LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM

(phần Hai)
– Lạy Chúa tôi lòng lành chẳng cùng! Trước khi chết ông muốn phỉ báng đạo Chúa sao? Có phải vì ý muốn đó mà ông mời tôi tới đây? – linh mục tuyệt vọng kêu lên – Ông nghĩ tôi là ai? Kẻ thù của ông chăng? Kẻ gây ra đau khổ cho ông chăng?
Đến lượt người bệnh thở dài. Đó là tiếng thở dài chán ngán. Như luồng hơi cuối cùng trong bễ lò rèn trôi ra khi người phụ rèn dừng tay.
– Linh mục ạ, vậy mà nhìn ông tôi nghĩ học vấn và tuổi đời đã làm cho ông tỉnh táo nhiều hơn đấy, và ông sẽ là người đối thoại tốt trong đêm chót cuộc đời tôi. Tại sao ông lại lảng tránh những câu hỏi tự chúng nảy ra trong đầu chúng ta, chứ không phải chỉ trong đầu tôi? Sau bằng ấy năm ta sống trên trái đất này? Chao ôi, linh mục ơi linh mục! Tôi chẳng còn dịp nào khác đâu. Tôi cũng chẳng còn ai để nói ra những gì chất chứa trong lòng. Tôi đâu có định gây sự với ông. Lúc này tôi chỉ còn có ông để mà tâm sự thôi. Tôi xin thề rằng tôi không hề có thù riêng với Chúa của ông.
– Thế thì ông báng bổ đạo Chúa làm gì? – linh mục bực bội, nhưng ông lại nghe thấy giọng mình rền rĩ – Sự xúc phạm tới Chúa của tôi chính là sự xúc phạm tới tôi, bởi vì tôi, phần xác cùng là phần hồn, đều thuộc về Chúa.
Ông phản bác người bệnh, nhưng lại cảm thấy những lời phản bác ấy là để cho chính ông. Cứ mỗi phút trôi qua ông lại thấy gần hơn với con người khốn khổ sắp lìa bỏ cõi đời. Ông tự phân tích tình cảm của mình và hiểu rằng cái làm ông không thể chối bỏ cuộc gặp gỡ này, bây giờ đã trở thành cuộc đối thoại, chính là vì ngay từ phút đầu tiên ông đã cảm thấy rằng con người này thực sự cởi mở cõi lòng với ông, một người hoàn toàn xa lạ, nhưng tin cậy ông trước khi ông tin cậy ông ta. Ngay cả những con chiên ngoan đạo khi xưng tội với ông thường không có sự cởi mở thực tâm từ đáy lòng như thế.
Người bệnh lẩm bẩm điều gì, linh mục nghe không rõ. Để nghe rõ hơn ông phải ghé sát vào mặt ông ta.
– Cuộc đời bao giờ cũng rối rắm hơn ta tưởng – người bệnh nói khẽ, đôi môi mấp máy, rõ ràng không chỉ để nói với linh mục – Hình như để cho cuộc sống dễ chịu hơn, hoặc để giải thích cuộc đời một cách giản đơn hơn, con người nào cũng cần đến Chúa…
– Giê-su, lạy Chúa tôi, ông lại báng bổ nữa rồi đấy, chẳng lẽ ông chỉ nhìn thấy nơi Chúa một vật dụng tiện lợi? – linh mục thất vọng kêu lên.
– Không phải Chúa Trời hay Chúa Giê-su đâu linh mục. – người bệnh nói, linh mục nghe trong giọng nói của ông ta có tiếng cười – Tôi nói về một Chúa chung chung cơ, Chúa với tư cách niềm tin ấy, Chúa không phải của riêng đạo nào, với tư cách Đấng tối cao ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự.
– Hừm.
– Nếu Chúa không có sẵn, linh mục ạ, thì chính con người cần đến Chúa sẽ tự mình tạo ra Chúa cho nhu cầu của nó – người bệnh nói, như thể đã lấy lại được giọng bình thường – Khi đã có Chúa trong tay, bất kể là Chúa nào – Chúa tìm thấy, Chúa tạo ra, Chúa vay mượn, Chúa mua sắm, Chúa nhập cảng, tuốt tuột, không phân biệt, tức thì nó lấy ngay Chúa mà nó sở hữu, Chúa của riêng nó, của phe phái nó, tròng vào cổ đồng loại, làm thành cái ưu thế của nó để được đứng trên đồng loại, để thấy mình cao sang hơn đồng loại, chung cuộc là để leo lên địa vị thống trị đồng loại…
Linh mục im lặng. Ông biết nói gì với những lời lảm nhảm ấy. Điều làm ông ngạc nhiên là bên trong những lời đầy báng bổ của người bệnh, có cái gì đó rất thật thà. Và không phải không có lý.
