Chỉ cần mình hết lòng yêu thương…

Nguyễn Ngọc Tư

“Có vẻ khó tin, khi một người nghĩ rằng, chỉ cần mình hết lòng yêu thương, gánh hết sự kiếm sống nhọc nhằn thì sẽ được đền đáp xứng đáng. Có vẻ buồn cười…”

Những chiều ghe chúng tôi đi ngang qua những người đàn bà ngồi giặt giũ dưới bến sông, tôi hay hỏi lòng, có phải tôi vừa ngang qua má đó không. Tôi cố giữ trong lòng hình ảnh má nhưng rồi ngày càng tuyệt vọng khi thấy nó nhạt nhòa dần, cứ nghĩ mai này gặp lại mà không nhận ra nhau, lòng nghe buồn thiệt buồn.

Má tôi hay mang xoong chảo ra bực sông chùi lọ nghẹ, sẵn đón ghe hàng bông mua ít rau cải tươi và bán lại những quày chuối chín bói trong vườn. Dần dần, buổi chiều, đám thương hồ hay lại neo ghe chỗ mấy cây mắm trước nhà. Một người bảo không sao xa được người đàn bà có cái cười làm lấp lánh cả khúc sông. Má tôi nguýt dài:

– Dóc… 

Người đàn ông cười hề hề, thề “ Tôi nói láo cô Hai cho xe đụng chết ngắc” (Ngay lập tức, Điền thì thầm, “thằng chả ở dưới ghe kiếm đâu ra chiếc xe, nói dóc…”, và bằng cái vẻ ác cảm lạ lùng, thằng Điền biểu tôi nhìn khuôn mặt và tấm lưng trần chi chít những nốt ruồi của ông ta, bảo “Tại hồi đó má ổng mới sanh ổng ra quên lấy lồng bàn đậy, nên ruồi bu tùm lum”).

Cho dù người đàn ông ấy có quá nhiều nốt ruồi, cho dù chẳng cao ráo, đầu ít tóc… nhưng với chiếc ghe chở đầy vải vóc, những người đàn bà lam lũ quê tôi vẫn thường trông ngóng ông ta. Tất cả họ đều trở thành trẻ thơ khi bước chân lên ghe, họ tíu tít, háo hức, họ thèm muốn đến bồn chồn rồi dùng dằng trở lên bờ với tâm trạng tiếc nuối, ngậm ngùi, thấy mình già khi ngang qua bồ lúa vừa hót bớt một lỏm, thằng cha bán vải lấy mấy giạ mà như khứa một ít tuổi xuân đi. Cả đời, cái bồ lúa luôn làm lòng họ đau đáu, khi nghĩ tới bệnh tật, chuyện cất lại cái nhà, hay dựng vợ gã chồng cho con cái.

Bồ lúa nhà tôi đã cạn từ sau Tết. Điều đó làm má tôi hơi buồn, nhưng người bán vải xăng xái bảo, “Cô Hai cứ coi đi, không mua cũng được – rồi ông ta sửng sốt khi thấy má rạo rực khi ướm thử những khúc vải rực rỡ lên người – Chèn ơi, coi nó bình thường vậy mà khoác lên mình cô Hai lại thấy sang quá trời”. Má bỗng nhiên thắc thỏm:

– Dóc… 

Tôi chưa bao giờ thấy cái màu đỏ lạ lùng ấy. Đỏ hơn bông bụp ngoài sân, đỏ hơn máu. Má ngó chúng tôi, hỏi: “Gì mà nhìn trân trân vậy hai đứa?”. Tôi nói, “Má lạ quá hà, nhìn không ra”. Má mừng quýnh, “Thiệt hả?”. Tôi muốn khóc quá chừng, má con xa lạ với nhau mà sao lại mừng?

