Tổng thống Trump xử lý dịch, qua chuyện Tổng thống Trump bị nhiễm. 

Điều này làm cho lá phiếu của họ nhích xa Tổng thống Trump hơn, những là phiếu mà ông Trump đang rất cần. 

Như anh Bằng Đinh, một người trung lập hiếm hoi, bang Florida chia sẻ: “Tôi thấy rằng Tổng thống Trump và nước Mỹ thất bại trong việc chống lại virus Covid-19.”

Những người ủng hộ Trump thì mong muốn ông khỏi bệnh để sớm trở lại tranh cử và giữ cho kinh tế yên ổn. Họ cho rằng Tổng thống Trump đã làm tất cả cái gì ông có thể làm được, như đóng cửa khẩu Trung Quốc. 

Họ lập luận rằng, việc ông che giấu chẳng qua chỉ muốn làm cho nước Mỹ không bị phát hoảng để kinh tế tiếp tục. Họ cho là nước Mỹ là một nước tự do nên khó mà kêu mọi người cùng tuân thủ. 

Chị Phụng Đoàn chia sẻ: “Ở Mỹ tôi thấy khá khó vì đây là một nước tự do. Ví dụ như việc đeo khẩu trang. Ở Việt Nam chỉ cần ra quy định mọi người tuân theo ngay.” 

Hay họ cho rằng tiểu bang phải có trách nhiệm chứ không phải của Tổng thống Trump. Tóm lại, tất cả những gì Tổng thống Trump làm đều đã hết sức ông rồi và người dân phải chịu trách nhiệm cá nhân của bản thân họ. 

Khi được hỏi về số hơn 200.000 người đã chết thì họ cho rằng số những người này tới rồi, trời kêu ai kêu lấy dạ. Một số người cho là 200.000 người chết so với 7 triệu người chết là tương đối OK. Nhưng có người vẫn cho là tin giả. Anh Brian Tran, chủ doanh nghiệp, cho rằng đảng Dân chủ và “báo Đảng” đang “chính trị hóa vấn đề”.

Khi những người ủng hộ Tổng thống Trump được cho thấy hình ảnh ông và những người tham dự trong những cuộc vận động tranh cử và các buổi lễ không mang khẩu trang, thì họ lý giải rằng Tổng thống Trump có thể cẩn thận hơn, nhưng ông không thể bắt người khác mang khẩu trang. 

Luong Ta

Nhóm chống Tổng thống Trump cho rằng nhóm ông Biden tránh tổ chức những buổi hội họp đông như thế để bảo vệ mọi người. 

Nha sĩ Mỹ Hương Lyons, bang Florida cho rằng: “Trump cần yêu đồng bào hơn bản thân ông ta.”

Nhóm ủng hộ Trump cũng không có vấn đề với việc Tổng thống Trump chỉ trích ông Biden đeo khẩu trang ngay tại buổi tranh luận quốc gia. Vì tính Tổng thống Trump là như thế, theo họ. 

Ông Tấn Lưu, dù vẫn ủng hộ, cho rằng ông Trump “hơi thô tục, không sợ ai” và nói ông “nên dịu xuống và hợp tác với người khác hơn”. Nhưng nhiều người cho rằng, vì vậy ông mới làm được việc.

Dấu hiệu giận dữ thấy rõ từ những người chống Tổng thống Trump. 

Họ tố cáo Tổng thống Trump giấu tin tức của dịch, không xử lý chống dịch một cách đúng đắn, và coi thường các cách thức phòng ngừa dịch, nhất là khi họ thấy ông ủng hộ những chữa trị không có chứng minh của khoa học, và dùng quyền hành để che lấp tin tức dịch. 

Họ cho rằng nếu ông xử lý quyết liệt, thì kinh tế đã hoạt động trở lại như những nước khác. 