– Linh mục, ông vẫn còn ngồi bên tôi đấy chứ? – người bệnh lặng đi một lúc, bỗng kêu lên, thảng thốt.
– Tôi đây – linh mục vội vã nói khi người bệnh làm một cử chỉ cố gắng để chồm dậy – tôi vẫn ngồi ngay bên cạnh ông đây mà.
Người bệnh thở ra một hơi dài.
– Vậy mà tôi thấy ông bị trôi ra xa đến nỗi tôi muốn với tới ông mà không được.
Linh mục đụng mấy ngón tay lên mí mắt nhắm nghiền của người bệnh. Cặp mắt mở ra, nhìn mà không thấy. Linh mục nghĩ có lẽ ông ta đang hấp hối.
Nhưng rồi người bệnh lại bừng tỉnh, cặp mắt lại trở nên có thần.
– Linh mục có gặp một người chết sống lại bao giờ không?
– Không, ông ạ.
– Tôi đã gặp hai người rồi đấy, họ chết hẳn rồi, cũng tin chắc như thế, nhưng rồi họ sống lại. Tôi hỏi họ thấy gì ở phút họ qua đời thì họ nói….
– Họ nói sao?
– Họ kể rằng lúc họ trút hơi thở cuối cùng, họ biết hết. Lúc đó, trí óc họ minh mẫn lạ thường, như thể chưa bao giờ họ minh mẫn như thế.
– Có thể lắm.
– Họ còn kể rằng người họ nhẹ như một sợi bông vậy, và họ rơi vào một bầu trời xanh kỳ lạ, mầu xanh trong cuộc đời họ chưa từng gặp. Cả hai người hỏi mà tôi hỏi đều kể giống nhau.
– Tín đồ Thiên Chúa giáo không tin điều đó – linh mục nói, bất giác rùng mình – từ trái đất mà đi chỉ có hai ngả: một là bị quỷ dữ kéo xuống địa ngục, hai là được các thánh thiên thần rước lên thiên đàng.
– Ông lại nói như sách rồi, linh mục ơi – đôi môi khô héo của người bệnh đụng đậy, như thế ông ta cười – Ông chớ tin Kinh Thánh. Đến cả Chúa Ki-Tô không phải bao giờ cũng thực thà. Trong Kinh tuần giảng bảy ngày có kể chuyện Đức Chúa Giê-su muốn hạ nhục bọn lái buôn thành Giê-ru-sa-lem đã vờ không rửa tay trước khi ngồi vào bàn tiệc. Để cho chúng có cớ cười nhạo ông, khinh bỉ ông không biết phép lịch sự. Là để tạo ra dịp mắng chúng chuyện sơn hào hải vị được bày ra trên bàn tiệc chẳng phải do chúng làm ra, bằng chính những bàn tay sạch sẽ đã được rửa trước khi ăn. Giả vờ, thưa linh mục, cũng là một dạng dối trá, tuy nhẹ hơn. Xin ông đừng giả vờ bác tôi, khi trong lòng ông, ông lắng nghe tôi, bởi vì ông hiểu tôi đang nói thật và điều tôi nói đáng để nghe.
Linh mục giật mình. Người bệnh như nhìn thấy ông trần truồng đứng trước ông ta và ông cảm thấy hổ thẹn.
– Ông cũng đã nhìn thấy màu xanh ấy rồi chăng?
– Đúng, tôi đã thấy nó. Mới vài phút trước đây thôi. Đó là một màu xanh hết sức lạ lùng, màu xanh trời, thiên thanh, chứ không phải xanh nước biển, trong vắt và sâu vô cùng tận. Nó đẹp vô cùng quyến rũ, đẹp đến nỗi không sao dứt ra nổi, tưởng chừng cứ nhìn thêm vào nó một lát thôi là ta sẽ trôi tuột vào trong đó, vào cõi mà lý trí bảo ta rằng đó là cõi vĩnh hằng.
