Ontario Peak

Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham
Ontario Peak-Photo by Lien Pham

CHUYỆN CỦA LỤT

“Ngồi một chỗ thì không biết được, người đi đường luôn bị mê dụ bởi bao nhiêu thứ lạ lùng…”

(Nguyễn Ngọc Tư)

.

Lúc đó đang bữa cơm chiều, ông Sơn Đông đi ngang qua xóm. Không đợi ông cất cái giọng lơ lớ lên, cũng chẳng cần ngó ra lộ xóm người ta vẫn biết chính ông Sơn Đông, không ai khác, kẻ kích động bầy chó lên cơn khùng. Khó kiếm con chó nào, dù nhã nhặn nhất có thể nhịn được người vừa đi vừa chém hai thanh kiếm vào nhau, và trên người treo đầy bị lớn bị nhỏ, và đầu đội mão gắn cặp lông chim trĩ cong oằn.

“Lụt, chạy ra mua chai thuốc xức ghẻ”, má cạo cơm cháy trong bếp, kêu với ra, dù không biết ông Sơn Đông đã qua khỏi nhà chưa. Khó mà xác định phương hướng ông ta khi mà bốn hướng đều dậy tiếng chó.

“Lẹ, ổng đi mất bây giờ” – má hối. Không nhìn thấy thằng Lụt bởi bức vách chắn ngang, má vẫn biết nó còn đang đắm đuối nửa cái trứng vịt luộc dầm nước mắm còn nằm trong chén, giữa mấy hột cơm khô rời. Muốn bỏ miệng ăn luôn, nửa lại muốn nhâm nhi từng chút.

“Mầy chưa hết ghẻ là còn phải ngủ với thằng tía say xỉn của mầy hoài, chắc thích?”, bồi thêm câu nữa, má chính thức nhổ thằng Lụt khỏi nửa cái hột vịt. Nó tụt khỏi bộ ngựa cái ào, tuôn ra cửa. Quần cộc giãn dây thun chực tụt khỏi hai búi mông teo nhách. Nó co giò chạy với một tay vịn lại cái quần.

Ảnh trong phim “Đất phương Nam”

Nghĩ ông Sơn Đông đi về phía đập Chẹt, ra khỏi hàng bông bụp nó ngoặt một cú trẹo sườn. Lũ chó ở cả xóm vẫn sủa ngây, dù người đàn ông ấy đi rồi, chúng vẫn sủa vào ký ức, nơi hình ảnh dị mọ cùng với mớ âm thanh lạ tai vẫn sống động tươi nguyên. Chúng sủa vào những cái bóng hãy còn ngọ nguậy chưa chịu biến tan trên đất.

Nhờ dỏng tai nghe ngóng trong lúc chạy, Lụt nhận ra tiếng chó đang nở rộ phía sau lưng nó. Và bàn chân nó cũng ngược hướng bàn chân ông Sơn Đông in trên sình ướt. Lộ xóm có hàng trăm dấu chân hay nhiều hơn nữa, thì nó vẫn nhận ra dấu chân của ông Sơn Đông, nhờ ngón cái bị cụt trụi của ổng. Lúc quay lại, chạy ngang nhà nó khựng thoáng chốc, rướn cổ ngó vô, thòm thèm nửa cái hột vịt dầm nước mắm, lo không biết có bị nhỏ em lén lấy ngón trỏ quẹt hết lòng đỏ ăn không. Trong hột vịt, lòng đỏ là béo nhất.

Lụt chạy theo ông Sơn Đông tới lộ cái thì mất dấu chân. Lộ tráng nhựa, không có sình. Nhưng ông vẫn để lại nhiều dẫn dụ khác cho thằng Lụt đâm đầu đuổi theo. Chút nữa thôi sẽ bắt kịp, chắc chắn vậy.

Trong tròng mắt của lũ chó vẫn chưa hết nhớn nhác, vẫn in hằn cái bóng dị hợm của người đàn ông vừa đi qua, mùi thuốc lởn vởn còn vương trên đám cỏ cụt đầu. Không phải tự dưng chúng cụt đầu, ông Sơn Đông chém chúng bằng đôi kiếm lạnh. Và một vài người đứng bên đường đang cầm gói thuốc mới mua được, thứ thuốc tán hôi rình, trị đủ thứ bịnh trên đời.

Chiều tà tà bước tới, thằng Lụt có chút hoang mang nhìn mặt trời sửa soạn bỏ rơi thế giới của những bụi rậm ven sông, bìm bịp kêu ngắn dài từng chập, tiếng gà kêu ổ, con đường nhựa loang lổ ổ trâu, những người đi hối hả. Vịn một người đi ngược hướng mình, thằng Lụt hỏi thăm có thấy ông Sơn Đông đằng trước.

“Giờ chắc ổng gần tới cầu Ván”, người kia trả lời, rồi nhìn cái đầu trọc khảm đầy ghẻ của Lụt, ái ngại, “gì chớ thuốc ghẻ của ổng là hết sẩy”.

Lụt chạy tới cầu Ván thì một thím bồng con qua, nói: “Ổng cuốc bộ ra bến tàu rồi, mầy cẳng dài chạy một hơi chắc kịp”. Rồi day qua đứa con, thím lườm một cái, “thấy anh này ghẻ ớn chưa, biểu tắm mà không nghe”. Lụt muốn cãi rằng tắm cũng ghẻ như thường, cái số ghẻ thì ghẻ thôi, nhưng đôi chân của nó đã tung vó.

