Thầy tôi và những cuộc ra đi

Vũ Kim Đức

Đêm nay mưa rả rích. Lúc hai giờ sáng, đang ngủ ngon giấc, tôi hốt hoảng choàng tỉnh vì tiếng điện thoại. Ai gọi mình vào giờ này nếu không phải là những chuyện bất thường. Mắt nhắm mắt mở, tôi bốc cái điện thoại. Giọng nức nở của đứa con gái cưng ở Washington DC:

“Ba, con đây, con mới tỉnh dậy từ một cơn ác mộng. Con mơ thấy hai cha con mình trên đường vượt biên giữa Thái Bình Dương, gặp cơn bão lớn lật úp chiếc tàu nhỏ. Con không biết bơi nên bị sóng cuốn sâu xuống lòng đại dương. Trong giấc mơ hãi hùng, con vùng vẫy, tuyệt vọng kêu lớn: “Ba ơi cứu con”, và chỉ trong khoảnh khắc, con cảm thấy một bóng đen dìu con lên mặt nước. Bóng đen đó chính là Ba. Con gọi cho Ba ngay lập tức, để cám ơn và được nghe giọng nói trầm ấm của Ba, như những ngày con còn là đứa con gái bé bỏng”…

Tôi nghe con nói mà thẫn thờ, một vùng ký ức cảm động ùa về trong tim. Tôi bỗng nhớ về Thầy tôi, những ngày tôi còn bé, những năm đầu Thầy Má tôi  di cư từ miền Bắc vào miền Nam tìm tự do, xây dựng lại đời sống mới…

Minh họa: Natalie/Unsplash

Thầy tôi mồ côi lúc còn rất nhỏ. Ông nội tôi là lý trưởng làng Thanh Quyết, tỉnh Ninh Bình. MMột sáng cưỡi ngựa đi thăm làng, ông bị té ngựa, mất sớm. Bà nội tôi, vì thương nhớ chồng, gặp lúc phong trào đấu tố nổi dậy, nên lo sợ rồi lâm trọng bệnh qua đời. Hai cái chết đau thương của cha mẹ ít khi được Thầy tôi nhắc tới, có lẽ vì quá đau buồn. Ông bà nội tôi mất sớm nên Thầy tôi và các bác các chú của tôi rất thương yêu và đùm bọc nhau. Anh em tôi sau này cũng học được đức tính đó. Còn ông ngoại tôi, chỉ làm chủ vài sào ruộng trong làng, đã bị giam chờ ngày đem ra đấu tố. May nhờ ông ngoại tôi luôn giúp đỡ và dạy học những người cùng đinh trong làng nên được một học trò thương, đang đêm lén mở cửa cũi giam cho trốn thoát. Ông ngoại tôi sau đó được một bà dì, em Má tôi, đem trốn vào miền Nam.

Có lẽ vì ký ức đau đớn tuổi thơ, cùng những lo âu não lòng phải cách xa nơi chôn nhau cắt rốn nên đôi mắt Thầy tôi lúc nào cũng buồn. Tính ông điềm đạm ít nói nhưng đầy nghị lực, tự tin và hết lòng hy sinh cho gia đình.

Nghe nói lại, nơi định cư đầu tiên khi đặt chân vào Nam là giáo xứ Bình An của Linh mục Hoàng Quỳnh ở Chợ Lớn. Sau một thời gian ngắn, Thầy  tôi dẫn cả nhà tái định cư ở Năm Căn, nơi khỉ ho cò gáy, cách Cà Mau khoảng 40 cây số. Với trí nhớ non nớt của một thằng bé mới lên năm, giờ tôi chỉ loáng thoáng nhớ lại căn nhà tranh vách đất, với bốn bề sông nước, mọc đầy hoa súng tím nhạt. Nhớ những ban mai nắng sớm, Thầy tôi chèo xuồng trên con kinh Rạch Đốc um tùm ô rô, xen kẽ những cành xoài, cành đước vươn ra giữa lòng rạch. Hai cha con đi ăn hủ tíu, uống cà phê và mua vài món đồ cần thiết như dầu hôi và đèn cầy ở mấy quán tạp hóa người Hoa ven bờ.

Sau thời gian khó khăn ở vùng nước mặn đầy muỗi mòng và đỉa, Thầy tôi lại dắt díu cả nhà về Củ Chi. Tại đây, ông làm y tá, nghề mà ông đã học ở chợ Đại-Cống Thần, lúc Hà Nội sơ tán. Tôi được biết ngày đó Thầy tôi chữa bệnh cho dân nghèo mát tay, được lòng mến mộ của dân chúng địa phương, vì đối với những gia đình nghèo, ông chữa bệnh miễn phí cho họ. Tôi còn nhớ những đêm mưa được ông cho xách cái túi cứu thương đi theo trên những con đường sống trâu lồi lõm, đường trơn trợt, tôi cứ bị hụt chân ngã. Lần nào cũng nghe giọng nói: “Con có sao không?”; và cánh tay vững chắc của Thầy vực tôi dậy. Chúng tôi đến những căn nhà xiêu mái dột. Dưới ánh đèn dầu leo lét, ông chữa cho những người bị rắn cắn, sốt rét vàng da, tay chân bị lở loét lâu lành…

Củ Chi là nơi tôi có nhiều kỷ niệm với căn cứ Đồng Dù. Những buổi chiều sáng rực ánh tà dương trên luống củ Nâu đẹp như một bức tranh. Tôi và mấy thằng bạn cùng xóm ra ngắm cuộc thực tập với những cánh dù nở trắng bầu trời hoặc chạy theo mấy chiếc xe bò, rút trộm những bó đậu phộng sống, vừa chạy, vừa nhai. Thời gian thanh bình ở Củ Chi trôi nhanh. Đêm về, những người mặc quần áo đen, mặt nạ, vai đeo mã tấu đập cửa, bắt bớ, thủ tiêu người làm việc cho chính quyền ngày càng nhiều. Tôi đã chứng kiến những xác người phình chương trôi sông, bị phe bên kia cho đi “mò tôm” với bản án “phản động” gài trên ngực. Thầy  tôi chẳng còn con đường nào khác, một lần nữa, lại đem gia đình lưu lạc về khu Kiến Thiết gần Sài Gòn.