Linh mục bối rối im lặng:
– Ông nằm yên một lát chăng? Nói nhiều, ông mệt đấy.
– Ồ không, không sao, tôi đã mệt cả cuộc đời rồi, có mệt thêm một chút cũng chẳng hại gì… – người bệnh khẽ lắc đầu, hoặc linh mục cảm thấy thế – tôi mệt vì bị dối trá, tôi mệt vì tôi dối trá người khác… Tôi còn mệt cả vì tôi tự dối mình nữa, linh mục ạ. Con người nào mà không giăng cho mình sợi tơ nhện dối trá để cho chính mình sa vào? Sự dối trá êm ái ấy mấy ai thoát khỏi? Êm ái và tiện lợi.
– Cuộc sống nào chẳng do Chúa định cho ta.
– Một sợi tóc rơi xuống cũng không ngoài ý Chúa, phải thế không? Như vậy thì, thưa linh mục, ta tồn tại làm gì? Tồn tại không phải để làm cái gì khác ngoài sự thực hiện ý Chúa hay sao? Nếu chỉ để làm như thế thì Chúa của ta thật trái tính trái nết. Và cái sự thực hiện mù quáng của ta mới vô duyên làm sao!
Linh mục cảm thấy sức lực rời bỏ ông. Tại tuổi già, tại chuyến đi xa mệt nhọc, hay tại chính những lời lảm nhảm này. Tranh luận để làm gì khi mỗi con người nhìn chân lý từ một phía, như những anh mù sờ con voi, anh nói giống cái cột, anh nói giống cái quạt?
Hai người im lặng một lúc lâu.
Linh mục nghe rõ tiếng khò khè trong cuống họng của người bệnh và tiếng đập đôi lúc đứt quãng trong huyết quản mình. Trái tim ông sắp hết hạn làm việc mà Chúa ban cho nó rồi. Khoảng hai năm nay nó bắt đầu làm việc ì ạch, đập năm bảy nhịp rồi ngừng một nhịp, sau đó lại tiếp tục đập. Bao giờ nó sẽ ngừng hẳn không đập nữa? Và trong phút đó ta có nhìn thấy màu xanh tuyệt đẹp mà người này vừa nói tới không?
Con tắc kè đầu hồi lại lên tiếng rất gần. Nó kêu lúc đầu dõng dạc, từng tiếng phân minh, rồi nhanh dần và nhỏ dần như ngán ngẩm không buồn kêu nữa.
– Ông ngủ đấy ư? – linh mục hỏi.
– Không, tôi suy nghĩ.
– Ông nghĩ gì?
Người bệnh mỉm cười, mắt nhắm nghiền.
– Tôi nghĩ không biết có nên xưng tội với linh mục không?
Linh mục vuốt ve bàn tay khô xác của người bệnh.
– Đừng cưỡng bức mình làm cái việc mà mình không muốn. Cái đó chẳng có lợi cho ai.
– Nhưng nếu tôi lại rất muốn?
– Tôi sẵn sàng nghe ông, bởi vì tôi đã ở lại đây, bên cạnh ông, như ông đòi hỏi.
Đầu người bệnh gục xuống ngực, không cất lên nữa. Mái tóc bạc lơ thơ xõa xuống che lấp cả vẻ ủ rũ trên mặt làm động lòng linh mục. Ý nghĩ về cái chết tràn ngập tâm hồn ông.
– Tôi đã sống trên tám mươi năm trên thế gian. Tôi đã phạm phải vô vàn tội lỗi và hằng hà sa số sai lầm. Nhưng điều tôi muốn nói với linh mục lại liên quan tới một con chiên của Chúa, do đó tôi mới muốn xưng tội với ông, hay là với Chúa của ông thì cũng thế. Bởi vì tôi coi mình đã làm thiệt hại cho Chúa mặc dầu theo thuyểt tiền định của chính đạo Chúa thì mọi việc xảy ra đều do một ý Chúa. Tôi thấy ân hận vì việc mình làm, có nghĩa là trong việc đó tôi có tội…
Linh mục đặt tay lên đầu người bệnh:
– Tôi xin nghe ông, ông bạn già ạ.
– Sao linh mục lại gọi tôi như thế?