Chuyến tàu cuối cùng đã mang ông Sơn Đông đi trước khi thằng Lụt tới. Mặt nước còn chao, sóng vẫn đang dỗ dành vào đôi bờ lá. Ngó tàu đò khuất sau doi làm thằng Lụt vô vọng đến nỗi phải ngồi thụp trên mấy thân dừa người ta đốn kê dưới bến, thở muốn bể phổi mà không ra hơi. Một ông chạy chiếc Mô Bi Lết lạch bạch ngang qua, kêu: “Ê nhỏ muốn rượt theo thằng cha mãi võ hoàn tán thì leo lên, xe tao dọt lắm, thể nào cũng kịp chặn đầu chả ngay bến chợ”.

Không đắn đo gì hết, thằng Lụt lấy hết sức búng cái thân hình kẹp lép của nó lên yên sau của chiếc xe nghe tiếng đầy vẻ thù hằn. Nó muốn vịn hông ông kia, nhưng sợ lây ghẻ qua ổng nên đành nắm chặt cái gờ dưới yên xe.

“Mầy còn ở đó chớ, nhỏ?” – ông kia hỏi, khi nghe đằng sau nín khe, tưởng thằng Lụt đã văng mất khi qua mấy cái ổ gà.

Bóng tối từ những cái hang chù ụ dâng lên dâng lên ngập tới trời. Lụt tuyệt vọng nhớ về nửa cái hột vịt dầm nước mắm. Dễ gì cái thứ béo mặn ấy còn nằm nguyên trong chén cơm khô, khi mà suốt buổi chiều nó chạy như chó dại ngoài đường, con Lì ngu gì mà không lủm gọn.

Ý nghĩ đó làm nó buồn quá sức, trong lúc người đàn ông đằng trước đang ngêu ngao hát bài gì chiều nay sương gió lên khơi, lòng bao thương nhớ tơi bời. Lụt sợ mình sẽ khóc luôn nên bẻ ngoặt ý nghĩ qua những bãi ghẻ trên người, chúng sẽ khô mài nhanh, nó sẽ trở lại ngủ chung với con Lì, với má, hai con người thơm và ấm nhất đời.

Sập tối thì tới bến chợ. Chiếc tàu đò chở ông Sơn Đông đã cập bến chừng năm phút trước, giờ họ vẫn đang giở hàng, đưa mấy con heo trong cũi lên bờ. Ông ta không còn ở đó. Người ta nói sớm mai thể nào ổng cũng quay lại bến tàu, từ đây ổng ngồi tàu đi tới những xóm làng hui hút, kiểu như xóm Lụt. Ông Mô Bi Lết mua cho thằng nhỏ ổ bánh mì, gãi cổ nói: “Tao chạy hết ga rồi, chắc bữa nay ít khách nên tàu dọt lẹ hơn, thông cảm mậy”. Thằng Lụt mụ đi bởi mùi bánh mì dồn thịt chan nước sốt cà, đến nó không còn sức để hờn oán rủi may.

“Có sao đâu, tui nằm đây chờ, sáng dậy đón ông Sơn Đông rồi quá giang tàu đò về” – thằng Lụt nói. Lời bị ngốn trong cái họng nhồm nhoàm bánh mì. Nỗi buồn về nửa cái hột vịt dầm nước mắm chiếm đóng nó suốt dọc đường, đã bị đánh bật ra.

Sau này về nhà, thằng Lụt kể nó ngủ ngay khi ăn ổ bánh mì xong, cả ngày chạy rã giò nên thấm mệt. Sáng sau nó dậy lúc tàu còn chưa ra bến, nhưng ông Sơn Đông không xuất hiện ở đó. “Bữa nay chủ nhựt chợ đông, ổng bán bể tay, đi xa chi cho mệt”, con bé bán bánh cam nói, ngó cái đầu ghẻ lầy ghẻ lội của thằng nhỏ nhà quê, thở dài, “muốn kiếm ổng thì theo tui”.

Hai đứa nó, một ghẻ một không, đã đi lòng vòng từ chợ đông tới chợ tàn, qua những dãy phố tàu phố tây, ăn cháo trắng củ cải muối ở bếp ăn trong nhà thương thí, lại đi qua những phố tây phố tàu, xin được hai khúc mía xước chơi, phấn mía dính trên khóe miệng như hề, vừa đi vừa rải xác mía trên những phố thắp đèn xanh đỏ.

Tới đây chắc bạn hết kiên nhẫn rồi, rốt cuộc thằng Lụt đó có kiếm được ông Sơn Đông không. Tôi đâu biết. Phải đi theo nó mới biết. Giờ nó vẫn đang lang thang theo con nhỏ bán bánh cam qua nhiều xóm hẻm xóm nước đen xóm mả Tàu, tìm ông bán thuốc ghẻ. Cái thằng ốm ròm, nhưng lì, chịu khó.

Có lần đuổi theo một con chàng bè vuột bẫy qua ba vạt đồng, chim gãy cánh bay không được xa, thằng Lụt càn qua kinh qua mương qua không biết bao nhiêu bờ mẫu, rốt cuộc lượm được chiến lợi phẩm đem về.

