Hạ Long, Cát Bà – Sức mạnh mềm Việt Nam

Giang Công Thế

Nếu bây giờ bắt đầu bài viết rằng Việt Nam là quốc gia giầu có, quí vị sẽ nhấp chuột chuyển qua trang khác. Bạn đọc sẽ cười vào mũi người viết vì thu nhập của ta chưa được mức trung bình. Phải trên 50,000$/người/năm mới được gọi là giầu.

Một người bạn tận xứ Mỹ, mỗi lần sang Việt nam, khăng khăng đòi đi Vịnh Hạ long. Đã tới đây 3 lần và anh lập kế hoạch khám phá tiếp những hòn đảo khác. Anh đánh giá, hàng nghìn tỷ đô la đang nằm trong mấy nghìn đảo trên Vịnh. Ai dám bảo Việt nam có dự trữ ngoại tệ quốc gia khiêm tốn. Đấy là anh ta chưa biết Cát Bà đẹp không kém vì lão Cua vừa đi thăm.

Các bà U70 đi biển Các Bà
Photo : Giang Công Thế

Tôi từng đi bãi biển Outer Bank, North Carolina nổi tiếng của Mỹ. Nơi đây sóng rất to, đôi chỗ rất sâu và nguy hiểm, rong rêu rất nhiều, mỗi năm được 1-2 tháng dám ra biển. Khu nhà nghỉ nằm phía trong đê chắn sóng và gió. Biển trông đẹp nhưng chỉ dám nằm phơi nắng.

Outer Bank được chăm chút đến từng chi tiết. Ô tô đi trên bãi biển cũng có luật, không được ra mé nước vì sợ làm chết các sinh vật như cua, hến, trai hay dã tràng.  Ít thấy người ta vứt rác thải ra bãi tắm. Mỗi mùa Hè có hàng triệu người đến nghỉ dù giá từ 3000 đến 5000 đô la/tuần cho nhà nghỉ một hay hai gia đình. Cuối tuần, đi xe hơi từ đường cao tốc vào nhà nghỉ khoảng 15km phải đợi 2 tiếng vì người đến quá đông.

Thu vào ống kính vẻ đẹp Lan Hạ
Photo : Giang Công Thế

So với Phan Thiết, Nha Trang, Đà Nẵng hay Sầm Sơn, Outer Bank chỉ là anh Cua Ninh Bình ngồi bên cô hoa hậu thế giới. Chưa kể so với bãi biển Phú Quốc hay Côn Đảo đẹp thiên thần, tắm biển bốn mùa. Còn Hạ Long, Cát Bà, thì đừng so sánh. Đi nước người mới thấy nước ta đẹp chả kém ai.

Năm 2009 Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thế giới. Năm 2014, tại kỳ họp thứ 38 của Ủy ban Di sản thế giới tại Qatar, quần đảo Cát Bà từng được đưa ra bầu chọn là di sản thiên nhiên thế giới nhưng bị thất bại do Cát Bà & Vịnh Lan Hạ nằm cùng quần thể với Vịnh Hạ Long, cần được đệ trình như là một quần thể. Quảng Ninh chơi riêng, Hải Phòng đánh lẻ.

Mộng du
Photo : Giang Công Thế

Người bạn Mỹ thích vịnh Hạ Long nhưng rất băn khoăn. Theo anh, không biết quản lý thì cái vịnh đẹp mê hồn này sẽ mất dần hàng chục triệu đô la mỗi ngày dù được tặng danh hiệu UNESCO hay chọn làm 7 kỳ quan thế giới. Tôi thăm Lan Hạ của Cát Bà cũng vậy, nhà thuyền chi chít, rác nổi là thường. 

Nếu nhà thuyền thi nhau thải rác thẳng xuống biển, khách uống coca vứt vỏ xuống mạn tầu, “giúp” quần thể nghìn đảo này “giầu” lên vì phế thải nhưng lại nghèo đi rất nhiều về giá trị. Khách du lịch sẽ không đến nữa, mà ai đến thì cũng tham gia vứt rác bừa bãi như chúng ta.

Nếu các nhóm lợi ích đua nhau lập dự án chia đảo và tự xây dựng những khu nghỉ mát theo sáng tạo của riêng mình, núi thì thả khỉ, đảo kia xây nhà nghỉ hay xây chùa cho khách thắp hương thì Vịnh Hạ long sẽ biến mất như trong ảo thuật của David Coperfield.

Bay từ Bangkok về Hà nội, từ cửa sổ máy bay có thể nhìn thấy đâu là Lào, chỗ nào là Việt Nam. Phía Lào rừng vẫn xanh tươi, phía Việt Nam chỉ còn đồi trọc. Thời rừng vàng biển bạc đã qua rồi vì rừng đã mất gần hết và biển sông đầy tôm cá chỉ là câu chuyện hôm qua. Việt nam không nghèo nhưng chúng ta tự…xóa giầu.

Tuy nhiên, tài nguyên vàng bạc ấy từ đâu mà có. Nó tự sinh ra trên đất nước này từ vài thế kỷ trước và mất đi do bàn tay của chính chúng ta, do tầm nhìn lãnh đạo hạn hẹp về môi sinh. Ai cũng biết rõ “lợi ích mười năm – trồng cây, lợi ích trăm năm – trồng người”. Không vì trăm năm thì cái lợi 10 năm kia cũng chẳng còn.

Dù có bao nhiêu dự án phủ xanh đồi trọc, bao nhiêu ao cá được đào, nhưng con người không được giáo dục bảo vệ môi trường thì mọi cố gắng chỉ là vô vọng. Một người trồng cây nhưng lại  có kẻ mang cưa đến cắt. Muốn thành phố đẹp và tráng lệ nhưng người duyệt dự án lại thích con đường ấy “nắn” qua nhà mình thì đừng hỏi tại sao thành phố mới xây đã bị băm nát.

Photo : Giang Công Thế

Vì thế, muốn nước giầu mạnh phải trồng người. Ươm mầm cho thế hệ trẻ tầm nhìn xa trông rộng, lớn lên làm người lãnh đạo trong sạch, có bản lĩnh và trí tuệ. Lúc đó trồng cây thả cá chắc chắn sẽ có rừng vàng biển bạc.

Kháng chiến chống Mỹ, chống Pháp và cả phương Bắc đã hội tụ được sự đoàn kết dân tộc nên dù hy sinh lớn lao, ta đã vượt qua thử thách. Nhưng trong hòa bình lại bộc lộ cái riêng quá nhiều. Vì thế đường đi lên đích giầu còn rất xa.

Hà Nội từng rất êm đềm và đẹp. Nhưng vài chục năm thời mở cửa, mạnh ai nấy làm, thích kiến trúc nhà củ hành hay nhà thờ đạo Hồi đều có thể đặt hàng kiến trúc sư. Qui hoạch manh mún, chắp vá, cơi nới, xây xen nên thủ đô bị băm nát.

Sài gòn từng là hòn ngọc của Viễn Đông. Sau 1975, chúng ta mải mê với chiến thắng nên danh hiệu ấy được sang tên cho Bangkok hay Singapore. Khối lượng du lịch vào Sài gòn ít dần vì nạn kẹt xe, ô nhiễm. Cơn mưa mùa hạ chợt đến chợt đi đã vào trong thơ ca nay thành thảm họa ngập lụt.

Sức mạnh mềm của dân tộc này là truyền thống lâu đời, văn hóa ngàn năm, tình yêu đất nước và cả thiên nhiên đẹp mê hồn. Không phải mấy cái mỏ dầu ngoài khơi gây tranh cãi hay quặng bau-xit Tây Nguyên giúp sức mạnh. Đào tài nguyên mang đi bán không bao giờ giầu có.