Anh Trung Lê, San Francisco, kỹ sư 29 tuổi chia sẻ: “Việt Nam phòng chống dịch tốt hơn. Số bệnh thấp hơn, người dân có ý thức đeo khẩu trang. Bố mẹ tôi đang ở Việt Nam. Đi lại xã hội bình thường và kinh tế chạy bình thường. Mỹ là một cường quốc mà khả năng chống bệnh quá yếu.” 

Đặc biệt, một bác sĩ đang trong tâm dịch, bác sĩ Lộc Lê, bang Maryland, chăm sóc bệnh nhân COVID-19 suốt nhiều tháng trời, chia sẻ rằng ông tức giận vô cùng khi được tin Tổng thống Trump bị nhiễm. 

Bác sĩ cho biết ông là người không đảng phái, đã từng bầu cho cả hai đảng Cộng hòa và Dân chủ. 

Ông nói: “Không thể tưởng tượng được một lãnh đạo của cường quốc nhất thế giới mà quản lý đại dịch một cách không thể tin được trong 8 tháng vừa qua. Hậu quả là bản thân mình bị nhiễm.”

Bản thân bác sĩ phải chữa trị bệnh nhân nhiễm Covid-19 mỗi ngày trong phòng ICU – phòng chăm sóc đặc biệt. Theo ông, Tổng thống Trump vì đã không điều hành đúng nên nhiều nhân viên y tế, kể cả bác sĩ đã tử vong vì nhiễm Covid-19 từ bệnh nhân. 

Luong Ta

Người Việt tại Quận Cam trong một sinh hoạt cộng đồng dịp Tết

Ông vẫn nhớ những ngày tháng thiếu thốn đồ bảo hộ y tế, vào khoảng tháng Ba, tháng Tư, một vài tháng sau khi Tổng thống Trump tiết lộ riêng về sự nguy hiểm của Covid-19. Bạn của ông phải đi lùng sục mua của chợ đen khẩu trang y tế N-95 dùm ông, vì nhóm ông phải xài đi xài lại một khẩu trang, đặt mạng mình vào mành chỉ. 

Ông cho rằng nếu Tổng thống Trump, người có quyền đẩy các hãng làm theo luật khẩn cấp, thì nhiều người đã không chết. 

Bác sĩ kể, tháng trước, ông vào khám một bệnh nhân không đeo khẩu trang. Sau người ta khám phá ra người đó có Covid-19. Ông phải tự cách ly gia đình vợ con 14 ngày. 

Ông kể một chuyện thương tâm về một người quen. Một bác sĩ giải phẫu nhập cư gốc Việt, vì không có bằng hành nghề của Mỹ, nên phải làm phụ tá trong phòng mổ của nhà thương ông làm. 

Vị cựu bác sĩ giải phẫu bị nhiễm virus và chết sau đó. Sự kiện này là một cú sốc rất lớn cho bác sĩ Lộc. Hiện nay ông sống trong nỗi lo âu mỗi ngày, khi bước vào bệnh viện. Không biết bao giờ đến lượt mình. 

Tất cả những phản ứng quanh sự kiện Tổng Thống Trump bị nhiễm bệnh cho thấy một sự thật là thuyết âm mưu đầy rẫy trong mỗi sự kiện lớn, ̣để giải tỏa hoài nghi cá nhân. 

Lòng người Việt chia rẽ trầm trọng đối với cá nhân Tổng thống Trump, không khác gì dòng chính của Mỹ. 

Hiện tượng “yêu nhau củ ấu vẫn tròn, ghét nhau củ bồ hòn cũng méo” thể hiện qua lăng kiếng nhìn của từng phe chính trị của người Việt. 

Dù phản ứng ban đầu đến đâu, hầu hết người Việt, sau khi bình tâm, đều chia sẻ là hy vọng Tổng thống Trump sớm bình phục. 

Họ đều đồng ý là mọi người phải mang khẩu trang và nên lưu tâm phòng chống dịch. Cộng đồng Việt Nam nói chung tuân thủ phòng chống dịch tốt hơn những người trong dòng chính ủng hộ Tổng thống Trump. 