Chưa bao giờ Lụt nản lòng, dù đuổi theo con cá thác lác chuyên phá mồi câu hay theo dấu của ông Sơn Đông bán thuốc. Ở những nơi ông vừa mới rời đi, người ta vẫn còn trầm trồ ổng gồng kiểu gì mà dùng bụng bẻ cong cây giáo, ông bào chế thuốc kiểu gì mà bịnh chi uống vô cũng tan bay. Nhiều mảnh sành còn nằm vương vãi trên đất, chắc ông Sơn Đông đập bể chúng bằng trán mình.

Người đàn ông kia không lúc nào biến mất hẳn, những dấu hiệu ông để lại suốt đường thằng Lụt đi gieo một cảm giác vô cùng tin cậy rằng, chỉ qua khúc cua kia, hoặc co giò chạy chừng trăm thước nữa, nó sẽ gặp ông ta, chìa tờ giấy bạc quắn quéo ra nói: “Bán tui hai chục đồng thuốc ghẻ”.

Sự thật là đã có một lần hai người họ gặp nhau, ở một bãi võ đầy cứt ngựa sau đình chợ. Lụt hỏi mua thuốc ghẻ sau khi ông Sơn Đông múa xong bài Song kiếm hợp bích thần sầu. Vỗ đùi tiếc nuối, giọng ông vẫn lơ lớ như mọi khi.

“Rủi quá chú em, qua không có sẵn thuốc ghẻ ở đây. Chỗ này đâu ai bị ghẻ nên ngộ quải theo chi cho nặng”, chừng như thấy thằng nhỏ sắp xuống nước mắt, ông nói luôn, “chờ đây, chừng dọn bãi thì theo ngộ về nhà lấy thuốc”. Thằng Lụt đã tót lên cái sạp thịt heo nằm chờ ông Sơn Đông diễn cho hết võ, cho tới khi nó giật mình thức giấc thì ông đã biến mất. Cái ý nghĩ rằng ổng cũng đi kiếm mình để bán cho bằng được gói thuốc ghẻ làm thằng Lụt thấy áy náy ghê gớm.

Xuống bến tàu tìm ông, người ta nói ổng ngồi tàu đò đi Mỹ Thơ. Lại có người nói đâu phải, ổng đi tàu kinh Hội. Nghe ông Sơn Đông đi đâu, Lụt đi theo đó, nó tìm thấy những dấu chân chín ngón còn ướt, cỏ đuôi mèo cụt ngọn rỉ nhựa ra, những con chó sủa đổng vào một bóng người kỳ dị in hằn trong mắt, trong chiêm bao chúng.

Vài lần qua những xóm làng vào lúc chạng vạng nhuộm toàn thân Lụt thứ bóng tối nhờ nhợ, vài lần nó nhớ chừng này chắc con Lì đã lùa vịt vô chuồng, má cọ rửa mấy cái nồi ngoài cầu ao, và tía nó đang vịn từng cây chuối về nhà, có thể đã qua cầu Chẹt, chửi cha cái bóng chập chờn dưới mặt kinh. Má con nó không bao giờ có thể giải thích nổi, sao một người xỉn mèm lại có thể qua được chục ngoài cây cầu khỉ để về nhà.

Những hồi nhớ đó khiến Lụt muốn lập tức quay về. Nửa hột vịt kia chắc con Lì ăn mất rồi, nhưng má sẽ luộc cái khác, sau đó chia đôi cho hai anh em. Nhưng nó thật sự không biết đi hướng nào, và đi bao lâu thì tới. Nó níu một bà già hỏi xóm Chẹt có gần đây không, nhưng bà kia ngẩn ra hỏi lại xóm Chẹt ở đâu. Rồi bà ghé tai vào ông già đứng kế bên, hỏi như gây lộn, “Xóm Chẹt đó, biết không?”. Ông già cười, “ờ dừa đẹt chỉ cho, không bán”. Có lần gặp người vá lu, ông nói xóm Chẹt nào ông cũng biết, “mà thằng nhỏ mầy ở Chẹt nào?”.

“Xóm tui có sông chảy qua”, Lụt nói, tự thấy vô vọng. Đất này ở đâu mà không có sông nước chảy qua. Nó không nhớ ra đặc điểm nào khác về xóm mình, ngoài con sông trước nhà, đàn ông say trẻ con bị ghẻ và bóng tối, nhiều vô kể.

Thằng Lụt quá giang từ tàu đò tới xe kiếng, xe bò, được người ta cho ăn những thứ ngon hoặc không. Hồi đầu Lụt chỉ việc ăn rồi quẹt mỏ đi, nhưng sau này nó nán lại vác tiếp vài táo gạo, cần xé đường, gánh năm ba đôi nước, lấy công đổi cơm. Làm hối hả không kịp thở, sợ mất dấu ông Sơn Đông.

Nhưng bao giờ cũng vậy, ông chẳng làm thằng Lụt vô vọng, chỉ cần ngó thấy đứa nhỏ đầu đầy ghẻ chốc cầm chong chóng tre chơi trước nhà, mớ ghẻ bôi thuốc tán đã khô mài, nó biết ông Sơn Đông vừa qua đây. Bất giác, Lụt rờ đầu mình, trên đó giờ tóc đã mọc rồi lại cạo trọc nhiều bận, không biết ghẻ đã hết từ hồi nào.

