LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM

Vũ Thư Hiên

(phần Một)

Khi linh mục già dò dẫm từng bước qua được những bậc thềm khấp khểnh của nhà kẻ liệt thì trời đã khuya lắm. Mấy vệt sáng vàng vọt của đèn dầu lọt qua khe cửa làm cho nó chìm sâu vào  bóng tối mịt mùng. Trong đêm ông chỉ có thể cảm được chứ không thấy được nơi ông tới là một thôn nhỏ đìu hiu với những mái tranh thấp thoáng dưới tán lá rậm rạp.

Linh mục vươn người vặn mình cho đỡ mỏi, mấy đốt sống kêu lục cục. Chủ nhà dựng chiếc Honda dưới thềm, bước vội lên đỡ ông :

– Trình cha, xin cha cẩn thận chỗ bậu cửa.

Linh mục ừ hữ gật đầu. Ông mệt lử sau hai chục cây số ngồi ôm eo vượt con đường hết đèo lại suối lổn nhổn đá và rễ cây. Không hiểu sao người ta lại cứ phải tìm ông, trong khi cách đây vài thôn có một xứ đạo khác, tuy không lớn, với một linh mục trẻ? 

Linh mục có quyền khước từ cuộc viếng kẻ liệt mà không ai có thể trách cứ. Ông đã quá già. “Cha lẫn rồi”, cả xứ đạo ồn lên sau một lần ông đứng trên toà giảng lẩm bẩm hồi lâu những câu không ai hiểu, mặc cho đàn chiên ngẩn ngơ phía dưới. 

Cha bận thông công với Đức Chúa Giê Su, bõ già giải thích. Chẳng ai tin lời bõ. Bõ cũng già, có dễ còn già hơn cả cha. Bề trên vội cử một linh mục khác về thay chân ông. Cha trẻ này mới được truyền chức. Mọi việc bây giờ cha phó làm hết. Nói theo cách thế tục, Toà giám cho cha xứ về hưu. 

Sau tiếng mở then hấp tấp, một người đàn bà rũ rượi, cây tọa đăng giơ cao trên đầu, hiện ra trong khung cửa.

– Con xin phép lạy cha.

Bà ta lùi lại, lễ độ khuỵu một chân xuống khi nhìn mái tóc bạc phơ, gương mặt đầy nếp nhăn sâu như những nét khắc trên gỗ và đôi mắt mờ đục của cha xứ. 

”Lạy Chúa tôi, liệu một cha già thế kia có còn làm được phép xức dầu cho kẻ liệt nữa không?”, cái nhìn của bà ta nói. 

Sau lưng bà là mấy đứa trẻ mới lớn cao lộc ngộc. Chúng giương mắt nhìn linh mục, lí nhí chào ông. Chủ nhà kéo một cái ghế ba nan xiêu vẹo ra khỏi cái bàn đen đủi không cùng bộ với nó.

– Xin cha ngồi ngơi…

Linh mục để mặc cho chủ nhà đỡ ông ngồi xuống. 

– Thưa cha dùng gì ạ? Trà hay cà phê?

– Vẽ – ông xua tay – Ta nghỉ một lát rồi làm việc. Ta không khát. 

– Xin cha tự nhiên ạ. Đường thì xa, lại xóc nữa – ông chủ nhà phàn nàn – Đến con đây còn mệt nữa là…

Linh mục nhìn quanh. Bóng tối che khuất số đồ đạc hiếm hoi trong gian phòng nhỏ. Không khí có mùi ẩm mốc, mùi của cái nghèo. 

– Việc sửa soạn cho kẻ liệt dọn mình về với Chúa là việc trọng – linh mục nói – Chớ chia trí cho việc khác. 

Chủ nhà đưa mắt cho vợ. Người vợ bối rối nhìn lại chồng. Họ có vẻ băn khoăn. 

– Đội ơn cha đã hạ cố đến với chúng con – chủ nhà cúi mặt nói – E hèm…, chúng con sở dĩ phiền đến cha tuổi cao sức yếu, phải đi lại đêm hôm cực nhọc thế này là vì…, hèm…

Linh mục bảo:

– Có chuyện gì khó ông cứ cho ta hay. Đừng ngại.

Người vợ đỡ lời chồng, thẽ thọt:

– Chẳng giấu gì cha, chả là thế vầy: con có ông chú ruột… 

– Người sắp sinh thì… – người chồng tiếp – Dạ, trình cha, người cứ một hai đòi gặp cha…

– Hừm.