Ông Tấn Lưu, 68 tuổi, một ủng hộ viên của Tổng thống Trump, cũng là người có nhiều bệnh nền chia sẻ: “Phải cẩn thận, đeo khẩu trang, và tránh tiếp xúc.”

Việc Tổng thống Trump bị nhiễm, nhìn về khía cạnh tích cực cho tất cả, nhắc cho mọi người cẩn thận hơn với dịch nhiễm vẫn còn lan tràn và có đà gia tăng. 

Mùa lạnh đang tới đẩy mọi người vào nhà, và mang theo vi khuẩn sốt. Trong nhà, không gian đóng với máy sưởi, là nơi dễ lây nhiễm, khi có sự hiện diện của người đang bị nhiễm. 

Bác sĩ Lộc cảnh báo rằng những tháng ngày tới sẽ còn nguy hiểm hơn, vì nhiều người lây quá, và ông nghĩ sẽ có đợt thứ hai nặng hơn. 

Ông cho biết năm 1918, 200.000 ngàn người chết vì dịch Cúm Tây Ban Nha. Năm sau, 400.000 người chết đợt hai.

Bài thể hiện quan điểm và văn phong của người viết.

Covid làm bạn già đi bao nhiêu tuổi?

Nguyễn Hùng

Tuần này nhiều đại học tại Anh hoạt động trở lại và nhiều trường, trong đó có Đại học Goldsmiths của tôi, khuyến cáo nhân viên xác định tuổi Covid của họ để biết độ rủi ro với đại dịch toàn cầu hiện nay. Không ít người xấp xỉ 50 giật mình khi thấy tuổi Covid của mình lên trên 70 và thuộc nhóm nguy cơ cao. Những người có tuổi Covid trên 80 thuộc nhóm nguy cơ rất cao, từ 50-70 nguy cơ trung bình và dưới 50 nguy cơ thấp.

Trang web của Hội chuyên gia tư vấn y tế cho các hội đồng địa phương ở Anhgiải thích khá rõ về cách tính tuổi Covid. Người ta sẽ lấy tuổi của mình rồi trừ hay cộng thêm tuổi tuỳ thuộc vào màu da, giới tính, bệnh nền, chỉ số chiều cao – cân nặng BMI và các yếu tố khác.

Yếu tố duy nhất khiến quý vị có tuổi Covid trẻ hơn tuổi thật là giới tính nữ. Nữ giới sẽ lấy tuổi của họ trừ đi năm để ra tuổi Covid gốc. Chẳng hạn một nữ giới tuổi 40, tuổi Covid sẽ chỉ là 35. Nhưng nếu người này gốc Á, họ phải cộng thêm 5, béo phì với BMI ở mức trên 40, cộng thêm 18, huyết áp cao cộng thêm 9, bị tiểu đường cộng thêm ít nhất 19 và bỗng nhiên phụ nữ tuổi 40 này có tuổi Covid 86, thuộc nhóm nguy cơ rất cao.

Còn một nam giới châu Á cũng tuổi 40 và không may mắc bệnh thận kinh niên, người này phải cộng thêm từ 30 cho tới 41 tuổi và sẽ ở vào nhóm rủi ro cao hoặc rất cao. Các chuyên gia cho các hội đồng địa phương ở Anh tái khẳng định mức rủi ro tăng rất cao đối với người già. Họ nói so với một người khoẻ mạnh tuổi 20, một người khoẻ mạnh tuổi 60 có nguy cơ tử vong cao gấp 30 lần.