Người bạn tôi tin rằng, Việt nam có đầy tiềm năng trong những hòn đảo ở Vịnh Hạ long. Rồng nghỉ ở đó lâu lắm rồi nhưng biết đánh thức thì rồng kia sẽ bay lên.

Đi thăm Vịnh, mỗi lần định vứt rác xuống biển hay nhìn hòn đảo mà nghĩ đến dự án, xin duyệt, để rồi chiếm làm của riêng thì bạn đang làm chính mình nghèo đi. Khi đó, Hạ Long hay Cát Bà sẽ mãi mãi là nơi yên nghỉ của chú Rồng và sức mạnh mềm trở thành…dặt dẹo.

HM. 11-2009 4-2021

Vài ảnh HM chụp trên vịnh Lan Hạ (Cát Bà)

Hai Quê Hương

Linh Nguyen
Tho Nguyen
Mình thường rất thích đọc hồi ký và luôn cho rằng đó cách hay nhất, sống động nhất và chân thực nhất để hiểu về lịch sử, văn hóa, con người ở một nơi nào đó, vào một thời điểm nào đó.
Mãi đến bây giờ, khi bài vở có thể tạm gác qua một bên và mệt mỏi từ chuyến đi thực địa miền Trung vừa rồi cũng đã qua, mình mới có thời gian nghiền ngẫm tác phẩm “Hai Quê Hương” của chú Nguyễn Xuân Thọ.
Đây là một quyển hồi ký ngắn, tương đối dễ đọc, giọng văn dễ chịu tình cảm, nhẹ nhàng, có phần dí dỏm đúng như tính cách của tác giả.
Qua “Hai Quê Hương” mới biết cuộc sống của những người dân miền Nam tập kết ra Bắc khoảng thập niên 50 là như thế nào, cuộc sống của người dân Hà Nội dần thay đổi ra sao từ 1960-1970, nhất là những biến động xảy ra với tầng lớp tư sản qua những ngôi nhà biệt thự của họ bị chia năm xẻ bảy cho 9-10 hộ gia đình cán bộ sinh sống. Rồi cuộc sống của một người Việt sang Đông Đức học nghề đầy kìm cặp, bí bức, sau đó trở về Việt Nam để rồi bỡ ngỡ trước lối sống ở quê hương sao xa lạ quá… cuối cùng lại tiếp tục tha hương cầu thực với mong muốn được sống đúng với những giá trị, chân lý mình theo đuổi.
Chuyện rất riêng về những thứ rất chung, nhưng được viết một cách khách quan, sòng phẳng và nhất là lúc nào cũng chan chứa tình yêu thương.
Những mốc sự kiện chính thì mình đã biết từ một số tác phẩm khác về cải cách ruộng đất, cũng như thời kỳ Đổi Mới, nhưng có vài chi tiết nho nhỏ nhưng thú vị mà quả thật chỉ có nhân chứng từng sống qua thời đó mới có thể ghi nhớ lại chi tiết như thế. Phải nói chú Thọ là một người giỏi quan sát, và có trí nhớ rất tốt.
Và cũng chính nhờ theo học kỹ thuật truyền thông khi ở Đông Đức nên chú Thọ trở thành một nhân chứng trực tiếp chứng kiến cảnh dân chúng Đông Đức chen lấn, xô đẩy cả công an chỉ để vẫy tay chào và tỏ lòng yêu mến Thủ Tướng Tây Đức Willy Brandt khi ông sang thăm.
Có một vài chi tiết khá thích thú như câu nói “L. tù, cu hãm” của ông Ngô Văn Quang khi nói về cuộc sống của nhóm sinh viên Việt sang học nghề ở Đông Đức mà chú Thọ thuật lại.
Hay khái niệm “Kinh doanh ba lợi ích” và nhiều điều thú vị khác nữa mà có lẽ mọi người có thể đọc trong sách.
Cuộc sống mưu sinh lập nghiệp khi chú Thọ trở lại Đức cũng khiến mình cảm động và cảm phục. Nhất là mối quan hệ vô cùng tốt đẹp đáng quý với một Việt Kiều Bỉ, chú Đinh Hữu Tùng, người sáng lập ra công ty Dinh-Telecom từng nổi tiếng một thời ở Bỉ.
Chỉ tiếc là quyển hồi ký ngắn quá, cảm thấy còn bao nhiêu chuyện mà chú vẫn chưa chịu kể hết, một cách ngọn ngành nhất. Chắc cũng biết thế nên trong quyển hồi ký này, chú Thọ cũng “hứa hẹn” sẽ ra mắt nhiều quyển sách khác nữa. Mình thì đang rất mong chờ thêm câu chuyện về chú Micha và cha chú ấy.
Cảm ơn chú Thọ rất nhiều vì đã viết ra quyển hồi ký này.
EDIT: Mọi người có thể đăng ký mua sách theo hướng dẫn này nhé:

ĂN VỘI

(Quý tặng chú Hồng Phúc)

Buổi tối, trước khi đi ngủ, mẹ tôi dặn bố tôi:

-Trưa mai ông vo thêm gạo, nấu cơm cho thằng Si nó ăn với. Sáng tôi đi lấy hàng gặp nó. Nó bảo ra ngoài này gánh phân được mấy hôm rồi. Trưa nào cũng ăn cơm hàng rồi nằm vạ nằm vật ngoài đường, chiều đi mót phân tiếp. Chỉ nấu bữa trưa cho nó thôi, tối nó đạp xe về quê.

Bố tôi đang ghép màn. Nghe mẹ tôi dặn, ông chỉ “ừ” một tiếng lơ đễnh, tay vẫn cầm cái quạt nan cố đập cho được con muỗi đang vo ve trước mặt. Chiếc màn được mua về trước khi tôi ra đời, vá chằng vá đụp đã ngả màu, cũ kỹ.

Thế là bắt đầu từ hôm nay, bữa cơm trưa nhà tôi sẽ có thêm một miệng ăn nữa. Anh Sơn, chị Yến đã lập gia đình, nhà bớt được hai khẩu phần. Trừ tôi, chị Loan, anh Phương đang độ tuổi ăn bám vì còn đi học, trên lý thuyết, nhà tôi có bốn người đi làm hoặc có thu nhập. Chị Oanh học xong cấp 3, không thi đại học vì muốn đi làm phụ giúp bố mẹ nuôi các em. Chị Phượng nghỉ học sớm, theo chị Oanh đi bốc vác ở Kho B. Tiền lương chẳng được bao nhiêu, công việc cũng không ổn định, có thì đi làm, không có lại nghỉ. Ôi, các chị gái của tôi mới mười tám, đôi mươi đã phải đi làm công việc nặng nhọc của cánh đàn ông, nghĩ lại đến giờ vẫn còn thương. 

Tiền ăn uống, sinh hoạt hàng ngày trông cả vào việc bán than của mẹ tôi. Thời gian này, mẹ tôi đã chuyển từ nghề bán rau sang nghề bán than. Năm ấy tôi mới học lớp ba. Khi lên lớp bốn, tôi đã biết phụ mẹ đẩy xe than đi khắp nơi để bán. Công việc buôn bán không nói ai cũng biết, lúc may mắn, đắt hàng không sao. Hễ mà ế, thì chỉ có ăn cụt vào vốn. Vì thế, khoản thu nhập ổn định nhất vẫn là đồng lương hưu ít ỏi của bố tôi.