Một bữa tôi chiêm bao, chẳng đầu chẳng cuối gì, chỉ thấy vía má giãy giụa trong tấm vải đỏ lạ lùng kia nhưng nó thít chặt, riết lấy, siết dần cho tới khi má thành một con bướm nhỏ, chấp chới bay về phía mặt trời. Giật mình thức dậy mới hay mình ngủ quên trong kẹt bồ lúa, con chó Phèn ngoài hè nôn nóng cào đất rột rẹt chỗ cái lỗ chui (Chắc má tưởng hai chị em tôi đi chơi nên chốt cửa trước cửa sau mất rồi). Mà Điền ngồi ém ngay đó, lì ra, không cục cựa, mình nó mướt mồ hôi, không có vẻ gì là nó đang khóc, nhưng nước mắt chảy ròng ròng. Tôi ôm đầu nó, giấu ánh nhìn của nó vào ngực mình.

Đứa mười tuổi quay lưng lại, đứa chín tuổi úp mặt vô áo chị nó, nhưng cả hai vẫn như thấy rõ ràng, trên chiếc giường tre quen thuộc, má oằn uốn người dưới tấm lưng chơm chởm những nốt ruồi. Họ cấu víu. Vật vã. Rên xiết.

Đó là hình ảnh ấn tượng cuối cùng của má tôi trên nền một cái nhà nhỏ, đằng trước có bộ bàn chữ U, bộ vạc tre, rồi đến một cái bồ lúa nhỏ dựng gần giường ngủ, và gian bếp thấp. Quanh hè, dài theo những lối đi ra vườn, ra bến là những cục đá tảng, những thân dừa chẻ hai, cha tôi đã hì hục lót để suốt một mùa mưa, chân má tôi không bị dính sình bùn.

Suốt nhiều năm sau đó, tôi không dám nhớ má, bởi ngay vừa khi nghĩ đến má, ngay lập tức hình ảnh ấy hiện ra. Theo đó là rực rỡ trên da thịt màu vải má tôi vừa đổi được (không phải bằng tiền, hay lúa). Mà, đáng lẽ phải nhớ tới khúc má nằm võng hát đưa mình ngủ ấy, hay đoạn má ngồi giặt áo bên hè, hay má cúi đầu giữa vầng khói mơ màng, thổi lửa bếp un…

Má có rất nhiều hình ảnh đẹp, và cả khuôn mặt lo lắng của má khi chiều ấy vẫn còn đẹp, nhìn thấy nước mắt không ngừng tuôn rơi trên mặt thằng Điền, má thảng thốt hỏi: “Mèn ơi, mắt con sao vậy?. Tôi trả lời, day day chậm rãi, “Chắc tại nó nhìn thấy chuyện bậy đó, má. Trưa nay nó ngủ kẹt bồ lúa”. Má chết lặng nhìn tôi, cái nhìn như lịm đi trên khuôn mặt đẹp não nề. Không thể giải thích vì sao tôi lại hể hả.

Và tôi luôn nghĩ rằng chính vì câu nói đó mà má tôi ra đi.

Tôi chạy qua nhà hàng xóm, nói với thím Tư rằng má đi mất tiêu rồi. Cả xóm tưng bừng, kẻ mừng vì vợ mình chưa bỏ theo trai, người vui vì con đàn bà đẹp nhất xóm đã đi rồi, khỏi lo ông chồng suốt ngày thòm thèm dòm ngó, cũng có người buồn, ghe vải chắc chẳng quay lại xóm này. Mọi người bàn ra tán vào, xôn xao, bắt tôi nhớ lại coi trước lúc đi má tôi có hành động gì đặc biệt mang tính dự báo không? Chuyện này quan trọng lắm, nó cho người ta tự kiểm tra trình độ trải nghiệm, suy đoán. Thí dụ như nhà nào có người mới mất họ kêu lên, hèn chi đêm trước có nghe chim cú kêu, thê thiết lắm. Thí dụ như nhà nào bị mất trộm, họ bảo nhau, hồi hôm tui nghe tiếng chó sủa thiệt kỳ, là tui nghi rồi… Nhưng chuyện ra đi của má tôi không mấy ly kỳ…

– Hồi chiều má con không nấu cơm…

– Vậy sao?

– Má con nằm trên giường thở dài… 

– Vậy hả? Thở ra làm sao?