Nhưng Lụt vẫn đi tìm ông Sơn Đông, chừng gặp được ổng mua thuốc ghẻ xong, có thể nó sẽ biết làm gì kế tiếp. Một bữa, qua xóm Mù Khơi gặp hai cha con ông nọ đang lội mé rạch đốn lá lợp nhà, Lụt đứng coi, nhớ má hay đốn lá một mình. Ông kia ướt ngoi, thấy có thằng chỉ đứng trên bờ thừ ra không làm gì, tưởng ngắm con gái mình, lúc này cũng ướt. Nghĩ tới chuyện chỉ hai cha con chẻ lá, phơi phóng, lợp nhà thì ngại quá, ông biểu con gái kéo lá lên bờ. Lụt nhìn cái bắp vế trắng lộ ra dưới lớp vải nâu xoăn quá gối, nuốt nước miếng nói để tui tiếp một tay.

“Anh đi đâu mà qua đây?”, cô gái hỏi, dạn dĩ ngó thẳng vào mắt Lụt. Nghe về ông Sơn Đông, cô nói luôn trong lúc cúi xuống vắt nước đôi vạt áo bà ba, “ổng mới ngang đây, tía tui kịp mua mấy gói thuốc đau lưng. Anh đi lẹ là kịp ổng”.

“Phải ông chín ngón không?”.

“Chớ ai”, cô gái thở hắt ra, người gì chỉ thở thôi mà lúm đồng tiền sâu hút. Lụt suýt té vô đó mấy lần.

Lụt nhìn ra con đường xóm nhỏ xa mờ trước mặt, rồi ngó lại đường xóm nhỏ xa mờ sau lưng, nghĩ ông Sơn Đông giờ chắc nghỉ chân chỗ nào đó, chờ nó. Dợm bước đi thì ông già dưới kinh kêu vói lên: “Ở chơi, nay mai gì thằng chả cũng đi ngang đây”.

“Phải ông chín ngón tui mới chịu nghen”, Lụt nói, mắt không rời khỏi dòng nước lắt rắt chạy trên người cô gái.

“Bao nhiêu ngón cũng có. Xứ này Sơn Đông thiếu cha gì”.

Ông già không nói dóc. Có nhiều ông Sơn Đông đi qua xóm, lúc Lụt ở lại với ông suốt mùa khô năm đó, lợp lại mái nhà. Họ múa kiếm hoặc múa thương, đầu đội mão lông trĩ hoặc không, bán mọi thứ cao đơn hoàn tán. Chỉ có thuốc ghẻ là không, hoặc có thì cũng đã bán hết sạch trước khi tới chỗ Lụt.

“Thuốc đó sư huynh ta còn”, họ nói, bằng cái giọng lơ lớ, “chú mầy chịu khó chờ huynh ấy”.

Lụt chờ tới mùa mưa thì ông già đi vắng, để cô con gái lại một mình, Lụt không nỡ bỏ đi theo dấu chân ông Sơn Đông vừa để lại trên con đường xóm. Những dấu chân còn ướt, mới tinh. Chắc là lúc nó ôm cô gái ứ hư ừ hư, ông đã đi ngang qua cùng với đám chó động kinh. Giống như hồi nào Lụt lang thang tìm ông, đã tình cờ ngang qua mà không nhận ra người đàn ông kia đang nằm vắt vẻo trên nhánh me tây cạnh mái đình.

Sau này trở về nhà, Lụt nói chắc ông Sơn Đông chín ngón đã ngang qua nhà lúc nó đang quạt mẻ than cho vợ nằm cử, lúc cõng đưa con bị sốt đi kiếm ông y sĩ vườn, hay lúc đi làm chủ lễ cho mấy đám cưới trong xóm, lúc ngồi tàu đi hỏi vợ cho thằng con cách bảy vạt đồng. Lụt về, thấy cỏ cụt ngọn, mùi thuốc hăng hăng trên những tàu chuối khô và mấy con chó trong nhà nằm dưới gầm giường sủa mãi vào cái bóng trong đầu chúng. Lụt cứ chờ đợi tìm kiếm rồi bỏ lỡ người đàn ông đầu mọc lông chim trĩ ấy.

Một bữa đi nhà thương thăm cháu nội mới sinh, Lụt gặp một người đàn bà luống tuổi nuôi cháu ở giường bên. Bà kể về một ông Sơn Đông chín ngón bán thuốc thần sầu.

“Cậu con chạy theo mua thuốc ghẻ tới giờ chưa về chớ gì”, con dâu bà chặn họng luôn, như thể nó nghe chuyện này phát chán.

Bà già không tỏ ra phật lòng, nắn gót chân trắng hồng của đứa trẻ sơ sinh, thở hắt.

“Đời con người ta thấy vậy mà ngắn thiệt, cậu Lụt tụi bây đi mua thuốc ghẻ thôi cũng mất mấy chục năm”.

Anh em Lụt nhận lại nhau trong căn phòng đó. Cô em mếu máo kể đã từng đi kiếm thằng anh mua thuốc ghẻ mãi không về, cô đi ra bến tàu, họ nói thằng nhỏ ghẻ lầy lội đó ra chợ rồi, Lì nhảy xe bò ra chợ, người ta nói anh đã xuống đò đuổi theo ông Sơn Đông.