Anh Si là chồng chị Doan, cháu gọi mẹ tôi bằng cô ruột. Nếu là quan hệ xã hội thì Si đủ tuổi làm chú tôi. Con gái đầu của anh chị cũng sinh năm 1977, nhưng còn lớn hơn tôi vài tháng. Hồi chị Doan lấy anh Si, họ hàng làng xóm đều ngạc nhiên. Người ta xì xào, to nhỏ “tại sao con Doan lanh lợi, hoạt bát như thế lại đi lấy cái thằng đánh dậm cù lần, cả ngày không nói nổi một câu ấy?”. Đấy là tôi nghe người lớn kể, chứ có biết mô tê gì. Ở quê Kiến Thụy người ta bàn tán, đến tai gia đình tôi ở tận Hải Phòng.

Chị họ tôi là xã viên Hợp Tác Xã, còn anh chồng thì làm đủ thứ nghề, miễn là có người mướn. Nhưng công việc gắn bó nhiều nhất với cuộc đời anh là nghề đánh dậm và gánh phân. Dân gian có câu “hiền quá hóa đần”. Điều này đúng với nhiều người nhưng không đúng với anh rể họ của tôi. Si đần, nhưng không hiền. Từ ngày lấy vợ, cái sự cục súc của anh ta mới có cơ hội được phát lộ, và phát huy. Thì tôi cũng nghe các anh chị ở quê kể chung chung như thế. Về sau, khi hai người đã đường ai nấy đi, tôi được nghe từ chính miệng chị Doan tâm sự. Tôi chẳng bao giờ hình dung nổi một gã chồng nằm trên bụng vợ, vừa làm cái chuyện ấy, vừa tát vợ, thỉnh thoảng lại chửi một câu: “Đ.m mày có sướng không?”. Chị Doan mách, có lần còn bị chồng giả vờ âu yếm, rồi bất thình lình dùng mẩu ớt đã được giấu sẵn đâu đó, dí vào chỗ kín của vợ. Chị kêu lên, phần vì đau rát, phần vì ê chề nhục nhã, và ôm quần lao ra bờ giếng. Gã chồng ngồi trên giường ôm bụng cười sằng sặc, hả hê vì đã chơi vợ được một vố ngoạn mục.

Kể đến đấy, chị họ tôi nghiến răng ken két:

-Con mẹ cái thằng chó chết ấy, may là còn bỏ được nó. Nếu kéo dài đến bây giờ chắc có án mạng mất. Mẹ thằng cục súc, lẽ ra chị phải bật lại nó sớm hơn mới đúng.

Tôi nửa châm chọc, nửa cảm thương:

-Ai bảo hồi ấy bà đâm đầu vào, giờ còn than trách gì?

Chị đáp lại, vẻ bực dọc:

-Tưởng nó hiền lành, lại cảnh nghèo như mình thì thương, thì lấy. Ai ngờ dẫm phải bãi cứt.

Lại cái lý do chẳng đâu vào đâu ấy. Không lẽ người nghèo bắt buộc phải lấy người nghèo hay sao. Bao nhiêu cuộc đời tan nát, bao cuộc hôn nhân vỡ vụn chỉ vì một chữ “tưởng” vô duyên như thế.

Tôi khì khì cười, lảng sang chuyện khác. Vừa là chuyện cũ, vừa là chuyện tế nhị nên tôi không có hứng thú tham gia. Với lại tôi ghét Si, không muốn nhắc đến anh ta. Tôi ghét Si không phải vì hắn đối xử tệ với chị họ tôi. Những chuyện ấy tôi chỉ nghe chị tâm sự, đâu có chứng kiến. Tôi ghét Si, nói trắng ra là vì miếng ăn. Ôi, tôi cũng có lúc ghét người khác vì một lý do rất tầm thường, và tầm phào thế này ư? Nhưng tôi chẳng việc gì phải ra vẻ thanh tao, vả lại chuyện qua lâu lắm rồi, nhắc lại để có thứ mà viết. Tôi bỗng nhận ra mình thích viết về những câu chuyện của thời thơ ấu biết bao. Hoài niệm quả là một điều thật đẹp đẽ.

Tôi không thể nào quên bữa cơm hôm ấy, và cả những bữa cơm sau này khi anh ta có mặt. Tôi nhớ dai, không hẳn là do cái mùi khó chịu ám vào bộ quần áo bộ đội cũ kỹ anh ta mặc trên người, mà còn vì hôm ấy tôi phải vác bụng đói đi học. Bộ quần áo bộ đội chắc ai đó cho để anh ta mặc đi đánh dậm, gánh phân chứ Si chưa một ngày nào đi lính. Bữa cơm nhà tôi thường chỉ có rau dưa, hiếm lắm mới được bữa thịt, bữa cá. Loại cá người ta bán ế cuối ngày, mẹ tôi mua rẻ về kho mặn lên ăn.

Mâm cơm mới được bưng lên thì vừa lúc anh ta về. Si xuống bếp, múc nước trong bể ra, dội ào ào. Tôi nghe tiếng anh ta dội nước mà xót. Hàng ngày, chị Oanh và chị Phượng sau khi đi làm về phải gánh nước từ dưới đất lên tận tầng 4 cho cả nhà dùng. Chân vẫn còn ướt, anh ta lội vào nhà, để lại những vết nước loang lổ trên nền gạch. Si sà vào mâm cơm, hai tay tới tấp xoa xoa, bôi bôi vào bộ quần áo còn ám mùi phân cho khô. Chị Oanh đưa bát cơm vừa xới cho anh ta. Si nhanh nhảu đón lấy, mồm chào lấy lệ:

-Cô chú ăn cơm.

Anh ta mời, nhưng mắt chẳng thể ngước lên nổi để nhìn ai. Si vội vã ăn, đôi đũa liên tục lùa những miếng cơm to vào miệng. Suốt mấy ngày qua, bữa ăn nhà tôi chỉ toàn có rau không. Hôm nay vì có khách, mẹ tôi mua mấy lạng cá duội khô (cá cơm) về rang. Vài quả cà chua chưng với hành mỡ, nấu xâm xấp nước để chấm, ăn kèm với rau sống. Thời bao cấp, và với một gia đình nghèo rớt mồng tơi như nhà tôi, thế là sang lắm rồi.

Anh ta lùa hết bát cơm đầu tiên, rồi đến bát thứ hai, mấy chị em tôi mới nuốt được vài miếng. Hết hai lần đơm, anh ta lại chìa bát cho chị Phượng. Tôi nhìn cách anh ta ăn, vừa ngạc nhiên, vừa lạ lẫm, hậm hực. Cái miệng anh ta không ngừng nghỉ, cứ nhai nhai nuốt nuốt. Hết lùa lại gắp. Mỗi lần gắp là một miếng rau sống to bự, hoặc kẹp díp năm sáu con cá duội khô đưa lên miệng. Tôi trông thấy rõ sự bối rối hiện lên nét mặt của mẹ tôi. Chắc bà có chút ngượng ngập với chồng con vì chót tha đứa cháu rể ăn tham về nhà. Bố mẹ tôi mỗi người chỉ dám ăn một bát rồi đứng dậy. Sợ anh ta ngại, không dám ăn, bố tôi bảo:

-Anh Si cứ tự nhiên nhé. Chú ăn thế đủ rồi.

Nhưng bố tôi lo hão, anh ta vẫn bám trụ mâm cơm đến cùng, chẳng cần biết có đủ cơm cho chủ nhà là lũ em họ khốn khổ ăn không. Anh Phương và chị Loan vừa đưa cái bát không cho chị Oanh để chuẩn bị đơm thêm, đúng lúc Si chìa cái bát sạch như chùi ra lần thứ tư. Chả lẽ lại không lấy cho khách, nên chị Oanh phải ưu tiên cho anh ta trước. Chị Loan, anh Phương bất đắc dĩ phải nhường. Thấy bát cơm vơi hơn mấy lần trước, Si nhắc:

-Dì cứ đơm đầy đầy cho anh, đỡ phải xới nhiều lần.