Căn nhà mới khá khang trang nằm bên cạnh kinh Nhiêu Lộc, hai bên bờ lau lách um tùm với những tổ chim én đầy trứng. Khu này hồi đó hãy còn hoang vu, nhưng ông rất vui vì đây là lần đầu tiên được làm chủ một căn nhà. Tối đến mấy anh em quây quần bên ngọn đèn dầu hôi để ông kèm học. Đời nghèo nhưng ấm cúng. Đây cũng là nơi mỗi sáng mới mở mắt thức dậy, tôi đã ngửi thấy mùi “cà phê bí tất” thơm phức của Thầy. Ông dạy tôi cách pha cà phê từ cái bọc vải nhỏ có cái quai bằng thép để cầm. Ngồi uống cà phê với nhau, ông hay trầm ngâm: “Con nhớ trân quý những gì mình đang có, hãy thương yêu những người quanh mình”. Tôi đoán đó là những giây phút ông thả hồn nhớ về ông bà nội tôi và miền Bắc xa xăm.

Minh họa: Linh Vi/Unsplash

Tôi còn nhớ kỷ niệm ngày đầu được Thầy tôi dạy cách đi xe đạp. Thay vì cầm tay dắt cái xe cho tôi tập đạp, ông chỉ hướng dẫn tôi cách ngồi lên yên, cách cầm “ghi-đông”, bóp thắng và để cho tôi tập đạp một mình. Thầy muốn tập cho con cái tính tự lập, sau này ra đời con không bị lệ thuộc vào ai… Mỗi ngày đi làm về, bao giờ Thầy cũng đem về những ổ bánh mì patê nóng hổi ở tiệm Hương Lan cạnh Bưu điện Sài gòn hoặc vài cái tiramisu và vài trái táo mua ở Givral.

Trong  những ngày cuối cùng của miền Nam, Má tôi tuy đau cắt ruột vẫn đẩy tôi ra khỏi cửa: “Con cứ ra đi”, không quên giúi vào tay tôi cái áo da màu nâu nhạt của Thầy tôi. Tôi xúc động ôm cái áo: “Lạy Má… con đi”. Đó là cái áo tôi mặc trong suốt cuộc hành trình tỵ nạn tới nước Mỹ, từ lúc nhảy xuống con tàu nhỏ ở bến Bạch Đằng qua các trại tỵ nạn. Những đêm lạnh giá cô đơn, nhớ nhà, nằm trong chiếc lều vải nhà binh, tôi khoác thêm cái áo da. Nó cho tôi cảm giác ấm áp yên lòng, làm như có Thầy tôi bên cạnh đang che chở, phù hộ cho thằng con tới bờ bến bình yên…

Minh họa: NII/Unsplash

Thầy ơi, đêm nay con viết những dòng này để tưởng niệm về Thầy. Viết hoài, viết mãi mà vẫn thấy chưa đủ về công ơn dưỡng dục của Thầy, về những cuộc ra đi của Thầy, của gia đình chúng ta. Bao nhiêu kỷ niệm êm đềm thuở thiếu thời cứ lần lượt hiện ra.

Con bị cảm lên cơn sốt, Thầy là người lo lắng ngồi bên thức trắng đêm, thỉnh thoảng lại đặt tay lên trán con. Cũng bàn tay này đã dắt con những ngày chập chững tập đi, những ngày đầu tiên đến trường, những buổi tối cầm tay dạy con vỡ tiếng đánh tiếng ê, a. Tình phụ tử của Thầy sưởi ấm trái tim con như ánh sáng mặt trời làm tan băng tuyết mùa Đông những ngày đầu xa xứ… Bao nhiêu tình thương, vất vả cả một đời người, Thầy chỉ cầu mong cho các con nên người hữu dụng, sống tự lập. Thầy không khi nào đòi hỏi gì ở con. Vì cả đời, Thầy chỉ hy sinh, không bao giờ nghĩ đến bản thân mình.

Bây giờ tôi đã có gia đình con cái của riêng tôi. Đêm nay nghe con gái tôi sụt sùi, nhớ lại câu: “Nuôi con mới biết lòng Cha Mẹ” mà thấm thía. Nhớ về Thầy tôi những ngày năm xưa, những ngày mà gia đình dắt díu nhau đi hết chỗ này đến nơi kia, lòng tôi quặn đau, chỉ chực trào nước mắt… Giờ đây, tôi thật sự thấu hiểu những cuộc ra đi mà Thầy mang theo cả gia đình ta không chỉ là những cuộc thiên di. Nó đã giúp định hình nên cuộc đời con ngày nay, vì con học được không biết bao nhiêu điều từ những lần ra đi và tái lập cuộc đời như vậy…

Nguồn : https://saigonnhonews.com/ra-di-va-ke-lai/thay-toi-va-nhung-cuoc-ra-di/

Leave a Reply