– Có điều chú con… – người vợ nói – Người trước kia cũng là con chiên bổn đạo ta đấy ạ. Quê chúng con toàn tòng ạ. 

– Tức là? 

– Thưa cha, – người chồng cúi mặt – hiềm nỗi chú con… người trót nghe theo kẻ vô thần nên đã bỏ đạo…

Linh mục nhắm mắt lại. Cả ba nín lặng. 

– Chuyện ấy thường. – linh mục thấy cần phải nói một điều gì đó để phá đi bầu không khí nặng nề, và cũng là để an ủi vợ chồng chủ nhà – Thời Lucifer, người bỏ đạo không ít… Ông ấy còn tỉnh trí chứ? 

Không thể làm lễ xức dầu cho kẻ ngoại đạo, cái đó ngoại luật, cha xứ nghĩ. Oái oăm thật. Nếu người liệt đã hôn mê, ta có thể ban phước lành cho ông ta, cái đó không sao, Chúa lòng lành chẳng hẹp với ai. 

Người vợ thấy cha xứ hiền, không quở trách, trở nên bạo dạn hơn:

– Trình cha, còn, người còn tỉnh trí ạ – bà ta nhanh nhảu đáp với nụ cười như mếu – Ơn trên, người đã nghe chúng con, người xin giở lại đạo rồi…

Linh mục nói:

– Cũng lại chuyện thường thôi. Người bỏ vẫn bỏ. Người theo vẫn theo. Người giở lại đạo vẫn giở lại… Ông ấy đâu? 

Ông nhìn quanh. 

Người vợ bối rối:

– Trình cha, chúng con chưa kịp thưa với cha: chú con quên ráo kinh bổn rồi. Nói ra thật xấu hổ, cơ mà chúng con cứ trình thật thế vậy…

– Chuyện ấy không quan trọng – linh mục chống tay đứng lên – Hãy đưa ta đến với ông ấy. Ta biết phải làm gì. 

Chủ nhà cầm cây tọa đăng, đi trước, linh mục theo sau. Họ đi qua gian trong, nơi mấy đứa con trai đã nằm lại chỗ của chúng. Cánh cửa kêu kèn kẹt mở ra một khoảng trời tối với những ngôi sao bất động. 

Trong ánh đèn linh mục nhìn thấy mấy quả cà tím loáng sáng trên những luống rau dền. Hai bên lối đi nhiều cỏ may đến nỗi ông phải cẩn thận vén áo chùng lên tận đầu gối. Có mùi lá tre mục, mùi sương đêm tinh khiết. Mùa thu mát, nhưng ẩm ướt. Thời tiết trước khi vào đông bao giờ cũng vậy. Mình ở vùng này đã bao lâu rồi? – ông bâng khuâng tự hỏi – dễ đến ba mươi năm chứ không kém. 

– Chú con không chịu ở trên nhà với chúng con, người kêu ồn – chủ nhà phân trần – Người đòi nằm một mình cho tĩnh. Chứ chúng con không muốn thế…

– Người già thường khó tính – linh mục nói 

Mình cũng thế, ông nghĩ. Ông biết gần đây chính ông cũng trở nên khó tính khó nết. Ông khảnh ăn, không chịu được mùi hôi và mọi sự bề bộn, động một tí là bẳn gắt. Hẳn ông cũng làm phiền các thầy và bõ già không ít. Có điều họ chẳng nói ra thôi. Đôi lúc tỉnh, ông thấy mình hành mọi người một cách vô lý, nhưng đáp lại họ chỉ nhẫn nhục im lặng. Những lúc tỉnh ra ông giận mình lắm. Ông tự hỏi: họ buộc phải chịu đựng ông vì trách nhiệm? Hay chỉ vì lòng tôn kính với bảy chức thánh của ông, vì lòng biết ơn sự tận tụy nhiều năm của ông ở xứ đạo của họ? 

Chủ nhà đẩy cửa vào ngôi nhà nhỏ cô độc ở cuối vườn. Gọi nó là lều thì đúng hơn, bởi vì nó rất hẹp và tuềnh toàng. Ánh toạ đăng soi tỏ cái giường tre, trên đó một thân hình còm nhom nhô lên dưới tấm chăn dạ rách, vật còn lại từ một thời chinh chiến. 

Linh mục tưởng người nằm đấy chết rồi, ông đã đến muộn. Dưới ánh đèn vàng vọt, trên gương mặt xương xẩu, khắc khổ của ông ta hầu như không còn dấu hiệu của sự sống. 

Chủ nhà cúi xuống nghe ngóng, rồi quay mặt lại: 

– Người ngủ. Để con đánh thức. 