Chị Oanh miễn cường, lấy đũa cả xới thêm cho anh ta một tí, rồi mới đơm cơm cho hai đứa em. Bình thường, cả nhà tôi mỗi người chỉ được hai lưng cơm, hôm nào nấu nhiều thì được ba lưng. “Lưng” là lưng lửng, tức là bát vơi, chứ không được đầy. Khi nào mẹ tôi không kiếm được, hai chị tôi chưa lĩnh lương, hoặc thất nghiệp thì phải ăn khoai độn. Cái mốc hai, ba lưng cơm như một con số ấn định trong đầu óc đứa trẻ nhà nghèo học lớp 3 như tôi. Chẳng ai được ăn, hoặc ăn được bốn bát cơm cả. Làm gì có người nào ăn khoẻ như thế, làm gì có nhà ai đủ gạo để nấu nhiều cơm như thế. 

Bình thường tôi đã ăn chậm, hôm nay tôi còn ăn chậm hơn. Cái sự ăn nhanh, ăn nhiều, ăn bất biết thiên hạ của Si làm tôi mất tinh thần, ngâm mãi chưa hết lưng cơm. Khi anh ta ăn đến bát thứ tư, tôi đã thầm nghĩ (và hy vọng) “chắc là bát cuối cùng rồi đây.”. Nhưng không, anh ta lại chìa bát thêm lần nữa. Tốc độ lùa cơm vẫn như lúc đầu. Không chậm đi chút nào. Chị Phượng và chị Oanh ngồi đầu nồi, chỉ dám ăn cầm chừng vì sợ ba đứa em đói bụng. Mỗi lần đơm cơm cho ai xong, các chị tôi thường đậy vung lại cho nóng, dễ đánh cháy. Tới khi Si ăn đến bát thứ 5, chị Oanh không đậy vung nồi lại nữa, nhắc khéo cho anh ta biết là sắp hết cơm. Chị Phượng lấy đũa cả vun chỗ cơm ít ỏi còn lại vào một góc nồi, hy vọng anh ta biết ý, không ăn nữa. Chị nháy mắt, ra hiệu cho tôi ăn nhanh để chị đơm nốt phần cơm còn lại.

Tôi vừa phụng phịu, vừa nhai thật nhanh miếng cơm cuối cùng như chạy đua với Si. Nhưng tôi vẫn thua. Anh ta nghển cổ lên, nhòm vào nồi cơm, reo lên đầy sung sướng: “à vẫn còn”, rồi chìa bát ra lần thứ sáu:

– Cho anh xin bát nữa.

Hai chị tôi không giấu được vẻ khó chịu, chẳng ai muốn phần cơm ít ỏi cuối cùng bị anh ta chén mất. Thấy hai người ngồi đầu nồi có vẻ lưỡng lự, Si tự hành động luôn. Từ vị trí giữa mâm, Si nhoài người ngang qua mặt tôi và chị Oanh, thục cả cái bát vào, lia một đường dứt khoát, hốt gọn phần cơm được giấu trong góc nồi trước sự ngỡ ngàng của lũ em họ.

Dù đã cố nhịn, nhưng tôi vẫn không ngăn được tiếng “ọe ọe” phát ra từ cổ họng khi bị mùi phân phảng phất trên người anh ta bay vào mũi. Quá kinh tởm, tôi đưa tay bịt miệng rồi đứng lên, chạy xuống bếp. Chiếc nồi gang vẫn ấm, nhưng không còn hạt cơm nào. Chẳng thèm đếm xỉa đến sự khó chịu người khác dành cho mình, Si cầm tô, dốc sạch chỗ nước sốt cà chua vào bát cơm anh ta vừa chiếm được, lùa ba cái sạch trơn.

Bữa cơm đầu tiên có mặt Si, bố mẹ tôi mỗi người ăn một bát. Chị Loan, anh Phương được hai lưng. Chị Phượng, chị Oanh ăn cầm chừng, hai lần đơm dồn lại chắc được một bát đầy. Tóm lại, bữa đó cả nhà tôi đều chịu đói hơn thường ngày. Hình ảnh Si ăn liền lúc sáu bát cơm, miệng nhai nhồm nhoàm cứ lởn vởn trong tâm trí, theo tận vào lớp học khiến tôi không tập trung nghe cô giáo giảng bài được. Tôi ức phát khóc.

Buổi chiều trên đường về, tôi cứ thầm ước trong bụng sẽ không phải thấy anh ta ở nhà mình nữa. Đúng như mẹ tôi thông báo, Si đạp xe về quê. Nhưng bữa cơm trưa hôm sau, anh ta lại đến. Thì mẹ tôi đã chả dặn bố tôi nấu cơm cho anh ta ăn các buổi trưa là gì. Có điều không biết anh ta sẽ làm khách nhà tôi đến bao giờ. Một vài ngày còn đỡ, chứ anh ta cứ đến ăn trực cả tháng thì gay to. Từ bữa thứ hai trở đi, chị Oanh và chị Phượng đã có kinh nghiệm đối phó với Si. Đơm cơm cho ai, hai chị tôi đều ấn đầy bát, phòng khi không có cơ hội ăn thêm thì cũng không đến nỗi vác bụng đói đi làm, đi học. Sợ em út bị mất phần, chị Oanh còn đơm sẵn một bát khác để dành cho tôi. Tất nhiên, bố tôi phải vo thêm gạo, không thì không đủ chia. Thay vào đó, bữa chiều lại nấu rút đi một chút. Có Si, mẹ tôi phải cố chạy vạy để khi thì có chút cá, khi thì mấy bìa đâu phụ hoặc tí thịt ba chỉ trong mỗi bữa ăn. Một phần do hiếu khách, phần nữa là bố mẹ tôi không muốn để cái nghèo lộ liễu quá trước mặt người ngoài, tủi lắm.

Bữa nào Si cũng ăn sáu bát cơm với tốc độ vội vàng như đi cướp cháo thí. Tôi càng ghét anh ta. Các chị tôi cũng ghét anh ta. Nhưng vì là họ hàng, nên phải chịu, không dám cằn nhằn hay tỏ thái độ. Anh ta đã xấu ăn, lại còn vô duyên và thô lỗ. Trên đời này làm gì có mùi gì kinh tởm hơn mùi phân người. Thế mà lần nào đi làm về, anh ta cũng chỉ rửa ráy qua loa để nhanh nhanh chóng chóng ngồi vào mâm cơm như sợ người khác ăn hết phần. Đã thế, anh ta lại không tiếc sức lao động của các chị tôi. Si không cần xót thương cho cái cảnh mấy cô em họ phải đi chầu chực, hứng từng thùng nước ở bể công cộng, rồi gánh lên tận tầng tư cho cả nhà dùng. Công việc kiếm tiền nặng nhọc, gánh nước cũng là việc nặng nhọc, đã thế lại không được ăn no vì có thêm ông anh rể họ ăn nhiều, ăn tham. Mỗi lần anh ta múc nước từ trong bể ra dội ào ào, chị Phượng ở trên nhà lại nhăn nhó, lẩm bẩm chửi thầm trong bụng. Mấy ngày liên tiếp như thế, đến hồi mẹ tôi phải nhắc, anh ta mới chịu rửa ráy sạch sẽ hơn, và bớt lãng phí nước.

Khinh ghét anh ta nhất có lẽ là chị Loan. Hôm ấy, cả nhà vừa cơm nước xong xuôi, người chuẩn bị đi làm, người lo đi học thì nghe tiếng chị hét toáng lên. Bố mẹ tôi hốt hoảng lao xuống bếp, dồn dập hỏi xem có chuyện gì xảy ra. Chị Loan ngượng chín mặt, bước lên nhà với bộ dạng đầy tức tối: 

-Anh ấy đi vệ sinh chả chịu đóng cửa gì cả.