– Ông không phải con chiên của Chúa, nhưng ông là một người thật thà.
– Cảm ơn linh mục.
– Nào, ông nói đi, nói đi cho nhẹ lòng.
Người bệnh tử từ ngẩng đầu lên. Linh mục nhìn thấy trước mắt mình đôi mắt không có hồn đang rõi ra xa.
– Khoảng năm chục năm trước – khi tôi còn trẻ, tôi đã giết một người.
– Giết người, đối với bất cứ tôn giáo nào cũng đều là trọng tội.
– Nói cho đúng, trong cuộc đời tôi, tôi đã giết nhiều người, nhưng tôi không thấy ân hận bởi vì nếu tôi không giểt họ nhanh hơn họ giết tôi thì tôi cũng chẳng còn. Nhưng người mà tôi nói lại là người khác hẳn.
Người bệnh ngừng nói để lấy hơi. Mà cũng có thể ông ta chọn lời.
– Hồi đó tôi chỉ huy một trung đội trinh sát. Chúng tôi đi qua một làng mà năm trước giáo dân vừa nổi loạn. Họ đã giết một số bộ đội.
– Lạy Chúa tôi! – linh mục kêu lên, làm dấu thánh.
– Đám nổi loạn mà tôi nói tới đã bị dẹp, tình hình đã bình ổn, một năm rồi mà. Tôi nghĩ rằng đi qua đó chẳng có gì đáng lo ngại. Đến giữa làng mới biết là mình nhầm. Chuông nhà thờ bỗng nổi lên lanh lảnh, trống ngũ liên dồn dập, tiếng hò la dậy đất, rồi hàng loạt giáo dân xông ra. Một số trong bọn họ nổ súng vào chúng tôi. Thế là chúng tôi nổ súng bắn trả…
– Giê-su!
– Tôi bỡ ngỡ, tôi bàng hoàng, nhưng tôi còn đủ tỉnh táo để hạ lệnh cho bộ đội chúc nòng xuống mà bắn. Tôi thực lòng không muốn gây ra chết chóc…
– Có phải ở Nam Định không?
– Vâng, ở đấy. Trên đường truy kích những tên cầm súng bắn chúng tôi – tôi gặp một thanh niên nằm ngửa, mắt mở to. Anh ta đã chết, đạn xuyên qua bụng phá ra hông thành một lỗ toác hoác.
Linh mục nín thở theo dõi câu chuyện.
– Tôi dừng lại, vuốt mắt cho anh ta. Tại sao tôi lại làm như thế, tôi không hiểu. Tôi đã dự nhiều trận đánh, đã thấy nhiều xác chết trong đủ mọi kiểu chết…
Người bệnh ngừng lời trong hồi tưởng.
– Tôi dừng lại vì vẻ thánh thiện trên gương mặt trong sáng của người chết. Anh ta đẹp quá. Mà cái đẹp sinh ra để làm gì nếu không phải để tạo ra niềm vui, để dành cho tình yêu? Lẽ ra anh ta phải sống, để ôm ấp trong tay một người con gái đẹp, xứng đáng với anh ta. Để rồi cô gái là vợ anh sẽ sinh cho anh nhưng đứa trẻ đẹp như bố mẹ chúng. Vậy mà anh ta đã chết…
Linh mục nuốt nước bọt. Họng ông bỗng khô khốc.
– Ông đã có ý nghĩ của Chúa – linh mục nói – Người có ý nghĩ của Chúa là người có lòng lành.
– Có thể chính tôi đã giết anh ta. Trong chiến trận, chẳng ai biết kẻ nào phía bên kia đã chết vì viên đạn của mình… Khi những người sẵn sàng tử vì đạo kia xông lại, tôi đã bắn, và không phải chỉ một băng đạn. Họ hung hăng quá, tôi nghĩ họ đã nốc rượu vào khi xung trận…
Người bệnh lặng đi trong cơn xúc động, cái đầu nặng nề lại gục xuống, mái tóc bơ phờ lại che khuất gương mặt mà linh mục rất muốn được thấy trong lúc này.
Linh mục bối rối, ông muốn nói điểu gì, nhưng không cất nổi lời.
Người chết ngẩng mặt lên. Nhưng đôi mắt đã đục chẳng còn thấy gì ở phía trước.
Hai người im lặng một lúc lâu.
