ĐƯỜNG VỀ – MỘT KỶ NIỆM VỚI VĂN CAO

Vũ Thư Hiên 

Đêm Việt Bắc vào mùa đông rất lạnh. Cái lạnh của rừng nguyên sinh không giống bất cứ cái lạnh nào khác. Trời hanh, mái nứa nổ tí tách.

Đã vận vào người tất tần tật quần áo có trong hành trang rồi, đắp lên mình cả chăn trấn thủ lẫn chăn sui rồi, thế mà tôi vẫn run cầm cập. 

Không ngủ được thì đốt lửa mà sưởi. Chỉ cần ra khỏi nhà nhặt cành gãy ở chung quanh là có cả đống. Củi khô nỏ, nhóm dễ. Chẳng mấy chốc lửa đã phừng phừng. Chúng tôi quây vòng chung quanh đống lửa trại. Mặt chúng tôi bỏng  rát, nhưng lưng lạnh như băng. Từ tán lá rừng già những giọt sương tí tách rơi xuống. Sương rơi xuống lửa than kêu xèo xèo. Xác sương bay lên cuồn cuộn, ấm và ấm. 

Vào một đêm như thế, Văn Cao mơ:

“Về đây có những đồng hương cốm lúa xanh dạt dào. Bao nhiêu năm trong hội ngày mùa. Ngọn lửa chài và con sông trắng. Từng mùa trăng thu lưới trở về. Ôi quê hương yêu dấu của ta! Đường về đây…”

Cuộc kháng chiến chống Pháp không biết bao giờ mới kết thúc. Cũng như thế, ngày về chẳng  biết bao giờ sẽ đến.

Nhà văn Vũ Thư Hiên

Thì cứ mơ thôi.

Ca khúc Đường Về ra đời trong một đêm lạnh như thế. Nó ra đời trong miền rừng bao la. 

Tôi thích nỗi nhớ về ngọn lửa chài của anh. 

Nó là cái tôi đã thấy, đã bùi ngùi khi nhớ đến. Nhớ những chiều hôm nắng quái chúng tôi gò mình kéo con thuyền ngược dòng sông Cả. Nhớ tiếng sóng vỗ mạn thuyền đêm đêm ru tôi vào giấc ngủ. 

Để viết ra tứ thơ ấy hẳn Văn Cao đã từng say đứ đừ thuốc lào Vĩnh Bảo trong một đêm nào đó nhưng vẫn còn đủ tỉnh để thấy được ngọn lửa le lói ở tít tắp chân trời. Những cảnh ấy rồi chui vào, rồi luồn vào, trở thành nỗi nhớ. 

Không hiểu sao ca khúc này lại mất tăm mất tích. Nó là hậu quả của trận đánh “Nhân văn – Giai phẩm” chăng? Tôi không rõ.

Viết về đầy đủ và xúc động về Văn Cao không ai bằng nhà thơ Trần Mạnh Hảo. Văn Cao hoàn toàn xứng đáng với những lời ngợi ca không cần tô vẽ ấy. 

Văn Cao viết Đường Về ở Đồi Cọ, trong vùng rừng Thái Nguyên. Không có đơn đặt hàng nào cho ước mơ ấy. 

Mơ là mơ, thế thôi.

Phạm Văn Khoa, giám đốc “Quốc doanh Chiếu bóng và Chụp ảnh”, tiền thân của điện ảnh Việt Nam, mê tít Đường Về. Anh quyết định đưa nó vào cuốn phim Việt Nam đầu tiên có tiếng “Đại hội Chiến sĩ Thi đua Toàn quốc 1953.  

Để làm ra tiếng cho phim, Hoàng Thái, cán bộ âm thanh, phải đánh vật với những dụng cụ năm cha ba mẹ mua từ vùng địch chiếm. Anh đánh vật với chúng không phải vài ngày mà vài tháng. Từ âm thanh méo xẹo đến âm thanh trung thành là cả một cố gắng vượt sức người. Đêm đêm chúng tôi luôn luôn bị đánh thức bởi những tiếng nổ ùng oàng của chiến trận mà Hoàng Thái tạo ra bằng những dụng cụ chỉ có trời biết là cái gì.   

Thời bấy giờ không có các giáo sư tiến sĩ. Chỉ cóì những người mê đắm một công việc nào đó rồi vùi đầu nghiên cứu nó để trở thành chuyên nghiệp. Những nhà quay phim ngày ấy cũng từ những ông thợ ảnh mà nên. Trong tay họ cchỉ có những máy quay tài tử Paillard Bolex 16. Phim chiếu không có tiếng. 

Hoàng Thái làm được kỳ công. Anh đã cho vào rìa phim cái đường tiếng mong ước.

Tôi không hiểu vì sao Phạm Văn Khoa lại nhất quyết cho Đường Về vào phim này. Nó là phim tài liệu về một đại hội của những nhân vật tiêu biểu trong những cuộc thi đua đủ mọi lĩnh vực cơ mà. Nhiệm vụ của họ là làm việc, không phải mơ ước. 

Theo ý Phạm Văn Khoa, màn hợp xướng nhiều bè sẽ do đoàn văn công quân đội thực hiện, Thương Huyền lĩnh xướng. Chị là danh ca nổi tiếng. Từ địa điểm của đài Tiếng nói Việt Nam tới Đồi Cọ khá xa, toàn đường rừng, phương tiện di chuyển duy nhất là đôi chân.   

Chờ Thương Huyền đến, một dàn đồng ca lôm côm được thành lập gồmcác ca sĩ không hề chuyên, không có tham vọng trở thành chuyên, cả chị cấp dưỡng, cả  anh thuyết minh chiếu phim lưu động chưa đi địa phương. 

Văn Cao bảo tôi:

– Cậu solo đi.

Solo thì solo. 

Thời đầu kháng chiến, tôi từng là cây đơn ca trong một đoàn gọi là tuyên truyền xung phong. Thời ấy những đoàn như thế có nhiều.  Chúng tự mọc ra, tự biểu diễn, đến nơi nào nơi ấy dựng rạp, nuôi ăn. 

Hát hay hay dở không biết,nhưng tôi hát. Được cái giọng khỏe, tôi hát được ở những bãi rộng. Không âm-li (ampli), không mi-cô (micro), cứ hát váng lên là xong.

Văn công quân đội đã có mặt. Chỉ còn thiếu Thương Huyền. Dàn đồng ca cứ hát đại, cứ ráp đại để Hoàng Thái thu thử. Tôi tiếp tục lĩnh xướng. 

Thương Huyền rồi cũng đến. Tiếng hát của chị tuyệt vời. Danh ca cơ mà.

Nhưng sự lạ đã xảy ra. 

Khi chọn bản ráp cho Hoàng Thái ghi âm, Văn Cao và Nguyễn Đức Toàn chọn bản tôi solo:

– Lấy bản này – Văn Cao nói. 

Thế là tiếng hát của tôi được cho vào phim. 

Phim còn thì tiếng hát còn. 

Có lạ không cơ chứ.

Leave a Reply