Thì ra anh ta đi cầu, chỉ khép hờ cửa chứ không cài then. Chị Loan tưởng không có người nên mở cửa toan bước vào. Nhà vệ sinh của các khu tập thể ngày xưa thường có bậc thang đi lên bệ xí. Vì thế, khi chị mở cửa ra thì ôi thôi, không chỉ bộ mặt hãm tài mà nguyên cái “của nợ” của lão anh rể họ nó đập thẳng vào mắt.

Mẹ tôi thở dài, cắp cái nón bước ra cửa. Chị Phượng tôi giận quá, từ trên nhà nói vọng xuống, cố ý để anh ta ngồi trong nhà xí nghe thấy:

– Người gì mà vô ý vô tứ, đi ỉa cũng không thèm đóng cửa.

Sau sự cố đi ỉa không đóng cửa, các chị tôi tỏ rõ sự coi thường, lạnh nhạt đối với Si. Nhưng chỉ dám thì thầm to nhỏ riêng với nhau, không dám càu nhàu gì vì sợ mẹ tôi mắng. Bố mẹ tôi biết rõ sự khó chịu của các con, song lờ đi. Si cũng biết, nhưng chẳng thèm ngượng ngùng.

Từ hôm ấy, đến bữa anh ta không chìa bát ra trước mặt chị Phượng nữa, nên chị Oanh phải xới cơm cho Si. Tôi xót của, thành ra tự đặt cho mình nhiệm vụ đếm xem mỗi bữa Si ăn mấy bát. Lần nào cũng là con số sáu. Không hơn, không kém. Tôi nghĩ chẳng phải cái dạ dày anh ta không chứa nổi bát thứ bảy, thứ tám, mà vì đến ngưỡng ấy là nồi cơm nhẵn thín rồi, làm gì còn mà ăn. Nhà tôi nấu cơm bằng nồi gang trên bếp than. Từ khi có Si, tôi mới biết thế nào là cảnh “cơm hết nồi vẫn bốc khói”.

Anh ta ăn chực nhà tôi đâu khoảng nửa tháng. Tôi nhớ mang máng thế. Hôm ấy, đang ngồi xỉa răng, uống nước chè cùng bố mẹ tôi, Si thông báo:

-Cháu ra đây nốt hôm nay thôi, mai cháu về quê làm. Cô chú không phải nấu cơm cho cháu nữa.

Ôi cuộc đời ơi, cho đến hôm nay khi đã bốn mươi tư tuổi, tôi vẫn không thể nào quên cái cảm giác nhẹ bẫng đến huyền diệu mà một đứa trẻ học lớp ba là tôi được trải nghiệm. Không chỉ riêng tôi đâu, các anh chị tôi đều mừng rỡ, cứ như được giải thoát khỏi sự ấm ức, chịu đựng suốt những ngày qua. Nhất là anh Phương, từ mai sẽ không bị mẹ nhắc nhở “ăn ngót ngót đi một tí, nhà đang có khách”. Sức con trai mười hai tuổi đang đà ăn khỏe, ngày thường đã không được ăn no, có khách còn phải bóp bụng để giữ ý giữ tứ cho cả nhà. 

Dù đã nghe Si tuyên bố “không phải nấu cơm cho cháu nữa” nhưng tôi vẫn thấp thỏm, hồi hộp, chỉ sợ ông anh rể họ bất thình lình xuất hiện. May quá, anh ta về quê thật. Và không bao giờ đến nhà tôi ăn nhờ thêm lần nào nữa.

Khi đứa con gái lớn gần hai mươi tuổi, chị Doan mới bỏ được Si. Ba mẹ con kéo nhau ra thành phố lập nghiệp. Sau này, cả hai người đều đi bước nữa. Si vớ được một cô giáo lỡ thì ở làng bên. Sống với nhau chẳng được bao lâu, chị kia bỏ của chạy lấy người. Vẫn thói vũ phu, cục súc, tham ăn tục uống khiến Si chẳng khác gì kẻ nửa người nửa ngợm. Sau này lại sinh tật nghiện rượu, đầu óc vốn trì độn càng trì độn hơn.

Nghe đâu mấy năm cuối đời, Si sống nhờ vào sự chu cấp ít ỏi của hai đứa con gái. Lúc Si chết, hai người vợ không ai tới thăm viếng, họ hàng lèo tèo vài người đến tiễn đưa. Cũng tủi.

Sài Gòn, tháng 3/2021.

Phạm Thanh Nghiên

TÔI

Nguyễn Thuý Hạnh 

Bố tôi mất sớm lắm, từ khi tôi 5 tuổi. Mẹ tôi, một người mẹ vô cùng hiền hậu, sau đó đã có gia đình riêng và những người con khác, bởi khi bố tôi mất mẹ tôi mới 27 tuổi.

Chị em tôi ở với ông bà nội. Ông nội tôi làm việc cho Toà án huyện, từng bị quy là địa chủ và học ở trường của Pháp, một người ông quá nghiêm khắc. Bởi luôn lo sợ hai cháu mồ côi không nên người vì không có cha mẹ ở bên, nên ông rèn giũa chúng tôi từng li từng tí, từ lời nói, cách ăn uống, cách đi đứng, cách sống ngay thẳng, đặc biệt là phẩm chất công, dung, ngôn, hạnh của người phụ nữ Á đông… Nhưng chúng tôi còn quá nhỏ lại thiếu thốn cha mẹ nên nhiều lúc cảm giác cảnh sống đó ngột ngạt như nhà tù. 

Sau này lúc lâm chung ở tuổi 86, ông nội tôi trăng trối lại rằng trong cuộc đời ông điều ân hận day dứt nhất là làm mất đi tuổi thơ ấu của 2 đứa cháu mồ côi.

Bà nội tôi là y sĩ, quanh năm, suốt tháng, đêm ngày lăn lộn chữa bệnh và đỡ đẻ cho khắp vùng, lăn xả giúp người, cứu người một cách vô tư. Bà tôi trở thành ân nhân của biết bao gia đình quê tôi. Chị em tôi thừa hưởng phẩm chất này từ bà nội.

Tôi lớn lên như đứa trẻ tự kỷ, không muốn giao tiếp, cứ thu mình một góc, chỉ muốn một mình, rất ngại gặp người lạ. Triền miên trong tôi là nỗi buồn, tủi thân vì không có bố, đêm đêm khó ngủ vật vã nhớ mẹ. Tôi mặc nhiên không biết cười cho đến năm 16 tuổi. Chiều chiều khi mặt trời lặn, lúc con chim bay về tổ là khi tôi trở về trạng thái buồn bã cô đơn, hoang mang… Có lẽ chỉ những đứa trẻ mồ côi mới biết thế nào là nỗi cô đơn thơ dại. Sau này tôi mới biết đó là chứng trầm cảm mà tôi đã bị ngay từ thuở bé.

Vào cấp 3 tôi học rất giỏi văn, trước đó tôi chỉ thích môn toán. Bước ngoặt này bắt đầu từ bài thi vào cấp 3, đề bài là phát biểu cảm tưởng về mẹ. Như một mạch ngầm tuôn chảy dào dạt, tôi cắm đầu viết liền 4 trang giấy nỗi nhớ mẹ, yêu thương mẹ từ trong sâu thẳm trái tim tâm hồn tôi.

Bài thi đó tôi được điểm tuyệt đối, thời đó điểm thi văn chỉ 6 đến 7 là cao rồi, thế mà tôi được 10 điểm. Thế là từ đó tôi được trường chú ý bồi dưỡng môn văn để tham gia các cuộc thi học sinh giỏi, khiến tôi thành học lệch, rất kém các môn tự nhiên.

