DÌ TÁM…VÀ BÁNH ÍT LÁ GAI

Thụy Mân

Mẹ luôn luôn là người dạy dỗ và hy sinh cho chúng ta với một tình yêu không điều kiện, điều đó đã hẳn như vậy.  Nhưng trong chúng ta, nhiều người khi lớn lên có cái may mắn được dạy dỗ bởi hơn một người mẹ, trong số đó có tôi.  

Những ngày sau khi cuộc chiến chấm dứt, sau khi  “chạy giặc” vô tận đến đảo Phú Quốc rồi trở lại Saigon, cuối cùng chúng tôi cũng về lại quê cũ.  Những chính sách khắc nghiệt với trí thức miền Nam lúc ấy của chính phủ cộng sản đã đẩy gia đình tôi phải về nương náu nơi quê ngoại.  Ngoại đã mất cách đó ba năm, nhưng ở ngôi nhà của ngoại còn lại hai người chị của mẹ: dì Sáu góa chồng từ lúc trẻ (dì Sáu thương cháu và độc đáo theo kiểu của dì, có dịp tôi sẽ kể ở một lần khác), và một người chưa bao giờ lấy chồng là dì Tám. 

Photo : Thuy Man

Gia đình mẹ tôi đông người nhưng khi bà ngoại mất thì chỉ còn lại dì Tám với mẹ tôi ở lại với ông ngoại.  Mẹ tôi là con út, lúc đó chỉ mới 12 tuổi, dì Tám 22. Ông ngoại tục huyền rất sớm sau đó, và ít lâu sau thì dì Tám quyết định rời xa nhà đi làm cho một hãng trà ở Bàu Cạn. Sau khi dành dụm được một số vốn, dì trở về quê. Mẹ sinh tôi và đứa em kế ở nhà ngoại, dì Tám một tay săn sóc mấy mẹ con.  Dì tôi mạnh mẽ, tự lập. Thời đại bây giờ mà một người đàn bà suy nghĩ và làm được như dì đã là khó, huống gì vào những năm 50’s, 60’s của thế kỷ trước. 

Photo : Thuy Man

Dì bị điếc bẩm sinh. Tự lo cho mình được, và có lẽ cũng mang chút mặc cảm về sự khiếm khuyết của mình, dì quyết định ở vậy, không có gia đình. Sau khi ông ngoại mất, nhà từ đường lâm vào tình cảnh không có con trai ở gần để chăm nom, dì đã phải đưa vai gánh vác việc đó.  Mỗi năm ngoài một lễ Tế hiệp lớn để tảo mộ cho hàng mấy chục ngôi mộ từ đời ông cao trở xuống, có hàng trăm con cháu tề tựu về, còn có khoảng gần 20 cái giỗ lớn nhỏ rải rác trong năm, dì Tám một mình cáng đáng.  Khi chúng tôi về sống ở đó, sự có mặt của gia đình tôi chỉ là cho nhà đỡ quạnh hiu, chứ thật sự chúng tôi là gánh nặng hơn là đỡ đần được cho dì.  Cả nhà chỉ có ba tôi là một người đàn ông duy nhất, nếu không kể đến thằng em trai nhỏ xíu của tôi, còn lại toàn là đàn bà và một đám con nít lau chau rách việc. 

Photo : Thuy Man

Dì Tám có tư chất thông minh.  Do chiến tranh và do thời xưa người ta không thấy cần thiết phải cho con gái đi học, dì đã không được học quá bậc tiểu học. Tuy vậy nhiều lần dì làm tôi kinh ngạc với tài tính nhẩm của dì, với trí nhớ sắc sảo khi dì đọc những đoạn dài đến mấy trang trong truyện Kiều, hay trong Lục Vân Tiên, những bài học thuộc lòng dì nghe lóm được.  Dì là cả một kho tàng ca dao tục ngữ. Tôi tiếc lúc đó đã không ghi lại được những câu hò, câu đối mà dì đã nhớ được từ những người thanh niên thời đó trao đổi với nhau lúc gặt mướn, đập lúa, và giã gạo ở sân nhà ngoại.

Sống qua thời “Kháng Chiến Chín Năm”, ông ngoại sém chút nữa bị đưa ra đấu tố với tội địa chủ, dì ghét cộng sản, hiểu họ, và nhìn họ thấu suốt đến mục đích của từng chính sách họ đưa ra. Sau này khi nghe nhiều người được học cao, có kiến thức nhưng lại bào chữa và ủng hộ cộng sản thì tôi hay nghĩ thầm :” Sự suy xét, phán đoán của họ không bằng một góc của dì Tám!” Lúc ở với dì tôi còn nhỏ, thích ca hát và tôi ca hát luôn miệng, mà những bài hát lúc trước 75 tôi hay hát đã bị cấm rồi, nên tôi có gì hát nấy.  Tôi hát những bài họ dạy tôi ở trường, ở những cuộc họp Đội (Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh). Nghe tôi hát, dì nguýt dài: “Cái ngữ mà “nấu cơm cũng hát, rửa bát cũng hò” rồi nữa sẽ đem cha mẹ ra đấu tố đó, có biết không?” Tôi chỉ cười, không giận dì, tôi hiểu nếu ở vào địa vị dì, tôi cũng sợ con cháu tôi bị tẩy não vậy.  Tôi vẫn còn nhớ trước năm 75, những đoạn kinh hoàng trong phim ” Chúng Tôi Muốn Sống” năm nào cũng được chiếu vào ngày 20 tháng 7 (ngày đất nước chia đôi theo Hiệp định Geneva) mỗi năm. 