Tôi hết biết tả. Tiếng thở thườn thượt, nghe buồn mênh mông, chảy từng giọt như nước mắt. Má tôi thở dài khi ghe cha ghé bến vì biết mai mốt cha lại đi. Má tôi thở dài khi tắm, khi nước trôi dài trên làn da trắng như bông bưởi. Lúc ngồi vá những bộ quần áo cũ. Mỗi lần ghe vải ghé trước bến, má cũng thở dài, tay bối rối nắn vào hai túi áo mỏng kẹp lép. Thở dài cả khi thằng Điền bảo cho con xin tiền mua kẹo, má ơi.

Mọi người không thất vọng, họ cho thời gian lùi lại xa xa, thì ra cũng đã có điềm báo trước mối nhân duyên này tan rã, ngay cái bữa đầu tiên, ngay lần gặp đầu tiên. Má tôi ngồi khóc bên bực con sông Dài, cha tôi chèo ghe đi ngang, đã qua khỏi một quãng nhưng vì mủi lòng, cha quay mũi lại. Cha hỏi, cô về đâu tôi cho quá giang. Má tôi ngước lên, mặt ràn rụa nước, “tôi cũng không biết về đâu”. Cha tôi chở người con gái tội nghiệp này về nhà, và trong thời gian suy nghĩ tính coi mình đi đâu, má yêu cha mất rồi, sau đấy thì đẻ hai chị em tôi. Rõ ràng, quá rõ ràng, thấy chưa, má tôi chỉ quá giang một khúc đời rồi đi, ai cũng linh tính vậy, chỉ cha tôi là không, nên bây giờ mới khóc hận, cười đau.

Tới đây thì hết chuyện nói, hàng xóm ra về. Giống hệt như vừa tan đêm hát, họ xì xào đi vào trong đêm, tiếng chó sủa rộ lên dài theo những con đường xóm. Tôi và Điền nằm nhìn trân tráo lên nóc mùng, nghe gió hui hút trên những ngọn tre già bên hè. Một hồi, thím Tư qua, thím kêu hai chị em tôi qua nhà thím ngủ.

Sáng sau, thím đi chợ, tới bến tàu, cho hay “Vợ Út Vũ bỏ nhà, theo trai” Ông chủ chiếc đò chạy tuyến Hưng Khánh nói lại với mấy bà bạn hàng, và chiều lại cha tôi mới nhận được lời nhắn ấy khi đang lên đòn dông cho một ngôi nhà gần chợ Hội. Nghe nói cha tôi còn cười, giọng ra vẻ giận, “Bộ hết chuyện giỡn rồi sao, cha nội?”. Có vẻ khó tin, khi một người nghĩ rằng, chỉ cần mình hết lòng yêu thương, gánh hết sự kiếm sống nhọc nhằn thì sẽ được đền đáp xứng đáng. Có vẻ buồn cười… Và cha tuột xuống đất, run rẩy… 

Quãng hành trình về nhà có vẻ rất dài và khắc nghiệt, nó vắt kiệt cha tôi. Cha cười cay đắng, khi thấy quần áo má còn treo trong nhà, còn cả cái khăn tắm và đôi dép Lào cũ, như thể má đang chơi bên xóm, chỉ cần thằng Điền kêu má sẽ xấp xãi chạy về, mừng húm hỏi “Đi chuyến này nữa là đủ tiền mua ti vi màu, phải hôn anh?”.

Coi kỹ thì má không đem theo gì. Chi tiết đó làm đau lòng người ở lại, nó cho thấy người đi đã chẳng suy nghĩ, đắn đo, đã không một chút trù trừ, chỉ rũ mình cái rột, sạch trơn, vậy thôi.

Cha đem tất cả đồ đạc của má đem đốt. Khói bay mù mịt trong nhà, mùi vải, mùi nhựa cháy khét lẹt, những cái áo hồng áo tím rúm ró lại, chảy thành những giọt tro. Cha nhìn ngọn lửa, mặt đanh lại, rồi mắt bỗng rực lên, ngây ngất vì một ý nghĩ mới lạ.

Chúng tôi dong ghe đi, quặn lòng ngoái lại căn nhà đang quay quắt giãy giụa trong lửa đỏ. Nghe vẳng theo âm thanh lốp bốp rất giòn của những thanh gỗ cháy, và tiếng xóm giềng í ới gọi nhau. Chắc chắn sẽ có người vỗ đùi cái đét, “Hồi hôm qua, ngó cái mặt u ám của Út Vũ, tui nghi thể nào thằng chả cũng đốt nhà. Nghi đâu có đó, thiệt là y như để vậy, các cha”.