Nỗi ám ảnh tuổi thơ đã đưa tôi đến quyết tâm đòi lại tuổi thơ của mình bù vào cho các con tôi. 

Nhưng số phận, lại là là số phận, đã không chiều lòng người. Tôi được chọn làm công việc PR (giám đốc đối ngoại) của một công ty lớn của nước ngoài tận Miền Nam, công việc phù hợp với khả năng của tôi, và thu nhập có thể nuôi đủ các con tôi. Nhưng áp lực công việc cũng vô cùng lớn, trong khi tinh thần tôi yếu đuối, mà lại quyết tâm lăn lộn cứu công ty.

Ảnh: Trần Tuấn Anh

Vậy là suốt tháng ngày tôi trôi dạt hết tỉnh này qua tỉnh khác, thành phố này qua thành phố khác, có những ngày ra sân bay 2 lần để di chuyển đến tỉnh khác, chạy sô, cũng chỉ thui thủi một mình, làm việc không có đồng nghiệp. 

Suốt những năm tháng đó tôi sống trong nỗi nhớ con, nhớ mẹ cháy bỏng, và nỗi cô đơn thăm thẳm, vẫn nỗi niềm thủa nào đeo đẳng tôi, trước kia là nỗi cô đơn của đứa con, thì nay nó là nỗi cô đơn của người mẹ. 

Có lẽ Trời đã động lòng thương, cho tôi khả năng kiếm tiền và sự thành công, bù lại tổn thất tinh thần mà tôi phải chịu đựng. (Nhưng chắc chắn nếu được lựa chọn, tôi chọn tinh thần chứ không chọn vật chất). Tôi vừa cật lực cống hiến cho công ty phát triển lớn mạnh, vừa kinh doanh riêng và kiếm được khá tiền. 

Có tiền trong tay, tôi lại mơ ước cho các con đi du học, bởi nền giáo dục ở nước nhà quá tệ, môi trường chính trị, xã hội, thiên nhiên… ở Việt Nam đều quá tệ. Tôi muốn con tôi được học hành tốt hơn, có một cuộc sống tốt hơn. Vậy là lại tiễn con, dứt ruột xa con, xa hơn nữa.

Lake Tahoe, NV
Photo : Hai Nguyen

Nỗi cô đơn trong tôi không chịu già đi theo tôi mà còn tiếp tục lớn lên, tôi càng già yếu đi thì chúng càng lớn mạnh. Tôi, bé xa cha mẹ, lớn xa con, già càng xa con hơn, suốt đời trơ trọi một mình.

Trái tim tôi, tâm hồn tôi mong manh yếu đuối, dễ tổn thương, dễ vỡ, rất thương người và cả tin, đó có lẽ do những gì tôi thiếu thốn và khát khao suốt cuộc đời này mà không có được.

Các bạn lớp 10c của tôi rất đỗi lạ lùng về tôi bây giờ, rằng cái cô bé Hạnh nhỏ nhắn mơ mộng yếu đuối uỷ mị ngày nào sao giờ có thể mạnh mẽ đứng dậy đối mặt với bạo quyền và hiểm nguy, bất chấp bị đánh đập, tù đày. Thực ra sự mạnh mẽ ấy xuất phát cũng từ TÌNH THƯƠNG YÊU. Nhưng các bạn không biết rằng, Thuý Hạnh yếu đuối ủy mị và mơ mộng ngày xưa vẫn còn nguyên trong tôi, ở trong tôi luôn có hai con người, MẠNH MẼ và YẾU ĐUỐI.

Mấy hôm nay tinh thần tôi rất không ổn, tôi thực sự muốn thoát khỏi cuộc sống này để về với mẹ tôi ở thế giới bên kia, để được chăm sóc mẹ, và được mẹ dỗ dành, vỗ về, an ủi chở che..

Poulsbo, Port Angeles & Kingston, WA
Photo Hoàng Hải

Nhưng mọi người khuyên tôi phải biết quý trọng cuộc sống, đặc biệt em Phạm Thanh Nghiên và một bác sĩ quyết tâm giúp tôi, bởi còn nhiều người cần đến tôi. Vậy tôi xin vài hôm không vào fb, sao nhãng trách nhiệm với mọi người, để tạm lo cho mình.

Có một điều không thể thay đổi, là suốt cuộc đời tôi không oán thù, tôi yêu thương trân quý tất cả mọi người, và luôn muốn giúp đỡ, muốn bù đắp cho bất cứ ai. Trong cuộc đời tôi ai giúp tôi chỉ bằng móng tay tôi cũng suốt đời mang ơn. Tôi luôn muốn sống có ích, và tôi yêu cháy bỏng TỔ QUỐC này, tự hào ngất ngây được làm người VIỆT NAM.

P/S

Tôi chân thành tạ tội nếu trong cuộc đời tôi đã từng có lỗi với ai đó. 

Và xin đừng chê trách tôi yếu đuối. Ai cũng muốn vô tư và mạnh mẽ, nhưng trời sinh ra như vậy, đó là điều bất hạnh chứ ko phải xấu xa thua kém.

Mùa Thu ở Silver lake, Mammoth CA

Nang TranĐiểm tham quan , du lịch , cảnh đẹp ở Mỹ

Xin chia sẻ chuyến đi mini 1 ngày  của mình tới SILVER LAKE , MAMMOTH . Mình đến tối thứ 7 tại Mammoth ngủ lại hotel ở đó , sáng sớm mình di silver lake và 1 số lake trong vùng đó khoảng 3h nắng gắt lên thì mình chạy về , tới O.C  là 8h tối. Nếu bạn nào mê mùa thu thì cuối tuần bạn có thể đến nơi này , lá vàng peak nhất luôn màu sắc không khác gì những nơi nổi tiếng là đẹp như Colorado, Các bạn ráng thức dậy sớm và có mặt ở SILVER LAKE trước 7h vì bình minh ở đây rất tuyệt vời , nếu may mắn những ngày trời lạnh ban đêm và sẽ nóng lên ngày kế tiếp thì khi Mặt Trời mọc lên sẽ có 1 lớp sương trên mặt hồ nhìn rất là dreamy luôn, khá lạnh nhớ phải có đồ ấm không thì ko chịu nổi đâu , đến tầm 830 thì đi vòng lên JUNE LAKE cũng có nhiều cảnh đẹp và 1 vài town nhỏ vỡi những con đường lá vàng 2 bên, thích hợp cho ai muốn sống ảo

P/s :nếu không có book duoc phòng ở SILVER  LAKE thì book ở  MAMMOTH  city cách 30 phút cũng được. Cẩn thận freeway 395 ,có nhiều cảnh sát bắn tốc độ ven đường.  Có 1 năm mình đi và may mắn gặp được sương sớm trên mặt hồ , cảnh tượng đẹp y như trong phim luôn đó là hình cô gái áo đỏ cầm bó bông nhe mọi người.

Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran
Silver Lake
Photo : Nang Tran

ROSEATE SPOONBILL IN FLORIDA

Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill) là một trong những loại chim đẹp nhất ở Florida. Người ta cũng thấy nó xuất hiện ở hai tiểu bang lân cận là Georgia và South Carolina. Giống như hồng hạc (flamingo), lông của chim mỏ thìa mầu hồng vì chúng ăn những loại cua tôm (crustaceans) chứa những sắc tố mầu hồng (carotenoid pigments) như canthaxanthin và astaxanthin. Càng lớn mầu hông của lông chim mỏ thìa càng đậm.
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen
Chim mỏ thìa mầu hồng (roseate spoonbill)
Photo : Khai Nguyen

NGHỀ ĐAN ĐÓ – MỘT NGHỀ TRUYỀN THỐNG YÊU THƯƠNG 

The Long

Đan đó là nghề có nét đẹp truyền thống, một điểm nhấn tinh hoa của văn hóa cổ xưa, được hình thành và phát triển từ rất lâu đời tại Việt Nam. Trải qua rất nhiều giai đoạn thăng trầm của thời đại, đến nay nghề Đan Đó vẫn ngày càng khởi sắc và giữ vững một chỗ đứng nhất định trên thị trường hiện nay. Tuy nhiên, tồn tại bao lâu nữa là do con người trên quê hương mình có muốn cùng nhau giữ nó không là một câu hỏi vô cùng thống thiết.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Để hiểu rõ hơn về nghề này cũng như công việc của những nghệ nhân khéo léo như thế nào, hãy cùng theo chân tôi đến làng nghề Đan Đó tại vùng đất Hưng Yên xinh đẹp bạn nhé !

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Một lần qua Hưng Yên, thấy khung cảnh yên bình vùng đất nơi đây và cuộc sống êm đềm của một gia đình nhỏ có truyền thống làm nghề Đan Đó, lòng tôi dâng lên nhiều cảm xúc và nó đã thôi thúc tôi viết bài viết hôm nay.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Những buổi sáng bình minh chưa ló rạng, người cha của gia đình đã thức dậy để lên rừng chặt tre, nứa chuẩn bị làm nên một chiếc đó chất lượng. Ông phải lựa chọn rất kỹ càng vì ông biết được rằng để làm được một chiếc đó tốt phải trải qua rất nhiều công đoạn, ở bất kỳ công đoạn nào, người thợ thủ công cũng phải hết sức tỉ mỉ, những thao tác phải nhịp nhàng chính xác. Từ việc lựa chọn loại tre, chẻ nan, đan lát, hun khói chống mối mọt… đều phải thông qua đôi bàn tay điêu luyện, những kinh nghiệm và bí kiếp trải qua hàng chục năm, có khi là cả một đời tâm huyết. Khi đã chặt đủ số lượng tre cần có, người cha lại bắt đầu chất chúng lên chiếc xe cải tiến cũ kỹ mà suốt mấy chục năm qua ông vẫn hay thường dùng để vận chuyển số tre nứa về nhà.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Tiếng chiếc xe của người cha vừa về đến cổng nhà đã kêu rít cả một hơi dài, đám trẻ con trong nhà khi nghe thấy là phi thẳng từ trong nhà sân ra như một quán tính để đón những mẻ tre nứa từ rừng trở về. Anh em trong nhà phụ cha lấy tre xuống xe. Họ cứ truyền tay nhau đưa những bó tre nứa vào sân. Ai cũng gồng hết sức mình, những giọt mồ hôi đã bắt đầu rơi lấm tấm trên khuôn mặt nhìn thấy mà thương.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Sau đó, người Cha và Mẹ phải dùng dao để chẻ những thanh nứa, thanh tre thành các loại nan. Kế tiếp là phải vót thật đều và mỏng. Các chị gái thì phụ mẹ đem số tre nứa vừa chặt được ra phơi cho đủ nắng.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Phơi xong, lúc này là đến công đoạn quan trọng nhất! Họ chia ra đan để tạo nên thành phẩm. Ở công đoạn này, tôi thấy được sự vất vả, kỳ công cũng như sự tỉ mỉ của người mẹ.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Để tạo thành những chiếc đó, người đan cần có sự chăm chỉ, kiên nhẫn và tình yêu nghề mới tạo ra những sản phẩm tinh tế, bền chặt được. 

Những lúc xế chiều, cả gia đình cùng quây quần bên bếp lửa đỏ hồng để gác bếp hun khô những chiếc đó mình vừa tạo ra. Công đoạn này vô cùng cần thiết vì nó là mấu chốt để những chiếc đó được tăng độ bền và giúp cho chúng chuyển màu nâu cánh gián tuyệt đẹp và vừa mắt.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Đến lúc này, tự nhiên tôi thấy khóe mắt mình hơi cay. Chẳng phải mắt tôi cay vì than củi mà chính là vì tôi thấy trước được sự khó khăn của ngày mai với nghề Đan Đó, của những người thợ nghề truyền thống luôn muốn giữ lại những nét đẹp đơn sơ mà dịu kỳ của cha ông.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Khi cuộc sống đang có quá nhiều những thay đổi mới, sẽ có lúc những chiếc đó kia sẽ bị cạnh tranh bởi những sản phẩm của công nghệ hiện đại, rồi những chiếc đó cổ truyền sẽ về đâu? Nó sẽ có còn tồn tại hay không hay sẽ đi vào quên lãng? Nghề Đan Đó truyền thống có bị mai một hay không và có bị chìm xếp vào trong ký ức?

Dẫu biết tương lai mịt mù đang phía trước, nhưng nơi Hưng Yên kia, những người thợ nghề đó vẫn đang làm. Họ làm vì muốn giữ lại những sản phẩm truyền thống khỏi mai một lãng quên! Họ muốn góp phần bảo tồn những di sản quý báu của cha ông bao đời để lại! Họ làm vì niềm tự hào của quê hương! Của con dân và giống nòi Lạc Việt.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Tôi thật sự khâm phục tinh thần của họ, cho dù có vất vả thế nào thì họ vẫn luôn giữ nụ cười tươi tắn trên môi. Họ lấy niềm vui đó làm động lực cho những chuỗi ngày dài đầy thử thách đang giăng chờ phía trước.

NGHỀ ĐAN ĐÓ
Photo : The Long

Mỗi ngày qua, trên miền núi rừng Hưng Yên, hình ảnh người cha vẫn thấp thoáng trên con đường làng với chiếc xe đạp chất đầy những chiếc đan đó truyền thống được buộc lại vào nhau vô cùng mỹ thuật từ từ lăn những tiếng bánh xe tròn kẽo kẹt mang ra chợ bán. 

Những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ đó đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng tôi khi nhắc về những con người tuyệt vời ở nơi này. Hay là tim tôi đã để quên bên rừng núi Hưng Yên?

Bài và ảnh : The Long

Rosendin park

Andy NguyenDu Lịch – Cảnh Đẹp – CALIFORNIA

Con đường đi đến Rosendin park thật đẹp lượn cong theo viền đồi và có khi xuống rồi lại lên như chữ U bên dưới những vòm cây Oak.  Rosendin park không có đia chỉ rõ ràng, mọi người GPS “Woodchopper Flat Picnic Area” và đi đến lúc đường rẽ đôi (see map ở ảnh cuối):

.

Rẽ phải sẽ dẫn xuống hồ đến nơi chụp ảnh hoa tím như ảnh 3-5.  Chiều hôm thứ Nhật vừa rồi ra “Đồi hoa sim tím” đông vui như hội.  Cho con gái mượn máy đi chụp cho bạn nên đành phải chụp bằng phone vậy.

.

Keep trái là đi theo “Holiday Dr” sẽ dẫn đến “Rosendin park” ở cuối đường.  Park cũng có những patch hoa tím Lupines thấp và nhỏ.  Nếu hên thì gặp nai (ảnh 1,2, 4 …).  Dự định quay trở lại lần thứ 5 để chụp ảnh làm 1 album chỉ về con đường này.

.

Woodchopper Flat Picnic Area:  5200 E Dunne Ave, Morgan Hill, CA 95037

Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen
Rosendin park
Photo : Andy Nguyen

Ống khói Cát Linh

Giang Công Thế

Hà Nội vừa có Bí thư xuất thân từ Hoa Lư, trước đó từ Nghệ An, Thái Bình, Thanh Hóa. Mỗi vị để lại một dấu ấn. Hy vọng người Hoa Lư mang một điểm nhấn khác tới thủ đô. Chợt nhớ bài Ống khói Cát Linh viết năm 2018.