– Rồi sau thì sao? – linh mục run run hỏi.
Người bệnh thở dài:
– Đoạn kết ông đã biết nó thế nào.
Linh mục rùng mình.
– Vâng, tôi biết rồi – ông xúc động nói – Ông đã nhận ra tôi.
– Vâng, đến vùng này tôi đã gặp ông, tôi đã nhận ra ông.
– Ông đã giết em tôi?
– Tôi không biết người ấy là ai. Tôi cũng không dám nói chắc rằng tôi đã giết. Tôi chỉ nói được rằng rất có thể chính tôi đã bắn chết anh ấy. Xác chết nằm trên đường đi của rất nhiều viên đạn do chúng tôi bắn ra. Cũng có thể anh ấy chết vì viên đạn của người nào khác, nhưng tôi lại đinh ninh chính mình đã làm điều đó…
– Sao hôm ấy ông lại ngăn không cho những người lính của ông bắn chết tôi khi tôi vác dao lăn xả vào chém ông? Vết thương ở vai chắc còn đấy. Tôi nhớ, máu chảy ra xối xả, vọt đẫm mặt tôi…
– Còn cái sẹo, linh mục ạ. Nó đây.
Người bệnh đưa tay lên để vạch áo, nhưng cánh tay vừa giơ lên đã thõng xuống. Linh mục nhích lại gần để giúp ông ta. Khi linh mục trật vai áo của người bệnh ra ông thấy rõ vết sẹo thâm xì, sâu hoắm.
Người bệnh nhìn ra phía trước, xuyên qua linh mục, xuyên qua bức vách, tới một nơi nào rất xa.
– Bây giờ thì tôi hiểu vì sao ông không mời linh mục nào khác mà cứ đòi gặp tôi – linh mục buồn bã nói, kéo áo người bệnh lên để che đi vết sẹo – Ông muốn biết tôi bây giờ thế nào…
– Cái quả đã xứng với cái cây. – người bệnh nói – Tôi chẳng than phiền.
– Hạt thiện gieo xuống đâu thì cây thiện mọc lên ở đó. Tôi hằng cầu nguyện cho ông. Nếu không có ông gạt nòng súng ra thì viên đạn của người lính đã kết liễu đời tôi…
– Tôi không nghĩ tới làm ơn. Tính thiện trong tôi đã làm việc đó.
Linh mục đặt tay lên vai người bệnh:
– Ông không có vợ con sao? Ở đây tôi chỉ thấy những người cháu.
– Có chứ. Rồi tôi cũng có một gia đình. Tôi có vợ, có hai đứa con. Nhưng chiến tranh đã xoá sạch dấu vết cái gia đình ấy. Như thể bằng một nhát chổi…
Con tắc kè lại kêu lên một hồi, tiếng của nó vang động trong rừng đêm.
– Mấy giờ rồi, thưa linh mục?
– Có lẽ đã gần hai giờ sáng. Tôi không mang đồng hồ. Từ lâu, thời giờ đối với tôi chẳng còn ý nghĩa.
– Ông ở lại với tôi đến cùng nhé?
– Tôi sẽ ở lại với ông.
Người bệnh ngẩng đầu lên, hướng cái nhìn mà không thấy vào mặt linh mục. Linh mục bối rối đảo mắt qua nơi khác.
– Tôi đã xưng tội. Bây giờ ông hãy nhân danh Chúa của ông mà tha tội cho tôi đi.
Linh mục ngập ngừng, rồi làm dấu thánh trên đầu người bệnh, lẩm bẩm một câu la-tinh.
– Điều thứ năm trong mười điều răn của Chúa…
– Chớ giết người! – người bệnh nói – Nó phải là điều răn thứ nhất mới đúng, linh mục ạ.
– Tôi cũng là kẻ có tội. Như ông – linh mục không muốn tranh luận, ông cố gắng đẩy câu nói nặng nhọc ra khỏi miệng – Hôm đó chính tôi cũng đã bắn về phía các ông. Cho đến khi súng của tôi hết đạn. Tôi nhìn thấy rõ ràng một người lính ngã xuống trước họng súng của tôi. Viên đạn bắn trúng anh ta trong phút ấy có thể không phải là của tôi, tôi cũng không dám nói chắc, nhưng cũng như ông, tôi nghĩ viên đạn là của tôi. Lúc đó tôi còn trẻ. Có lẽ trẻ hơn ông. Lúc đó chúng tôi nhìn các ông như kẻ thù. Chúng tôi đã quên lời dạy của Chúa: “Hãy thương yêu người ta như mình vậy”. Chính tôi là một trong những người được bề trên sai trói chín anh bộ đội vào đám xú vẹt năm trước đó.