Ông ta nắm lấy vai người bệnh, lay khẽ: 

– Chú ơi chú! Cha đến.

Linh mục chắp hai tay trước bụng, kiên nhẫn đợi. 

Trong yên lặng, con tắc kè bỗng kêu to ở đầu hồi làm ông giật mình.

Người bệnh khẽ rên một tiếng. Ông ta gượng mở mắt:

– Cha hử?

– Vâng, thưa chú, người đã đến ạ. 

Linh mục đặt tay lên vai chủ nhà :

– Ông cứ lên đi, mặc chúng tôi.

– Nước! – người bệnh thều thào.

Chủ nhà cầm lấy phích nước trên cái bàn làm bằng một mảnh ván mộc kê trên đôi mễ xiên xẹo, rót chầm chậm vào cái chén sứt sẹo. Đoạn, mang đến bên phản, nâng đầu người bệnh, cho ông ta uống từng ngụm nhỏ. Mái tóc thưa, xơ xác của người bệnh rung rung khe khẽ cùng với nhịp chuyển động của yết hầu. 

Linh mục chăm chú nhìn người bệnh, ân hận đã không đem theo một cậu giúp việc trong trường hợp này. Nhưng ông sực nhớ: cái xe Honda ọp ẹp của chủ nhà chỉ có thể chở hai người.

Chủ nhà lễ phép đi giật lùi ra khỏi lều, khép cửa lại.

Người bệnh khó nhọc rút một tay ra khỏi chăn. Những ngón tay gày, cong queo vẫy linh mục lại gần hơn.

Linh mục đến bên giường, chăm chú nhìn vào khuôn mặt vàng nhợt và cứng đơ như được nặn bằng sáp. Cất giọng trịnh trọng, như ông vẫn thường làm trong nhưng trường hợp tương tự, ông nói câu thuộc lòng:

– Ta đã đến với con, hỡi con chiên lạc bầy muốn trở về trong Chúa!

Linh mục bỗng giật mình. Ông nhận thấy giọng ông vang vang trong túp lều yên lặng hoàn toàn không có hồn, như thể nó phát ra từ máy ghi âm. Tự nhiên ông thấy mình bối rối. Vì tia sáng phát ra từ mắt người bệnh, cái tia sáng đi cùng với nụ cười thoảng qua, hay bởi chính giọng không hồn của mình, ông không rõ? 

– Con hãy nhận lấy tên thánh của con trước khi dọn mình xưng tội cùng Chúa – linh mục giơ cây thánh giá đeo trước ngực hướng về mặt người bệnh – Nhân danh Chúa trên Lời… ta đặt tên thánh cho con là Đôminicô để ghi lại giờ khắc con giở lại đạo trên đất đai của dòng Đa Minh.

Trong khi linh mục cố tập trung tư tưởng để làm phận sự trước cái nhìn chòng chọc của người bệnh thì người ấy lại vẫy ông: 

– Này, linh mục…

Linh mục cúi xuống, lắng nghe tiếng thều thào từ đôi môi khô héo:

– Con muốn nói gì? Ta nghe đây.

– Xin cảm ơn ông đã đến với tôi – người bệnh nói – Cảm ơn.

Linh mục sững người, ông thấy có điều khác thường khi người bệnh không gọi ông bằng “cha” xưng “con”. Người bệnh đoán được tâm trạng của linh mục.

– Ông đừng bực mình. Cách xưng hô không làm nên con người, cũng như cái áo không làm nên thày tu…

– Không sao, tôi không câu nệ…

– Cảm ơn ông. Ông đã đến với tôi, thế là tốt lắm rồi. Ông khỏi cần làm lễ. 

– Hử? 

– Vâng, ông khỏi cần làm lễ. Nó vô ích. 

– ???

– Là vì tôi có tin ở Chúa của ông đâu.

Người bệnh cố diễn đạt ý mình cho mạch lạc, với giọng khao khao của thanh quản bị tổn thương.

– Vậy ông cho mời tôi đến đây làm gì? – linh mục lắp bắp.

Người bệnh nhìn quanh rồi đặt ngón tay trỏ lên miệng.

– Cái gì vậy? – linh mục lo lắng nhìn quanh.

– Ông chớ nói to, các cháu tôi nghe tiếng. Tôi không muốn chúng nghe câu chuyện giữa chúng ta.

– À! Tôi hiểu – linh mục gật đầu, rồi vào giọng với người bệnh như một đồng loã, ông thì thào – Được, tôi sẽ nói khẽ.