Nhớ lần tới khách sạn Pullman (Horison ngày xưa) ở phố Cát Linh có chút việc ở City Bank, mình cứ vòng vèo mãi quanh cái ống khói xây bằng gạch đỏ. Nhớ thời lâu lắm khi Cát Linh là phố output (bán thiết bị nhà vệ sinh, nhà tắm) và Nhật Tân là phố input (bán thịt chó), qua hai phố này là đủ thấy Hà Nội thời bao cấp.

Cát Linh có cái ống khói “nghe nói” của lò gạch Đại La còn “sống sót” từ thời bao cấp. Mình khâm phục ai đã giữ được cái ống khói mà chưa chừng Chí Phèo đưa Thị Nở đi chơi vào một đêm trăng.

Photo HM

Đọc biển inox ghi lịch sử mới biết lò gạch này bắt đầu thời kỳ “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của xứ ta từ cách đây 100 năm. 

Ông chủ là nhà tư sản Năm Diệm nung gạch khá thành công, nhưng rồi thời cuộc đổi thay, chủ khác vào, giữa những năm 1990 họ bán cho khách sạn Horison, một trong các khách sạn 5 sao đầu tiên của Hà Nội.

Trong đồ án xây dựng, các nhà thiết kế đã từng có ý định phá hủy chiếc ống khói của nhà máy gạch. Rất may là cuối cùng “chứng nhân lịch sử” được giữ lại để trang trí cho khách sạn do bên phá đặt giá quá cao.

Ống khói của nhà máy gạch này từng là một trong những công trình kiến trúc cao nhất của thời bao cấp ở Hà Nội vì cao những 50m, nhưng giờ thì Lotte hay Keangnam vô hồn xóa kỷ lục.

Những người tôi quen có anh Martin Rama chiến đấu không mệt mỏi cho việc bảo tồn Hà Nội cổ. Anh có cuốn sách ảnh “Hà Nội một chốn rong chơi” do anh chụp và viết, hiện theo dự án “Sustainable Urban Development in Hanoi – Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội” do anh khởi xướng và chủ trì. Dự án nhằm cố vấn cho thành phố làm sao phát triển cái mới và bảo tồn cái cũ.

Photo HM

Ai chót yêu Hà Nội như Martin thì thích làm thế nào giữ được vẻ đẹp Á Đông pha trộn với kiến trúc Pháp, vẻ củ hành của Nga, cổ Trung Hoa và đôi chút của nền văn minh lúa nước thò thụt thấp cao, trong lòng thành phố.

Có rất nhiều khu thương mại, mua sắm trên thế giới và ở Việt Nam. Nhưng Hà Nội, cũng như nhiều thành phố khác ở Châu Á, đang thiếu một khu trung tâm thương mại đẳng cấp, có thể kết hợp việc mua sắm với các yếu tố văn hóa và lịch sử trong cùng một không gian.

London có khu Vườn Covent (Covent Garden), San Francisco có khu vực Ghirardelli (Ghirardelli Square) tuyệt đẹp, nhưng hiện chưa có một khu vực nào tương tự nào ngoài các nước đã phát triển. Trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza cũng đã cố gắng để tạo cảm giác cao cấp, nhưng tiếc thay lại trở nên phô trương.

Nhiều nhà đầu tư thấy nhà cũ thì phá đi, xây mới, là cách rẻ nhất và theo được ý của người có tiền. Nhưng những giá trị văn hóa ẩn chứa trong từng viên gạch hay bức tường có hàng trăm năm tuổi thì không thể tính được bằng tiền.

Tới thăm Pullman và thấy ống khói Cát Linh vẫn đứng đó, tôi nhớ đến cuộc nói chuyện với anh Martin Rama ở Washington DC về Hà Nội. Giá như các nhà đầu tư đều như khách sạn Horison hiểu thế nào là yếu tố văn hóa và lịch sử trong cùng một không gian.

Hy vọng 100 năm nữa du khách tới Pullman sẽ còn thấy ống khói Cát Linh có tuổi 200 năm và khi đó thì giá phòng không phải vài trăm đô như bây giờ.

HM. 8-9-2018

Sài Gòn: An lành những giấc mơ trưa

Nhiều khi phải thức dậy từ 3-4h sáng để chuẩn bị dọn hàng. Nhiều khi phải ăn vội chén cơm trắng hay gói xôi vò để đến công trường, bệnh viện, trường học… Nhiều khi những đêm thức trắng vì chưa đủ tiền gửi về quê cho mấy đứa nhỏ. Nhiều khi như thế, họ cần những giấc mơ trưa.

Ta đang nói về cánh xe ôm, bảo vệ hay những người bán buôn dọc khắp các con phố ở Sài Gòn. 12h trưa khi dường như mọi thanh âm lao động tắt hẳn thì người ta lại bắt gặp đâu đó ở góc đường Trương Định, Cô Bắc, Võ Thị Sáu,… là những giấc ngủ vội vàng. Mặc cho khói bụi và tiếng xe cộ rền vang inh ỏi họ vẫn gắng tìm vài phút thảnh thơi ngắn ngủi trong quá nhiều lo toan.

Ở một nơi mà người ta có thể nghe được giọng nói của nhiều vùng miền khác nhau thì những giấc ngủ trên đường phố cũng trở nên bình thường. Sài Gòn hào phóng trong lối sống, giản dị trong cách nghĩ. Chỉ cần nhìn những gương mặt vô tư ngủ trên hè phố người ta có thể mường tượng về người dân của một xứ sở bao dung nghĩa tình. Vậy nên không có gì ngạc nhiên khi chỉ với một cái ghế, một đôi dép là đã đủ đầy cho một giấc ngủ trưa.

Không chỉ ngoài đường phố mà trong những con hẻm, những giấc ngủ vẫn cứ bình yên đến lạ. Bởi ngoài kia đời sống đã chật chội đến nghẹt thở.

Dù không thường nghỉ trưa nhưng cụ bà bán quà vặt trên đường Nguyễn Thái Học cho hay: “Nhiều lúc đi nhiều mỏi quá nên người ta ngủ một chút. Như bà đi bán từ cầu Ông Lãnh qua trường Lê Hồng Phong mệt lắm con à”. Mệt nhưng vẫn phải làm, bởi bà còn người con út đang học năm cuối đại học và ngày ngày kiếm chút tiền gửi cho con sinh hoạt. 60 tuổi, tóc bà bạc trắng. Chừng ấy giấc ngủ là chừng ấy ngày bà đi qua những mưu sinh nhọc nhằn. Có giấc mơ nào điểm lại màu đen trên tóc không?

Có những ngày Sài Gòn nắng như đổ lửa. Đi ra đường thấy ai cũng cầm trên tay chiếc quạt phe phẩy, vài người gật gù trên ghế. Có những ngày Sài Gòn mưa nhiều vì cơn áp thấp. Dưới mái hiên là những nỗi lo đong đầy trong ánh mắt xa xăm. Nắng tháng ba oi nồng, cái hanh hao dễ đưa người ta vào giấc ngủ vội. Nhưng ở đó tuyệt nhiên không hiện lên bất kì sự khắc khổ, uể oải hay rũ rượi mà thay vào đó là những gương mặt bình yên và thảnh thơi đến lạ. Sài Gòn an lành những giấc mơ trưa!

Nguồn : https://saostar.vn/xa-hoi/sai-gon-lanh-nhung-giac-mo-trua-1121199.html