Kể nhiều chuyện như vậy là để trả lời chị, nhà tôi, má tôi, rốt cuộc đã trở thành tro bụi mất rồi. Nên khi hết mùa lúa chín, những người nuôi vịt chạy đồng khác đã trở về nhà còn chúng tôi lại tiếp tục lang thang.

Đàn vịt đưa chúng tôi đi hết cánh đồng này đến cánh đồng khác. Đôi khi không hẳn vì cuộc sống, chúng là cái cớ để chúng tôi sống đời du mục, tới những chỗ vắng người. Ở đó, ít ai phát hiện ra sự khác thường của gia đình tôi, và ít hỏi cái câu, “Má mấy đứa nhỏ đâu?”. Để cha phải buộc lòng nói “chết rồi!” và cười lạt khi nghe người nào đó kêu lên: “Mèn ơi, tội hai đứa nhỏ hôn”.

– Trích “Cánh Đồng Bất Tận” | Nguyễn Ngọc Tư

(Ảnh từ phim cùng tên)

Ăn Ở Hà Nội

Đỗ Duy Ngọc

Hà Nội có nhiều món ngon, chuyện ấy ít người cãi. Nhưng món ăn ngon Hà Nội tập trung ở Phố cổ mà nhà ở Phố cổ thì bé tẻo teo, thế nên hàng quán bày bán đầy vỉa hè, muốn ăn thì ngồi ngay đường đi, ghế thấp lè tè, toàn ghế nhựa. Món ăn cũng bày tràn ra đường mặc cho bụi đường và vi trùng ồ ạt mà Hà Nội nổi tiếng là thành phố ô nhiễm bậc nhất cho nên thức ăn cũng thế thôi. Ra Hà Nội tìm món ăn ngon của một thời trong văn của Thạch Lam, của Vũ Bằng và cả ông Nguyễn Tuân, những người được cho là sành ăn, thế nhưng khi thấy mọi người chen chúc ở vỉa hè và món ăn bày tràn cả lề đường thì ngại ngùng. Cũng có một số quán bán trong nhà, nhưng chật chội và bẩn, muỗng đũa nhầy nhụa cả mỡ. Căn nhà ám khói và tràn giấy lau bay như bướm, trắng cả sàn. Chủ tiệm và người phục vụ có lẽ đắt khách quá nên chẳng cần lịch sự với khách, trả lời cứ nhấm nha nhấm nhẳng. Chủ và tớ nhễ nhại mồ hôi cứ thế mà bưng bê. Đặc biệt đi ăn ở quán ăn Hà Nội tuyệt đối đừng bao giờ đi vệ sinh, bởi đã vào đấy đi ra thì không thể ăn tiếp được vì nhà vệ sinh quá xá bẩn, bẩn tới phát khiếp.

Một lần vào Phở Thìn ở Phố Lò Đúc, ngồi một lát chẳng thấy ai hỏi mà quán thì nóng hầm hập, người chen chúc, bàn ăn là một dãy dài, ngồi chung chạ nhau. Đợi một hồi thấy chả có ai hỏi dù đã ra dấu nhiều lần với người phục vụ, nhưng các cậu ấy cứ tảng lờ. Ông khách ngồi chung bàn thấy thế mới bảo:

– Ra ngoài kia gọi phở và trả tiền thì nó mới bưng vào. À ra thế!

Gọi mấy bát phở, bảo chín, gầu, cậu phục vụ lắc đầu:

– Ở đây chỉ có một món tái lăn, một bát 60 ngàn.