“Cứ kiếm ông Sơn Đông là gặp thằng anh mầy thôi”, người ta nói.

Tới đây chắc bạn nổi khùng, tưởng câu chuyện đang lặp lại buồn chán không chịu nổi, cái vòng luẩn quẩn người tìm người, người trôi dạt trên những nẻo đường vô tận. Nhưng bạn ngồi một chỗ thì không biết được, người đi đường luôn bị mê dụ bởi bao nhiêu thứ lạ lùng. Một ông già cưỡi cá sấu đi giăng câu. Một con chó đá bị chim ó cắp đi chục ngoài cây số. Ai đó bị chém đứt đầu mà miệng vẫn chửi leo lẻo.

Và ở cái miền sông ấy người lỡ đường, nhất là một đứa trẻ, không thể đói lạnh được, nó luôn tìm được miếng ăn, chỗ ngủ ở bất cứ đâu. Quan trọng là cuộc tìm người của nhỏ em cũng chưa được bao xa, thì có xe đò chặn đường nhắn rằng má hấp hối mau về.

“Phải không về chịu tang má là tui đuổi theo anh tới ổ rồi” – Lì mếu máo.

Bữa cơm sum họp của hai anh em ê hề thịt cá, nhưng Lì luộc thêm cái hột vịt, đem xẻ đôi dầm nước mắm. Hỏi tía đâu, Lì ngưng tay cạo cháy nói vói ra: “Chừng này chắc ổng đang níu tay chuối lần về”. Lụt dựng đũa nhìn nửa cái hột vịt dầm nước mắm nằm gọn trong đáy chén, vách chén dính mấy hột cơm khô, nghĩ sao giống mơ quá. ■

(Ảnh trong phim “Đất phương Nam”)

Ta nợ đời lớp tuổi hai mươi

Sông chia nhánh, cũng xuôi về biển
Tựa anh – em, giỗ – Tết lại về
Dẫu cách biệt, nghìn trùng luân chuyển
Ta nợ đời một giọt tình quê

Cánh đồng khuya, sương rơi ướt đẫm
Chú dế buồn! hát mãi không thôi
Vệt trăng non, cuối trời vừa lặn
Ta nợ em một nửa nụ cười

Đường về đích, mỏi chân chưa đến
Nghỉ bên lề, hứng ngọn Nam non
Đời dẫu đen, lòng ai ngọn nến
Ta nợ người một vệt môi son

Núi đứng lặng, ngàn đời không bước
Dầu thú hoang có bỏ khu rừng
Trong bóng đêm, chợt thèm ánh sáng
Ta nợ người hạt nắng rưng rưng

Con dốc cao, leo hoài không tới
Bước chân xiêu, gõ xuống mặt đời
Bóng chiều nghiêng, một ngày sắp hết
Ta nợ đời lớp tuổi hai mươi.

Lê Tạo

New England vào mùa thu

Tue HoDu Lịch – Cảnh Đẹp – CALIFORNIA

Ở Mỹ có rất nhiều nơi bạn có thể ngắm lá vàng vào mùa thu, ví dụ như bang Oregon, Washington ở Tây Bắc, Sedona ở Arizona, nổi tiếng hơn thì Aspen, Colorado, hay lái xe trên cung đường Blue Ridge Parkway qua các tiểu bang bờ Đông. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là những cánh rừng ở khu vực New England gồm 6 tiểu bang: Maine, New Hampshire, Vermont, Massachusetts, Rhode Island và Connecticut. 

Để canh thời gian chuẩn xác để ngắm được lá đổi màu đẹp nhất khá khó vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố thời tiết. Chỉ cần một trận bão đầu tháng10 có thể làm rụng hết lá và mùa thu kết thúc trong vòng 1 nốt nhạc 

. Có năm thì tuyết đến sớm làm lá bị đông lạnh và ko còn vàng rực nữa. Để lá vàng đẹp và kéo dài lâu nhất thì phải có nhiều nắng ấm vào ban ngày và nhiệt độ không quá thấp vào ban đêm.

Tuỳ theo từng vùng địa lý cao thấp mà lá cũng đổi màu sớm hay muộn. Ví dụ như phía bắc của bang Maine và các vùng núi ở bang Vermont, New Hampshire sẽ peak vào 2 tuần đầu tháng10 thường. Oct15-25 sẽ peak ở Western Massachusetts and Connecticut. Các thành phố ven biển như Boston, Providence RI sẽ peak sau cũng vào những ngày đầu tháng11. 

Với timeline như trên thì các bạn có thể canh thời gian cho phù hợp để đặt vé du lịch đến New England vào mùa thu này. 

Dưới đây là một vào địa điểm nổi bật ở từng tiểu bang mà mình đã có dịp đi qua. Mình có note trong từng tấm hình.