Người bệnh động đậy mấy ngón tay.

– Phiền ông đỡ tôi ngồi lên. 

Linh mục vòng tay ra sau gáy người bệnh, đặt ông ta dựa lưng vào vách. Làm xong việc đó, ông thở dốc.

– Thế. Tốt rồi. Khi ngồi tôi dễ thở hơn, nói cũng dễ hơn.

– Ông không cần làm lễ? Thật vậy sao: không cần? 

Người bệnh ái ngại quan sát linh mục bằng cặp mắt mệt mỏi:

– Ông cũng già quá, linh mục ạ. Ông ngồi xuống đây với tôi.

Linh mục ngồi ghé xuống mép phản. 

– Sang năm tôi vừa đúng tám mươi hai. 

– Nhiều quá rồi – người bệnh thở dài – Linh mục đừng giận, nhưng sau lưng các cháu tôi, tôi phải nói thẳng với ông điều tôi nghĩ. Tôi không thích dối trá.

– Hừm… Tôi hiểu – linh mục nói, giọng nhẹ nhàng, cố chứng tỏ ông không phật ý – Ông muốn chiều lòng các cháu?

– Đúng thế, ông ạ. Các cháu tin ở Chúa. Tôi thì không. Chúng sốt sắng muốn tôi giở lại đạo.

– Họ cũng nói với tôi như vậy. 

– Chiều các cháu, tôi mới bảo chúng: chú chỉ chịu xưng tội chịu lễ với cha ít nhất cũng phải ngang tuổi chú. Hì hì…, tôi biết trong vùng này chỉ có một mình cha…

– Ông muốn chính tôi đến với ông?

– Cái đó có nguyên uỷ của nó, tôi sẽ nói vì sao. Tôi chỉ e ông không đến được. Tôi chờ ông. Nghe nói ông không còn làm mục vụ nữa.

– Nhưng tôi đã đến.

– Cảm ơn ông. Tôi muốn trước khi chết tôi có dịp tâm sự với người cùng một thế hệ. Các cháu tôi yêu tôi, nhưng chúng không hiểu tôi bao nhiêu. Tôi rất muốn được nói chuyện với người ít nhất cũng đã sống trên trái đất này bằng số năm mà tôi đã sống. Chỉ người đó mới hiểu được những lời tâm sự của tôi, kẻ sắp qua đời…

– Vậy là ông đã có người mà ông cần để đóng vở kịch của ông. Còn để tâm sự, tôi e rằng ông chọn lầm người. Một linh mục thì có gì để tâm sự với một người thế tục cơ chứ?

Linh mục nhắp chân, toan đứng dậy. Người bệnh nắm lấy tay ông, giữ lại. Nắm chắc. Như một cái kìm.

– Nghe tôi đây này, thật mà, ông lầm người rồi – linh mục gỡ tay ra, nhưng không được – Việc của linh mục là giảng đạo, nghe con chiên xưng tội và nhân danh Chúa giải tội cho họ. Còn tâm sự thì không. Không phải việc của linh mục.

– Sao lại thế? – người bệnh chống tay cố gắng để ngồi thẳng dậy, nhưng không được – Nghe lời tâm sự của kẻ sắp chết để hiểu người thế gian cũng là một việc nên làm lắm chứ…

Linh mục thở dài:

– Được, nếu ông muốn thế thì tôi sẽ ngồi đây với ông thêm một lát. 

Đôi môi khô héo của người bệnh nhếch một nụ cười:

– Cảm ơn ông.

– Có gì mà ơn với huệ – linh mục phẩy tay – Tôi cho phép ông nói dối các cháu ông rằng ông đã được làm lễ xức dầu. Chúa cũng sẽ tha cho ông tội nói dối ấy, bởi vì nó vô hại… Xong, ông để tôi đi.

– Ông đừng đi. – người bệnh vật nài – Ông sẽ ở lại với tôi cho đến lúc tôi đi khỏi đây nhá? Đi khỏi thế gian ấy mà. Tôi biết: ông là người tốt. Một linh mục chân chính thì phải ở lại trước lời thỉnh cầu trước giờ lâm tử của một kẻ ngoại đạo, cho dù kẻ đó là tín đồ của Mahomet, của Thích ca Mầu ni, của chư thần Ấn giáo. Hoặc là kẻ vô thần chẳng tin ở cái gì hết. 

– Ông tự tin quá đấy, nhưng trong chuyện này, ông có lý – linh mục nói – Tôi sẽ ở lại. Bao lâu cũng được. Tôi đã hết bận công kia việc nọ rồi. 