Tô phở bưng vào, thử một muỗng nước lèo, đầy bột ngọt, thế là chỉ ăn được một vệt. Nhìn lui, một cặp vợ chồng trẻ và đứa con đang đứng chờ ngay sau lưng, đành đứng dậy, ở đây không bán nước uống, thôi thì để miệng nham nháp bột ngọt mà đi ra. Người ta bảo Phở Bát Đàn ngon, tui lại không thích quán đó, dù có ngon, bởi cái kiểu cầm tô xếp hàng và thái độ khinh khi khách của tên lùn múc phở là tui không chịu được. Lại nghe Phở Dư, Phở Sướng, Phở Hàng Da, ăn cũng được lắm, thuê xe đi ngang lại không dám vào vì quán nào cũng chen chúc, chỗ nào cũng chật chội. Không ăn phở thì ăn bánh cuốn, nghe bảo ở Hàng Gà có bánh cuốn ngon, chợt nhớ Cô bạn nhắn bảo ở phố Hàng Cót có quán bánh cuốn ăn được lắm, hí hửng lộn về, gọi một dĩa, thất vọng. Chạy qua Thanh Vân ở Hàng Gà, quán sạch sẽ, có quầy thu tiền ở cửa. Được giới thiệu combo gồm dĩa bánh cuốn và hai miếng chả cắt xéo giá 60.000. Gọi ngay rồi cũng đành bỏ vì không ngon, có lẽ khẩu vị của tui khác chăng? Tui bị cái tật là cảm thấy không ngon là bỏ, không ăn. Thà nhịn đói chứ không chịu ăn dở.

Đành kêu cuốc xe trở về khách sạn. Đi ngang hàng quán bún, miến, cháo, gà, vịt, ngan, bún thang, bún ốc, chân gà, lòng lợn, cua, ốc, giò, nộm, chả cá… đầy phố, nhưng thấy quán chiếm chật vỉa hè đành nhịn mà đi.

Một tối đi ăn bún chả gần khách sạn đang ở, đương nhiên là ngồi vỉa hè, đang ăn chợt thấy trước mặt, Chị giúp việc rửa tô bằng cách nhúng vào một xô nước lợn cợn bún và rau, rồi cầm một cái khăn đã ngã màu theo tháng năm lau quanh, sắp thành chồng. Nhìn thế, tui nhợn, không ăn tiếp được.

Buổi sáng thức sớm, anh Bạn người Hà Nội đem xe chở đi về làng Ước Lễ, nơi còn có cái cổng làng chụp hình. Anh bảo ghé Lý Thường Kiệt mua mấy gói xôi xéo ăn sáng, theo Anh, đây là nơi bán xôi ngon nhất Hà thành. Tới nơi, thấy xôi, hành phi, giò chả để ngay dưới đất trên lối đi của người đi bộ, không sạp, không bàn ghế là đã thấy oải. Có ngon cũng thành dở.

Hà Nội vẫn có nhiều nhà hàng lịch sự và vệ sinh, nhưng người Hà Nội bảo rằng các món ăn ở đó không ngon, không đúng chất Hà Nội. Ăn ở các nơi đó là chưa thưởng thức được món ăn Hà Nội và chứng tỏ là không biết ăn.

Có lẽ Hà Nội là nơi có nhiều quán lề đường nhất và cũng có lẽ đó là phong cách ẩm thực của người Hà Nội. Tui ra Hà Nội rất nhiều lần từ thập niên 90 đến nay, nhận thấy cung cách mua bán hàng ăn ở Hà Nội không đổi mà ngày càng xô bồ và nhếch nhác hơn.

Đây là ý kiến và cách nhìn của một cá nhân, có thể chưa bao quát hết nhưng cũng là nhận định của một người phương xa yêu Hà Nội viết vội về ăn ở Hà Nội.

Đỗ Duy Ngọc.

Sân ga chỉ có đèn vàng !

Đỗ Trung Quân

“ Những ai có tuổi thơ cạnh đường rầy xe lửa , kẻ ấy sẽ phải chuyển dịch lưu lạc suốt tuổi trẻ của mình.”

kẻ phán bừa , nói ẩu xanh dờn ấy là tôi.

chí ít nó đúng với chính tôi cái đã.