Nếu bạn thích content của mình thì có thể thả like page 

https://www.facebook.com/wetravelwebecome/

Hoặc follow tụi mình trên Instag

https://www.instagram.com/vietnamese.travelers/

Thank you

Franconia Notch, New Hampshire-Photo by Tue Ho
Woodstock Village, Vermont-Photo by Tue Ho
Wadworth Falls, Connecticut-Photo by Tue Ho
Worcester, Central Mass-Photo by Tue Ho
Crawford Notch, New Hampshire-Photo by Tue Ho
French King Bridge-Photo by Tue Ho
Moore State Park-Photo by Tue Ho
White Mountains National Forest, New Hampshire-Photo by Tue Ho
New England vào mùa thu-Photo by Tue Ho
Sleepy Hollow Farm, Vermont.
Photo by Tue Ho
New England vào mùa thu-Photo by Tue Ho
Boston Mass-Photo by Tue Ho
Beacon Hill-Photo by Tue Ho
Portland, Maine.-Photo by Tue Ho

Rampart Lakes Trail, WA

Jennifer NhuaiVietnamese Hiking Community (VHC)

Pre-scouting for fall trails.

We’ve always want to do this trail.  It’s in the area closer to home.

We didn’t have good babysitter in the past to go for a long day hike without kids.

Now kids are up their hiking strength, we decided to take them with us.

This trail is a piece of Heaven on Earth.

We definitely will go back here in the fall.

Rampart Lakes Trail, WA: 11mi RT 2600ft gain (most gain in the last 2mi; Apple Watch clocked 13.2mi including our excursion trailing 

 kids said that it’s mommy’s ISSUE-side-track trailing)

Here’s a trail stat: https://www.protrails.com/trail/745/seattle-alpine-lakes-wilderness-snoqualmie-pass-central-cascades-rampart-lakes

=======

Hướng đạo trước cho những con đường mòn mùa thu.

Chúng tôi luôn muốn làm con đường này. Nó ở khu vực gần nhà hơn.

Ngày xưa chúng tôi không có người trông trẻ ngoan để đi bộ dài ngày mà không có con.

Bây giờ bọn trẻ đã tăng sức mạnh đi bộ, chúng tôi quyết định mang chúng đi cùng.

Đường mòn này là một mảnh của Thiên đường trên Trái đất.

Chúng ta nhất định sẽ quay lại đây vào mùa thu.

Rampart Lakes Trail, WA: 11 dặm RT tăng 2600 ft (hầu hết tăng trong 2 dặm cuối cùng; Apple Watch đồng hồ 13.2 dặm bao gồm cả đường mòn du ngoạn của chúng tôi bọn trẻ nói rằng đó là ISSUE của mẹ – Đường mòn theo dõi)

Đây là một đoạn đường mòn: https://www.protrails.com/trail/745/seattle-alpine-lakes-wilderness-snoqualmie-pass-central-cascades-rampart-lakes

Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai
Rampart Lakes Trail, WA-Photo by Jennifer Nhuai

Mt. Baldy

Mấy ngày trước vợ chồng em quởn nên nửa đêm xách xe chạy lên núi. Hôm đó núi vắng, nên lúc lên đỉnh đón bình minh thì chỉ có ta với mình mà thôi . Video MM nhà em đã bỏ lên rồi, giờ em bỏ thêm hình. Lần đầu đi Mt. Baldy ban đêm. Mt. Baldy là đỉnh cao nhất của quận Los Angeles (10, 064 ft), nam California. Mặc dù rất thích thử đi Devil’s Backbone, nhưng cuối cùng em vẫn… quen đường cũ, tiếp tục đi Baldy Bowl Trail, 8.8 miles rt.
“Đi một vòng, trở lại điểm khởi đầu. Những tưởng đời người dài đăng đẳng, những tưởng thiên nhiên là cuộc mua vui chốc lát. Ta quên. Con người là sinh vật tương đối. Vũ trụ là thiên thu, bất tận. Cái bất tận ấy, chỉ một đêm, đã cạn.” (trích Thiên Nhiên Thi Cảm – Đức Trí Quế Anh)
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan
Mt. Baldy-Photo by QueAnh Doan

LỜI CHO MÁ

“Những câu đáng nói thì vì vô tâm, khờ dại nên không nói, những câu không đáng nói thì cũng vì vô tâm, dại khờ nên đã nói rồi, không lấy lại được.”

(Nguyễn Ngọc Tư)

.

Bây giờ không biết đã mấy mùa tôm rồi tôi trở thành một đứa – con – hàng – xóm. Bao lâu rồi con không còn lẽo đẽo theo gót má để chia chút dãi dầu, hả má ơi? Bao lâu rồi má không còn dịp để dạy con hiểu được ý nghĩa của giọt mồ hôi rơi xuống…

Má tôi là nông dân, suốt quãng thời gian cầm bút, mỗi khi tôi viết về người nông dân tôi lại nghĩ tới má. Trong tôi hiện lên đôi bàn chân ngắn, bè ra vững chãi, những cái móng chân khắng phèn, dày, đầy xơ. Một khuôn mặt sạm đen nửa đêm thao thức, nghe gió về lo lúa đang trổ ngoài đồng bị lem lép hạt. Một mái tóc bạc trắng, những sợi tóc sâu loăn quăn mọc trên đỉnh đầu, đám con cháu hăm he nhổ hoài mà chưa có ngày nào má thảnh thơi. Một dáng người chắc đậm tong tả đội rau đi chợ trong sương sớm. Một đôi tay cục mịch với những đốt xương thô mà sàng gạo như múa trong trưa vắng. Một bóng người sương khói ngồi tan nồi đất, cái mùi cám khét ngọt, nghe nỗi nhớ quê dậy động trong lòng.