Đôi môi khô héo của người bệnh nở một nụ cười rất hiền.

– Cảm ơn ông. “Điểu chi tương tử kỳ thanh tắc ai, Điểu chi tương tử, kỳ minh dã ai; nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện””, con chim gần chết thì tiếng kêu ai oán, người ta gần chết thì nói lời lành, ông nhớ câu ấy không? Chẳng lẽ lúc này tôi lại nói với ông những điều xấu xa hay ác độc?

Ông ta nói phải, linh mục nghĩ. Ai rồi cũng sẽ qua cái cầu ấy. Không biết rồi mình có cần gặp ai đó trong giờ lâm tử để trút bầu tâm sự không? Có lẽ mình cũng cần đấy, nhưng mình sẽ không nói ra, nói cho đúng, mình không dám nói ra. Xấu hổ lắm. Chẳng ai muốn bày ra chỗ yếu đuối của mình. 

Như đọc được ý nghĩ của linh mục, bàn tay xương xẩu của người bệnh bóp nhẹ cổ tay ông. Linh mục mỉm cười. Ông thấy trong lòng vui vui. Ông nhớ đến một người bạn trong thời thơ ấu, với cái bóp tay đồng loã khi hai đứa trèo vào vườn nhà người hái trộm khế ngọt.

– Ông sẵn sàng nghe tôi nói chứ, linh mục?

– Ông cứ nói, tôi ở lại để nghe ông mà.

Người bệnh im lặng một lát, có vẻ ông ta muốn sắp xếp lại những ý nghĩ lộn xộn trong đầu trước khi nói ra. Đêm yên tĩnh lạ thường. Nghe rõ những giọt sương nặng từ mái lá rơi xuống lộp độp.

– Tôi xin lỗi đã làm ông buồn. 

– Không, tôi không buồn. Có gì mà buồn?

– Tôi không tin có Chúa, bởi vì nếu có Chúa thì tại sao trái đất của chúng ta lại như thế này? Chúa có quyền lực vô biên cơ mà. Tại sao Chúa lại sinh ra đau khổ bên cạnh hạnh phúc? Người nghèo bên cạnh người giầu? Người xấu bên cạnh người tồt? Và sự đểu cáng làm đau đớn những tâm hồn thánh thiện? 

– Chúa đặt ra những thử thách cho con người để nó khẳng định mình, tự hoàn thiện mình – ông nói – Chỉ có một nơi ngự trị toàn sự tốt lành, ấy là Thiên đàng, nước Chúa. 

– Nhưng nó ở xa lắm. Mãi đời sau kia – người bệnh cười méo mó – Đạo Phật cũng có một cái tương tự là niết bàn – nirvana. Linh mục có bao giờ nghĩ về sự vô lý này không? Với quyền lực vô biên, tại sao Chúa không dựng nước thiên đàng ở ngay đây, trên mặt đất nhày nhụa mà chúng ta đang sống? Phải, tại nơi mà hàng triệu sinh mạng chết đi trong những cuộc chiến tranh chẳng ích lợi gì cho họ, hoặc sống quằn quại dưới gót sắt của những bạo chúa, hoặc đi ra pháp trường bởi những lời xúi giục của đám chính trị gia lưu manh? Tại nơi có những giống nòi tự xưng thượng đẳng để đẩy những giống nòi khác vào chỗ diệt vong, nơi có hằng hà sa số nhà tù để giam đến chết những con người lương thiện thích sống bằng suy nghĩ của mình chứ không thích sống để nghe lệnh của kẻ cai trị?

Linh mục thấy mệt. Chẳng lẽ con người này lại dùng những phút cuối cùng của đời mình vào cái việc bàn luận chính trị chán ngắt?

Như đoán được linh mục nghĩ gì, người bệnh lắc đầu :

– Tôi hiểu, ông chán. Ông chẳng lạ gì điều tôi vừa nói. Ông biết quá đi ấy chứ. Nhưng tôi dám chắc chẳng bao giờ ông trả lời được câu hỏi đó, bởi vì ở các chủng viện người ta cũng chẳng bao giờ dám động đến nó. Các ông, những linh mục, các ông chỉ là những ông thủ từ làm công việc canh đền, nói thế ông đừng  giận. Trong đầu các ông chỉ có kiến thức của những con vẹt. Trước những câu hỏi như thế các ông thủ từ của mọi thứ đền lập tức chạy vội đến chỗ ẩn náu tiện lợi gọi là đức tin, và thế là xong. Tin và đừng có bàn cãi. Amen!

(còn nữa)

Leave a Reply