Tuổi nhỏ tôi trong ký ức cực kỳ mơ hồ vẫn còn đọng lại chút ít hình ảnh ngôi nhà có sân rải sỏi trắng ngập đến mắt cá chân, cổng xe lửa số 8 , bò bảy món Ánh Hồng , tiệm bán sữa đậu nành nóng về khuya của ông tàu già đường Nguyễn Minh Chiếu nay là Nguyễn Trọng Tuyển – PN 

tôi gần như quên hết chỉ còn lại tiếng còi tàu…

một tối mấy bận tiếng còi tàu hú từ xa đến trước ,tiếng bánh sắt ầm rập trên đường ray rồi mọi thứ lại trở về tĩnh lặng .tiếng còi tàu buồn lắm chẳng biết vì sao đứa trẻ nghĩ thế .về sau mới biết còn một thứ buồn hơn cả tiếng còi tàu…

Những ga xép trong đêm mưa…

Tôi có nhiều lần dừng ở những ga xép hiu quạnh , tàu dừng vài phút ,ngọn đèn sân ga vàng úa , mưa nho nhỏ vài bóng người êm ru không tiếng động có bóng lên tàu , có bóng nhảy xuống 

tàu chuyển bánh sân ga hiu hắt sau lưng. 

Khi ấy thì không gì bùi ngùi hơn “ đêm giã từ “ của nhạc sĩ Y Vân 

Mưa buốt lạnh trong đêm

Đứng bên thềm ga vắng

Hắt hiu ngọn đèn vàng

Em tiễn anh…

Mưa gió lùa qua đêm

Nói sao bằng lưu luyến

Thì tiếng còi lạnh lùng xé màn đêm…

Buồn tan nát, nhưng thú thật đấy là cuộc chia tay của người khác , cả đời tôi chưa từng tiễn cô người yêu nào trên sân ga cả chỉ biết nếu như thế nó buồn kinh lắm ( hay mừng kinh lắm không biết chừng ) “ vắng con tàu sân ga buồn héo hắt…thiếu em lòng anh thấy quạnh hiu …” sau này dù sân ga còn đó nhưng …lên máy bay sang hơn nên “ Aline “của chirstopher chàng Tây mũi lõ lại làm thổn thức dân sài gòn lãng mạn  “phăng xe “kiểu khác.

Chả tiễn ai trên sân ga bao giờ thì mình coi người khác tiễn nhau vậy.một phim Liên Xô nào đó quên mất tên . trên sân ga những toa tàu cũ kỹ chen chúc lính ,khi chiến tranh kết thúc những người lính vội vã lên tàu về lại làng quê cũ của mình. trong đám đông ,Cô gái cũng chỉ kịp nắm tay chàng lính trẻ thì tiếng còi tàu hú vang , tàu chuyển bánh chàng trai trẻ nhảy vội lên toa chỉ kịp hét to “ tìm anh ở làng…” nhưng tiếng bánh sắt rầm rập cùng tiếng còi hú vang cô gái không nghe rõ tiếng người yêu . cô hối hả chạy theo đoàn tàu trên sân ga đổ nát,nhưng chuyến tàu xa dần…

hình ảnh cuối cùng .

chiếc váy đen cũ rách , mái tóc vàng rối bời và bóng người thiếu nữ cô quạnh trên sân ga đã vắng, đường ray hun hút sương mù…

họ có tìm được nhau không ? không biết vì màn ảnh đã hiện lên chữ ” kô hêu ” .

hết phim

.

Mình có sến không nhỉ ? có cũng chả sao .câu chuyện cô gái Nga tóc vàng cũng na ná như “ tàu đêm năm cũ “ của nhạc sĩ Trúc Phuơng vậy chỉ đổi vai.

Tàu xa dần rồi

Thôi tiếc thương chi khi biết người ra đi vì đời

Trở gót bâng khuâng tôi hỏi lòng đêm nay buồn không

Chuyến xe đêm lạnh không

Để người yêu vừa lòng…

các nhạc sĩ từng làm thổn thức khán giả sài gòn một thời giờ cũng đã theo nhau lên chuyến tàu cuối của mình

sân ga vẫn hiu quạnh…

 chỉ còn lại ngọn đèn vàng…

………………………………………………………………………………………………

Ps: Con gái nhạc sĩ y vân có trong f.list của tôi ,chị cũng là ân nhân của các cháu mái ấm Lâm Bích lâu nay

Chân dung ns Y Vân tôi vẽ hơn 20 năm trước

SÀI GÒN CỦA TÔI

Hậu Kc Nguyễn

Lúc rảnh rỗi tôi hay lục trong đám thư từ cũ những bức thư của bạn bè gửi cho tôi sau tháng năm 1975, khi ấy tôi cùng gia đình rời Hà Nội trở về Sài Gòn sinh sống. 