Không có gì khác đâu, cũng như mọi bà má quê khác, má tôi cũng hiền lành, tháo vát, giỏi giang… má tôi cũng có những đứa con không bao giờ nhớ tuổi má, không bao giờ nhớ thời thanh xuân của má. Nhưng má không buồn, chỉ buồn khi tôi về, ngồi than bên bậc cửa, làm cái nghề viết văn cô độc, cực khổ quá má ơi, má tôi lặng lẽ buồn hiu. 

Buồn vì không hiểu văn chương, không thể dìu dắt, nâng đỡ tôi trên con đường nhọc nhằn đó, nhưng má không hay rằng má giúp tôi nhiều lắm.

Bảy tuổi, má dạy tôi trồng rau, tưới rẫy. Tôi lon ton đi chặt cây, kiếm sậy về cho má làm giàn cho dưa leo, mướp, đậu rồng. Những buổi chiều còn nắng, má xới đất, lên giồng, tôi lấy dao phay băm cho đất tơi ra để kịp lúc ba đi làm về gieo hạt cải. Ba má quẩy tưới thùng to, tôi nơ thùng nhỏ, nước sánh ra ướt đầm đìa. Tôi biết chổng mông ngồi rửa rau cần, ngò gai ở cầu ao cho má bó từng lọn nhỏ, tay tôi mới bợt bạt một chút má đã xót xa, kẽ tay má đầy những mảng nước ăn, đau nhức tới từng đốt xương sao má không than hả má. Nửa khuya ra chợ, tôi xách cái giỏ nhỏ chỉ đựng ghế ngồi với mấy cái bao trãi để bày hàng, má đội thúng ngò, má cứ hỏi có lạnh lắm hôn con, gió bấc thì cứ hiu hắt cắt da, nước từ cái thúng đội đầu cứ nhỏ long tong xuống đôi vai má. Khi đó tôi không hề biết hỏi, má ơi má có lạnh không, mà, chỉ câu nói của tôi, má ấm lòng biết chừng nào.

Năm tôi mười tuổi, cả xóm rủ nhau làm nấm mèo. Má cũng cố làm thêm lúc nông nhàn để tăng thu nhập.Sau mỗi buổi học, mấy anh em tôi với má bơi xuồng đi hàng năm ba cây số mua so đũa. Anh tôi đốn, róc cành xong, hai má con tôi vác xuống xuồng, sợ phía tôi nặng, má gánh tới nữa thân cây, tôi chỉ te tái vịn hờ một đầu còn lại mà tưởng mình mạnh giỏi, cái cây bự chảng vầy sao mà vác nhẹ hẩng nhẹ hơ. Đường về nhà phải qua con đập, thường là quăng cây lên để kéo xuồng qua, những lúc mưa nhiều, đập xã, nước từ trong kinh tràn ra như thác, nước cứ lăm lăm nhấn chìm chiếc xuồng khẳm lừ tìm cách đi ngược vào. Má chống chỏi đằng lái, tôi nhảy ào xuống nước nắm mũi xuống kéo đi, qua đập, ướt như con chuột, má khen tôi giỏi mà sao nước mắt má rươm rướm vậy.

Làm nấm mèo cực nhất là lúc vô mùa, phải cưa cây thành khúc, đóng lổ, vô meo… cũng không lâu nhưng đủ để vai má tôi cấn hằn những cái rảnh sâu sần như vỏ cây so đũa, đủ để mấy đầu ngón tay ám mủ và bàn tay cầm búa chai rộp lên…

Coi lại, hồi nào tới giờ, nhà tôi làm nghề gì cũng cực thấu trời thấu đất, làm gì cũng nặng nhọc, cũng có thể đong mồ hôi bằng khạp, bằng lu. Mà, dù có làm gì thì má tôi cũng là người gánh chịu nhọc nhằn hơn hết thảy, ba tôi chỉ hụ hợ chút việc mỗi khi tan sở, má không buồn, má nói, ổng đi làm cách mạng mà. Tôi mười bảy tuổi, thôi học, theo má bán gạo, cám. Ngày nào má cũng bơi một hai xuồng gạo từ máy chà chở len lỏi theo dòng kinh dày những cây cầu khỉ để mang gạo bán tận nhà người ta. Tôi ngồi đằng mũi, qua cầu cao thì lấy trớn đẩy cho xuồng đi nhanh, cầu thấp lè tè không quá mũi xuồng, không đi được tôi giở cầu cho má bơi. Tôi học từ má, rằng gạo Một Bụi dài, thon, óng ả, gạo Tiên Lùn hạt ngắn, đục như nếp, bầu bĩnh, gạo Nàng Gáo tròn vo, cụt lủn, no căng… Gạo càng trong càng cứng, khô cơm, gạo đục, có ngòi là cơm mềm cơm dẻo… Lăn lóc với bụi cám, tôi nghiện luôn cái mùi thơm nồng nàn đó. Má nói rằng, mùi gạo đầu mùa khác mùi gạo cuối mùa, mùi gạo trắng khác với mùi gạo lức, và cho tới bây giờ, mỗi khi bưng chén cơm, tôi lại nhớ cái vị béo ngầy ngậy, ngọt ngào tinh khiết của gạo sống.