Ở Anh hiện cũng có tranh cãi về chuyện liệu có nên tìm biện pháp để bảo vệ những người rủi ro cao hay rất cao và để xã hội hoạt động bình thường hay không. Số ca lây nhiễm tại Anh hiện ở mức đáng lo ngại nhưng chính quyền vẫn để cho những người phản đối các chính sách hà khắc của chính phủ giữ quyền xuống đường biểu tình. Người Anh hiện bị cấm tụ tập quá sáu người, vào siêu thị hay đi phương tiện công cộng bắt buộc phải mang khẩu trang, khoảng cách giãn cách xã hội lý tưởng ở mức 2m và có thể được giảm xuống 1m trong trường hợp bất khả kháng.

Hôm đầu tháng 10 tôi qua trường định mang máy tính để bàn về nhà vì kỳ này tôi dạy từ xa nhưng kiểm tra thấy máy tính đã già nên để lại chờ nâng cấp. Vào trường thấy người ta bày những can nước diệt khuẩn ngay trước cửa vào khoa truyền thông, các vòi nước uống phải dùng tay bấm tạm ngưng sử dụng, các phòng học đều ghi rõ tối đa bao nhiêu người được vào nếu giữ khoảng cách 2m và bao nhiêu người mang khẩu trang được vào khi chỉ giãn cách 1.5m. Ở nhiều nơi có mã vạch để người dùng có thể mở app truy vết Covid của ngành y tế ra quét. Chiều về thấy điện thư của trường báo đã có người nhiễm Covid vào trường từ vài hôm trước khi họ chưa có triệu chứng và nơi họ tới đã được tẩy rửa. Trường tôi xác định sẽ sống chung với Covid qua giãn cách xã hội, giữ vệ sinh chung và bảo vệ người có nguy cơ cao.

Covid đã thử thách nước Anh tối đa trong hơn nửa năm qua và có thể nói chính quyền đã thua nhiều bàn. Số người chết lên tới vài chục ngàn, app truy vết Covid bị trì hoãn nhiều tháng và hiệu quả khó cao trong khi khả năng xét nghiệm đại trà và truy vết người nhiễm vẫn hạn chế. Điểm son là Bộ Tài chính đã có gói cứu trợ khá hậu hĩnh kéo dài tới hết tháng 10 này để giúp hàng triệu nhân viên giữ nguyên lương ngay cả khi không thể đi làm. Quyền biểu tình của người dân, dù là để ủng hộ quyền sống của người da đen hay phản đối các chính sách liên quan tới Covid của chính quyền, vẫn được duy trì. Mặc dù vậy, nếu có bầu cử ngày hôm nay, tôi tin Covid sẽ giúp Đảng Lao động đối lập chiếm quyền từ tay Đảng Bảo thủ. Hôm vừa rồi Đảng Dân chủ Tự do chạy quảng cáo phát lại video thuyết phục cử tri của họ và tôi cũng thấy khá ấn tượng, dù đảng này hiện mới chỉ chiếm được cảm tình của 10% cử tri. Nếu tính tuổi Covid cho ba đảng hàng đầu này, tôi sẽ cộng 10 cho Bảo thủ, giữ nguyên cho Dân chủ Tự do và trừ 10 cho Lao động.

Nguyễn Hùng bắt đầu viết báo từ năm 1995 cho tờ Vietnam Investment Review và hai năm sau được Liên Hiệp Quốc chọn là một trong một vài nhà báo châu Á xứng đáng nhận giải thưởng mang tên cố tổng thư ký Dag Hammarskjold. Nguyễn Hùng đến London năm 2000, trở thành phát thanh viên, biên tập viên và phó ban Việt ngữ BBC. Trong vài năm trước khi rời BBC hồi năm 2017 để trở thành giảng viên báo chí kỹ thuật số ở Goldsmiths, University of London, Nguyễn Hùng phụ trách mảng mạng xã hội cho Vùng Đông Á và mảng kỹ thuật số cho Vùng Nam Á của BBC World Service. Nguyễn Hùng là người đồng sáng lập chương trình Bàn tròn Thứ Năm của BBC Tiếng Việt. Anh cũng sẽ chia sẻ blog này qua trang Facebook – https://www.facebook.com/haynhi3005/. Các bài viết của Nguyễn Hùng là blog cá nhân và được đăng tải với sự đồng ý của đài VOA nhưng không phản ánh quan điểm chính thức của chính phủ Hoa Kỳ.