Đọc những bức thư ấy tôi có thể nhớ lại, tôi đã luyến tiếc và mong muốn được quay lại Hà Nội như thế nào! Đúng thôi, “nơi tôi sinh Hà Nội… phố nhỏ ngõ nhỏ nhà tôi ở đó…”, cả thời thơ ấu nghèo nàn nhưng ấm áp vui vẻ trong những khu tập thể có những căn phòng 12 met vuông giống hệt nhau từ giường tủ đến bàn ghế, giống nhau cả quần áo của những đứa trẻ và cả bữa ăn đơn sơ mà người lớn vội vã hay chăm chút nấu trên cái bếp dầu bé tí luôn hôi khói dầu ma dút.

Bị dứt đi khỏi miền thơ ấu đúng vào tuổi 17 mơ mộng, lần cuối chia tay Hà Nội vào một đêm mùa thu, hương hoa sữa xóa nhòa lời tạm biệt của người bạn trai… Tôi ra đi mà biết rằng sẽ mang theo Hà Nội trong tim mình rất lâu, rất lâu…

Nhiều năm sau khi tôi đã là một người vợ, mỗi lần trở lại Hà Nội tôi đều tự hỏi: nếu mình sống ở Hà Nội thì bây giờ mình sẽ thế nào? Có lần tôi nghĩ, biết đâu tôi sẽ như cô bạn thân, lấy một ông chồng chỉn chu công chức, sáng đưa con đi học đưa vợ đi làm, đến chiều cả nhà lại trên chiếc xe máy “khứ hồi” về căn buồng nhỏ chia ra từ ngôi nhà chung của bố mẹ… Có thể vài năm sau khá giả hơn, tôi sẽ có một căn hộ ở một khu chung cư mới, cũng sẽ có chiếc xe máy xịn hay thậm chí có xe hơi để “không thua chị kém em”, mỗi ngày váy áo xông xênh đi đến công sở, đi chơi như nhiều người đàn bà khác.

Thế rồi sao nữa? Thật tình nhiều lần hỏi vậy và tôi không trả lời được. Đúng hơn là tôi không hình dung được nếu cuộc đời mình cứ trôi qua như vậy, như nhiều bạn bè tôi biết…

Những “kịch bản” về một nơi chốn khác đã không xảy ra, bởi vì không thể xảy ra khi tôi không muốn! Vì sao tôi không muốn? Giản đơn vì cuộc sống ở những nơi chốn khác, tốt hơn hay xấu hơn là điều không thể biết trước, nhưng chắc chắn là nó không phù hợp với tôi, mà nếu phải sống cuộc đời trái với tính cách của mình thì nhất định có lúc tôi sẽ bứt tung ra mà làm lại từ đầu. Vì vậy tôi luôn tự hỏi, nếu được bắt đầu một lần nữa tuổi trẻ, nghề nghiệp, các cơ hội thay đổi cuộc sống… tôi có chọn Sài Gòn không?

Và câu trả lời là CÓ! Bởi vì tôi hiểu rằng, Sài Gòn là nơi chốn của tôi, vì chỉ ở nơi đây tôi mới thật là TÔI. Sài Gòn đã dành cho tôi một SỐ PHẬN. 

Một lần, từ nơi xa một người bạn mail về cho tôi. Sau những dòng chữ ngắn gọn và rõ ràng thông báo về công việc như thường lệ, chợt dòng cuối một câu hỏi thảng thốt “Sài Gòn bây giờ thế nào hả em…?”. Câu hỏi của anh làm tôi giật mình tự hỏi, gần bốn mươi năm sống ở thành phố phương Nam đầy nắng gió này nhưng với tôi, Sài Gòn có những gì trong tâm tưởng? 