Dì ngăn nắp, sạch sẽ, làm việc luôn tay, và đặc biệt rất kỹ tính: Một cái gáo dừa để trên nắp vò cũng phải được đặt ngay ngắn; sáng sớm nào mọi vò, lu nước trong nhà đều được chà rửa, thay nước mới; sàn gạch xung quanh giếng lúc nào cũng phải sạch trơn không chút rong rêu; nồi niêu soong chảo nấu củi lọ nghẹ đen thui, nhưng mỗi khi nấu xong đều phải được chà rửa sạch sẽ.  Ít khi nào tôi được dì khen, nhưng một điều không thể phủ nhận, dì là một huấn luyện viên tuyệt vời: một đứa vụng về đụng đâu đổ bể đó như tôi hồi ấy mà giờ còn làm được việc thì mọi người đủ hiểu. 

Nhà có nhiều ngày giỗ trong năm, và mỗi cái giỗ phải được chuẩn bị từ vài ngày, có khi cả tuần trước đó. Phải có các loại chả: chả quế, chả lụa, chả mực, chả cua, chả trứng và các loại bánh: bánh ít, bánh thuẫn, bánh bò, bánh in, bánh nổ, bánh tai yến,  bánh hạt sen… Ruộng đất đã bị tịch thu gần hết, họ hàng không ai mong đợi nhiều ở nhà từ đường, sức lo giỗ quải được đến đâu hay đến đó, nhưng dì tôi, vốn tính cầu toàn, ít khi để những tiêu chuẩn cũ bị tuột dốc.  Một phần lợi tức thu nhập được từ hoa trái trong khu vườn rất rộng của ngoại, một phần dì tôi nuôi heo, một phần nữa dì rất tiết kiệm, vén khéo, dì vẫn cố giữ nếp cũ, ít nhất là chưa một cái giỗ nào, ngay cả giỗ nhỏ, tôi thấy thiếu bánh ít. 

Lúc tôi học lớp Bảy, một bữa dì nói với tôi: “Mai này dì chỉ cho con làm bánh ít nghe!” Tôi nhanh miệng: ” Ủa mình đâu có ngày giỗ nào sắp đến đâu dì?” “Mình làm bánh ít ăn chơi thôi, không phải giỗ! ” dì nói.  Tôi ngạc nhiên không ít, vì thời ấy “làm bánh ít ăn chơi” là điều xa xỉ.  Không phải vì lá chuối, không phải vì đậu xanh, hay dừa lúc nào nhà cũng sẵn có, mà vì nếp và đường là hai món rất quý,  không thể xài hoang phí được.

Photo : Thuy Man

Hôm sau, thấy dì bày biện ra thì tôi hiểu ngay: đây chỉ vì dì muốn dạy cho tôi học gói bánh ít thôi: đậu xanh được dì thay bằng đậu đen không quý bằng, và nếp được thay bằng bột mì (lấy từ củ mì cassava).  Dì bảo tôi lớn rồi phải học gói bánh (một trong những phần học ăn, học nói, học gói, học mở). Công việc chuẩn bị cũng tương tự như làm bánh ít thật, nhưng nhân thay vì là nhân ngọt,  dì tôi xào đậu đen – đã được nấu chín và quết xong – với dầu hành, rồi nêm nếm cho vừa ăn như nhân mặn. Tuy bánh ít mì này khác xa bánh ít làm bằng bột nếp, nhân dừa và đậu xanh đúng kiểu bánh ít lá gai Bình Định, dì vẫn muốn tôi tập gói nó với hình khối pyramid thật sắc sảo, không xếp lá trước, nhưng vẫn gói được chuông chính, y như là bánh ít thật!  

Tôi ra đi, vẫn nhớ cách làm bánh ít lá gai, vẫn có một chòm lá gai sau nhà, lần nào làm bánh ít tôi cũng nhớ đến dì Tám, nhưng giờ những standards “công dung ngôn hạnh”, cho giá trị của một người phụ nữ trong xã hội đã khác đi nhiều, chính tôi cũng không muốn con cháu mình phải ràng buộc với những điều đó nếu chúng không thích thật sự. Tôi không còn làm bánh ít thường xuyên nữa, cho nên cái bánh ít tôi gói giờ này còn thua xa mấy cái bánh ngày ấy còn vụng về được dì chỉ từng chút một, giờ giá dì có nhìn thấy chắc sẽ lắc đầu thất vọng. 

Nhưng mà dì Tám không còn thấy được nữa, dì qua đời mới đây mà cũng đã mấy năm rồi!

Bài và ảnh : Thụy Mân

Leave a Reply