Theo Blog VOA

Nước Mỹ sẽ chống Covid hữu hiệu hơn!

VOA

Ngô Nhân Dụng

Tổng thống Donald Trump đã nhiễm SARS-CoV-2, tên chính thức của loài vi khuẩn gây bệnh dịch Vũ Hán, tên chính thức là Covid-19 mà ông Trump còn gọi là Kung Flu. Mọi người, kể cả bà Pelosi đều cầu chúc ông Trump và bà Melanie mau lành bệnh. Mà chắc ông bà sẽ an toàn, trước ngày dân Mỹ bỏ phiếu trong gần bốn tuần lễ nữa.

Ông Trump may mắn chỉ nhiễm bệnh rất trễ, sau nhiều người Mỹ khác (bẩy triệu, con cố chính thức). Vì sau gần chín tháng đấu võ với loài virus SARS-CoV-2 (Xa Cô Vi), các bác sĩ đã rút kinh nghiệm nên biết nhiều cách chữa trị hơn. Nhiều thứ thuốc đã được dùng đồng thời, mỗi thứ chặn đường loài virus một cách khác nhau. Có thứ thuốc tấn công vào một bộ phận của vi khuẩn, là cây kim chọc vẫn giúp nó bám vào các tế bào trong thân thể con người. SARS-CoV-2 mọc tua tủa những cây kim, hễ thấy các chất protein ACE2 là nó chọc vào rồi bám lấy. Có thứ thuốc làm cho tế bào ACE2 mất sức hấp dẫn, vi khuẩn không bám vào và làm hại phổi con người nữa. Có thứ thuốc khác giảm bớt hoạt động của hệ thống miễn nhiễm, giảm vừa đủ để cho cuộc chiến của các kháng thể chống loài virus vẫn tiếp tục nhưng không mạnh mẽ quá đến mức làm cho phổi bị tắc nghẽn vì bãi chiến trường. Có thứ thuốc thì chặn đường không cho loài virus tấn công sang tim và gan, vân vân. Dùng nhiều thứ thuốc, mỗi thứ ngăn chặn một thứ tác hại của SARS-CoV-2, người bị nhiễm bệnh dễ phục hồi và sẽ lành mau hơn. Cho nên ông bà Trump có thể yên tâm, họ sẽ chiến thắng loài virus!

Ông bà Trump sẽ hy sinh một thời gian sống ngăn cách như các con bệnh khác. Nhưng với hành động đó họ sẽ giúp tạo một khúc quanh trong chận chiến đối đầu với Covid-19. Tâm lý nhiều người Mỹ sẽ thay đổi. Và hy vọng họ sẽ thay đổi cả trong hành động. Bệnh dịch nhờ thế có thể sẽ được ngăn chặn hữu hiệu hơn, và chấm dứt sớm hơn.

Trước hết, về mặt tâm lý, những người hoài nghi nhất bây giờ cũng thấy Covid-19 là chuyện có thật, không phải là chuyện bịa đặt được thổi phồng lên. Covid-19 cũng không tự biến mất như một phép lạ; loài vi khuẩn SARS-CoV-2 không tự nhiên ngưng hoạt động khi thời tiết ấm hơn; chúng cũng không chỉ tấn công vào những người già yếu trong viện dưỡng lão và giới lao động nghèo chen chúc trong các căn nhà chật chội.

Bây giờ người ta công nhận: Ai cũng có thể bị nhiễm bệnh!