– Chính ông?
– Vâng. Trong số chín người ấy có một anh bộ đội rất trẻ. Khi tôi trói anh ta, anh ta nhìn tôi và thật ngạc nhiên, tôi không thấy trong đôi mắt ấy có một chút oán giận, một chút căm thù. Chỉ có sự ngỡ ngàng, bối rối, như trước một điều khó hiểu. Tôi đứng gần đấy cho đến khi nước triều lên chậm chạp, bắt đầu vượt qua đầu gối họ, lên tới bụng họ, rồi tới ngực họ. Cả chín người đều im lặng. Tôi chờ anh thanh niên kia van xin tha chết, nhưng anh ta im lặng. Tôi không chịu nổi cái nhìn ấy hơn nữa, tôi không còn sức để chịu đựng hơn nữa, tôi vội vàng nới dây trói cho anh ta để anh ta có thể tự cởi và hấp tấp bỏ đi vài phút trước khi nước lên tới cằm họ…
Linh mục quỳ xuống trong một dáng điệu trịnh trọng.
– Tôi cũng đang xưng tội với ông đây. Chính cái gạt tay cho nòng súng chĩa vào tôi hôm đó đã làm cho tính Thiện trong tôi bừng tỉnh. Ông đã cắt đứt sợi dây của cái ác luân phiên. Từ đó tôi nguyện suốt đời làm tôi tớ Chúa, ghé vai vác cây thập ác nặng nề của Chúa…
Người bệnh ngồi im lặng như nhập định.
Linh mục ngước mắt lên, hai tay chắp trước ngực.
– Nhân danh Cha và con, và thánh thần, kẻ tôi tớ Chúa xin Chúa lòng lành tha mọi tội lỗi cho những đứa con dốc lòng chừa cải…
– A-men!
Cầu nguyện xong, linh mục ngồi lên giường, đối diện với người bệnh, nắm lấy hai bàn tay lạnh giá của ông ta. Người bệnh hiểu cái nắm bàn tay gần gũi và thân thiết ấy:
– Xin vĩnh biệt linh mục ông ta gắng nói, nhưng chỉ thều thào – Ông có thể đi được rồi đấy. Ý nguyện của tôi đã thành. Từ khi biết linh mục ở đây, tôi rất mong được gặp lại…
– Chúng ta đã gặp nhau – linh mục bóp mạnh bàn tay khô xác – Tôi mừng gặp lại ông, ân nhân của tôi.
– Ân nhân gì? Vĩnh biệt ông, linh mục!
– Khoan hãy nói lời vĩnh biệt – linh mục thảng thốt kêu lên – Bây giờ tôi không muốn đi đâu hết. Tôi muốn ngồi lại với ông.
– Chúng ta còn có chuyện gì để nói nữa đâu? Những gì cần nói, tôi đã nói hết rồi.
Linh mục một lần nữa bóp chặt bàn tay người bệnh.
– Bây giờ đến lượt tôi muốn hỏi ông – ông nói, hổn hển vì quyết định của mình – Chúa của ông là ai?
– Tôi không có Chúa.
– Ông có Chúa của ông. Như chúng tôi có Chúa của chúng tôi.
– Không, tôi không có Chúa. Nói cách khác, tôi từng có một thứ như thế…
– Ông là người cộng sản, phải không?
– Ông muốn nói một đảng viên cộng sản?
– Vâng.
– Trong ý nghĩa ấy thì không. Bây giờ thì không.
Người bệnh cười to theo cách của ông ta, há miệng không thành tiếng và đôi vai gày rung rung.
Khi hai vợ chồng người cháu hé tấm liếp nhìn vào căn lều, họ thấy linh mục và người sắp chết ngồi ôm nhau trên giường, người nọ gục vào vai người kia, hai đôi vai gày thỉnh thoảng giật lên khe khẽ trong ánh sáng nhợt nhạt của cây tọa đăng đã cạn dầu.
1988

Leave a Reply