Bán gạo cũng có cái cực trần ai khoai củ của nghề bán gạo nhưng má tôi gắn bó với nghề rất lâu, chắc vì nó gần gủi với hạt lúa, cánh đồng, nơi cả đời nông dân má tôi dầm dãi. Tôi còn nhớ như in những mùa hạn, nước dưới kinh rút, chiếc xuồng không còn không thể chống trên lòng lạch cạn teo, má nghĩ ra cách tải gạo, cám bằng xe đạp (Ôi! cái thuở sao nghèo quá là nghèo). Bao gạo để dài theo sườn xe, má ngồi yên sau chồm hai tay cầm lái, xoạt chân ra phía trước để đạp. Má con tôi suốt ngày dưới nắng cồng cồng đạp xe trên con đường lởm chởm đá. Sau này, tôi còn có thể một tay vịn bao gạo đặt ở yên sau, chân đạp cuống cuồng, tay kia cố kềm giữ tay lái đang lắc lia lắc lịa, cái bánh xe trước lúc nào cũng muốn chỏng lên trời. Ai khen tôi giỏi lòng má tôi cũng đau, vì đã để tôi dang dỡ con đường học tập. Lúc đó tôi chưa biết nói, “chừng nào nhà mình khá giả rồi con đi học lại, má lo gì”, chỉ một câu thôi sẽ an ủi lòng má biết bao nhiêu.

Những câu đáng nói thì vì vô tâm, khờ dại nên không nói, những câu không đáng nói thì cũng vì vô tâm, dại khờ nên đã nói rồi, không lấy lại được. Vẫn còn những ngày dài phía trước, mai tôi sẽ về thưa với má, dù tôi nói câu này dù hơi trễ tràng nhưng có còn hơn không, rằng chưa có bao giờ má dạy tôi viết văn, nhưng những gì tôi viết ra đều mang hơi thở cuộc sống mà má trao tặng.

Bây giờ không biết là đã mấy mùa tôm rồi má với ba tôi xa nhà cất cái chòi giữa đồng vắng xoay xở, vật lộn với con tôm trên những cái đầm chang chang nắng. Cũng từng ấy thời gian, ngày hai buổi sáng, chiều tôi quanh quẩn bên bàn giấy, sớm uống cà phê tối ngồi quán nhậu. Những con chữ bỏ đi xa, những câu văn trốn bặt. Mai mốt đây viết tặng má còn không xứng thì viết cho ai nữa bây giờ.

***Tản văn đã được dịch sang tiếng Pháp.

(Ảnh: Minh Nguyên)

BÌNH BÁT QUÊ NGHÈO

(Lưu Vĩnh Hạ)
.
Có những lúc tôi ôm ngày mộng ngủ
Mơ trở về những ngày tháng xa xưa
Mái nhà tranh nằm dưới bóng hàng dừa
Con sông quê bên bồi và bên lở
Tuổi thơ ơi kỷ niệm nào một thuở
Đã cùng tôi và lũ bạn bên sông
Bên ao sâu ngồi câu cá rô đồng
Hái chia nhau từng trái thơm bình bát
Trái bình bát quê nghèo còn vị lạt
Không như là quả ngọt mãng cầu dai
Không như xoài khi chín vàng ngất ngây
Nhưng cũng đủ làm say lòng lũ trẻ
Tiếng võng trưa ầu ơ lời ru mẹ
Bụi chuối nào xào xạc tiếng lá đưa
Lũ trẻ thơ ơ ới gọi nhau đùa
Dầm đường cát trong ly đầy bình bát
Nhè nhẹ đưa chút hương thơm ngào ngạt
Bình bát nào từng muỗng chia cho nhau
Những hạt đen nho nhỏ như mãng cầu
Đứa sún răng cầm lên cười ngặt nghẽo
Bình bát ơi một thời xa mấy nẻo
Nay tìm về nuôi nấng kỷ niệm xưa
Nhớ thật nhiều thuở nhỏ thích tắm mưa
Trên cầu khỉ nô đùa từng đứa nhảy
Bình bát ơi tìm thời gian sống lại
Đâu trái nghèo mộc mạc của tuổi thơ
Những ngày xưa còn dại đến bây giờ
Thương bình bát và lời ru của mẹ…
(Ảnh: Đỗ Minh Tân)

“Gọi Tên Bốn Mùa”

Em đứng lên gọi mưa vào Hạ
Từng cơn mưa từng cơn mưa
Từng cơn mưa
Mưa thì thầm dưới chân ngà
Em đứng lên mùa Thu tàn tạ
Hàng cây khô cành bơ vơ
Hàng cây đưa em đi về
Giọt nắng nhấp nhô
Em đứng lên mùa Đông nhạt nhòa
Từng đêm mưa từng đêm mưa
Từng đêm mưa mưa lạnh
Từng ngón sương mù
Em đứng lên mùa Xuân vừa mở
Nụ xuân xanh cành thênh thang
Chim về vào ngày tuổi em
Trên cành bão bùng
Rồi mùa Xuân không về
Mùa Thu cũng ra đi
Mùa Đông vời vợi
Mùa Hạ khói mây
Rồi từ nay em gọi
Tình yêu dấu chim bay
Gọi thân hao gầy
Gọi buồn ngất ngây
Ôi tóc em dài đêm thần thoại…
… … _____TrịnhCôngSơn
( Model: *Kim N. )