Cả nước Mỹ chỉ có một ông tổng thống cho nên chắc chắn ông phải được bảo vệ rất kỹ. Nếu có thứ vaccine nào đáng tin thì ông sẽ sử dụng ngay. Mỗi ngày ông đều được thử test, nhân viên làm việc chung quanh ông được thử đều đặn. Trong ngoài Tòa Bạch Ốc chắc phải được khử trùng thường xuyên. Tất cả những người sắp tới gặp ông tổng thống phải được thử test, có an toàn mới gặp. Ông cũng theo đúng các quy trình: Gặp ai không đến gần dưới 6 feet, không nói lớn để khỏi thở mạnh, không gần gũi người lạ quá 15 phút trong phòng kín.

Cho nên khi thấy ông tổng thống cũng bị nhiễm vi khuẩn thì mọi người sẽ thấy chính mình cũng nên đề phòng. Chắc mình không được bảo vệ kỹ như ông. Hơn nữa, dù các bác sĩ đã biết nhiều phương pháp trị Covid-19, chúng ta cần biết rằng sau khi khỏi bệnh rồi nhiều người sẽ còn bị tổn thương suốt đời, nếu vi khuẩn đã làm yếu buồng phổi hoặc tấn công các bộ phận khác!

Với tâm lý thay đổi như thế, hy vọng nhiều người Mỹ sẽ thay đổi hành vi, cách sống của mình. Trong đó có 11 phần trăm dân Mỹ nói họ không bao giờ đeo mạng che miệng và mũi. Ngay cả sau khi Tổng thống Trump khuyến cáo mọi người đeo mạng, nhiều người cũng không thay đổi.

Ông bộ trưởng y tế, Jerome Adams mấy tháng trước đã lên đài Fox News, một đài vẫn hay coi thường Covid-19, để kêu gọi dân Mỹ đeo mạng. Ông Adams nói: “Tôi năn nỉ, xin quý bạn hiểu cho, chúng tôi không cướp đoạt tự do của ai hết khi yêu cầu mọi người đeo mạng!”

Nhiều người không chịu nghe chắc vì họ không quen biết người nào đã nhiễm bệnh, không biết ai đã chết vì Covid. Một người dân Quận Cam, California, chống đeo mạng đến cùng, còn hãnh diện nói rằng: “Điều tuyệt diệu nhất trong đất nước chúng ta là tự do trên hết, y tế công cộng đứng sau rất xa, xa hạng nhì, hạng ba, … có lẽ hạng thứ 20!”

Bây giờ chắc nhiều người sẽ thấy nên coi Y tế công cộng là ưu tiên hàng đầu! Bởi vì cái giống SARS-CoV-2 này nó khác loài vi khuẩn đã gây bệnh SARS hồi xưa, hay bệnh cúm mỗi năm. Nó không truyền từ một người qua người khác, mà truyền mạnh nhất khi nhiều người tụ họp trong một nơi kín gió, và người bị nhiễm có khi không thấy triệu chứng nào cả, nhất là những người trẻ. Một người bị nhiễm có thể truyền cho không biết bao nhiêu người khác, mỗi người khác đó lại tiếp tay truyền vi khuẩn đi xa hơn!

Không ai biết chắc chắn người nào đã mắc loài vi khuẩn hay chưa, nếu không ai chịu đề phòng cho mọi người đỡ bị nhiễm thì chẳng mấy lúc sẽ đến lượt chính mình cũng mắc nợ với nó.

Hy vọng 11% những người Mỹ vẫn phủ nhận vi khuẩn này từ nay sẽ đề phòng: Đeo mạng, giữ khoảng cách 6 feet, rửa tay thường xuyên bằng xà bông, ăn, ngủ đầy đủ để giữ sức khỏe, không tụ tập đông người ở nơi kín gió, vân vân.

Nhưng thay đổi hành vi của từng cá nhân chưa đủ.

Nước Mỹ cần có những hành động tập thể! Nghĩa là cần chính quyền can dự, từ cấp làng xóm, cấp thành phố lên đến tiểu bang và liên bang! Cần xã hội công dân tham dự, trong đó có giới kinh doanh.

Có thể coi tấm gương của thành phố Guayaquil, đông dân nhất trong nước Ecuador, Nam Mỹ.

Vào tháng Ba SARS-CoV-2 tấn công nước Ecuador, thành phố Guayaquil với gần ba triệu dân bị dính ngay đợt đầu. Sáng kiến chống bệnh dịch hữu hiệu nhất không phải do các bác sĩ về bệnh truyền nhiễm đưa ra mà do một người trong ủy ban kế hoạch đô thị (urban planning), ông Hector Hugo, 32 tuổi. Vì ông quen vẽ bản đồ!

Vào cuối tháng Ba, số người chết ở Guayaquil tăng vọt. Giá một bình dưỡng khí từ $50 đô la tăng lên $1,500 đô la! Nhà xác không đủ chỗ, phải đem ra để trong tủ lạnh ở ngoài đường.

Ông Hugo đã thiết lập bản đồ để chỉ rõ những nhà nào, ở khu nào có người bị bệnh khó thở, nghi là đã dính vi khuẩn. Ông lý luận rằng quân thù này giỏi tàng hình, mình không biết nó ở đâu, cho nên phải tìm cách bắt nó lộ diện.

Ông đã đi tìm địa chỉ những bệnh nhân ở Sở Y tế và các nhà thương. Ông kiểm kê những cú điện thoại gọi cấp cứu 911, xem ai đã kêu xe cứu thương đế chở xác người hay người đang nguy ngập vì bệnh khó thở. Căn cứ vào đó, ông đánh dấu trên tấm bản đồ.

Với tấm bản đồ đó thành phố biết được khu vực nào bị bệnh nhiều nhất, và Xa Cô Vi có thể lan đến khu nào khác. Người ta không chờ các con bệnh đến nhà thương mà đến thẳng những nơi nghi có người bị bệnh. Và họ cũng tìm cho biết những người nào đã gần gũi các bệnh nhân, yêu cầu họ tự cách ly.

Nhưng công trình của ông Hugo không được ai chú ý. Chính quyền còn bận với trăm ngàn chuyện khác, cũng để chống Covid-19! Cuối cùng, ông Hugo phải lôi kéo các công dân, trước hết là các bác sĩ, rồi các nhà kinh doanh. Giới làm ăn sẵn sàng giúp vì họ biết có ngăn được Xa Cô Vi thì kinh tế mới trở lại bình thường. Sau cùng, người hăng hái đứng ra giúp ông Hugo là bà Thị trưởng Cynthia Viteri, vì chính bà và chồng con bà đều đã bị virus Xa Cô Vi tấn công.

Cuối cùng thành phố Guayaquil là nơi thành công nhất ở Ecuador trong việc ngăn chặn Covid-19! Họ tìm coi các bệnh nhân ở khu nào, ai có thể bị lây. Đưa nhân viên y tế đến tìm những người có thể bị bệnh để thử nghiệm và chữa trị. Dần dần số người mắc bệnh giảm và số người chết cũng giảm.

Bà Viteri đã nghe những khuyến cáo của giới y sĩ và thi hành đến nơi đến chốn. Những người dân Guayaquil khi lên xe buýt không đeo mạng bị phạt tới $60 đô la. Các tài xế không bắt hành khách đeo mạng cũng bị phạt $200 đô la. Lợi tức bình quân dân Ecuador chỉ dưới $1,000 một tháng.

Coi lại câu chuyện ở Guayaquil thì thấy những hành động cần phải làm thực ra rất giản dị; không cần các bộ óc siêu việt mới nghĩ ra. Điều cần thiết là mọi người ý thức mối nguy hiểm, quyết tâm ngăn chặn Xa Cô Vi, phối hợp các hoạt động, từ chính quyền đến tư nhân.

Hy vọng công cuộc chống Covid ở nước Mỹ đang bước vào một khúc quanh. Mọi người gạt bỏ những xung đột, đồng ý với nhau cùng lo chống bệnh một cách có hiệu quả hơn.