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Sài Gòn là từ một câu ca dao về vùng đất còn đầy vẻ hoang sơ lạ lẫm:

Nhà Bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định – Đồng Nai thì về

Cùng với tích chuyện xưa Thủ Hoằng dựng Nhà Bè ở ngã ba sông, để sẵn gạo củi giúp cho những người lỡ đường sông nước tạm dừng ghe xuồng nghỉ ngơi, chờ con nước  lớn mà ngược vào vùng bán sơn địa Gia Định Đồng Nai hay theo nước ròng mà xuôi ra cửa biển Cần Giờ… Trong tôi, Đất Sài Gòn hiện lên nơi ngã ba sông Sài Gòn và sông Đồng Nai nhập vào nhau để cùng đổ ra biển Đông, và Người Sài Gòn hiện ra như  những con người rộng rãi sẵn sàng làm việc nghĩa.

Cho đến bây giờ Sài Gòn vẫn không hề không câu nệ anh là ai anh từ đâu đến. Sài Gòn bao dung với mọi người, Sài Gòn chia sẻ cơ may cho bất cứ ai đến nơi đây. Những người bạn của tôi hầu hết đều sống ở Sài Gòn trên dưới 40 năm, từ nhiều vùng miền tỉnh thành, do những hoàn cảnh khác nhau mà đến/ vào/ về Sài Gòn sinh sống. Có thể coi chúng tôi là “người nhập cư” vì cha mẹ không sinh sống ở Sài Gòn và chúng tôi không sinh ra tại đây, nhưng chúng tôi tự coi mình là “người Sài Gòn” bởi vì chúng tôi đã trưởng thành, lập gia đình, làm ăn, có lẽ “nhắm mắt xuôi tay” cũng ở đây.

 Bởi chúng tôi nhận ra rằng, nếu ta sống với Sài Gòn, sống hết mình cùng Sài Gòn ta sẽ nhận ra tấm lòng nặng tình đầy nghĩa bên trong vẻ bộc trực phóng khóang của người Sài Gòn, người Nam bộ. Qua nhiều năm khó nhọc mưu sinh, nhiều người đã thầm hiểu, nơi ta được sinh ra là nơi để gửi nhớ gửi thương mỗi  dịp năm hết Tết đến, còn Sài Gòn là nơi mỗi ngày ta có thể được  sống hết mình trong suốt cuộc đời … Và nếu như ta đừng quá “thiên lệch” lòng yêu thương đối với nơi chôn nhau cắt rốn thì tình cảm của ta đối với Sài Gòn sẽ công bằng hơn, vì đó là thành phố của mình, vì ta cũng đã là người Sài Gòn!

Thế đấy, số phận đã “dịch chuyển” tôi từ Hà Nội vô Sài Gòn để có cơ may biết và hiểu Sài Gòn, để yêu Sài Gòn bằng một tình yêu sâu đậm. Không cần phô phang mình là “người Sài Gòn”. Tôi hiểu rằng, Sài Gòn chẳng cần phải luôn nói tốt về nó, lại càng không muốn so sánh Sài Gòn với nơi này nơi kia, Sài Gòn hôm nay với quá khứ đã qua… Sài Gòn là chính nó, Sài Gòn đã thay đổi, và cũng phải thay đổi, dù có điều hay điều dở, nhưng mạch nguồn trong lành của nó vẫn hiện hữu mỗi ngày, nuôi dưỡng những tâm hồn bình dị phóng khoáng, nuôi dưỡng những việc làm nhỏ bé mà đầy ắp nghĩa tình của người Sài Gòn, và của cả những người đến Sài Gòn.

Vậy thì có cần chăng, một nơi khác để bắt đầu một cuộc đời khác?

(Sông Sài Gòn qua thành phố)

Ba, con và chiếc xe máy cũ

Tác giả Nguyễn Kim Châu

Từ Tuổi Trẻ

Một câu chuyện trong veo đến nao lòng

Một câu chuyện thật đẹp mà sao vẫn buồn rưng rưng

CHỞ CON ĐI HỌC

Năm con vào trường mẫu giáo, ba chở con đi học bằng chiếc Cub 50. Trên đường đi, trong lúc dựng xe ngoài sân trường và cả khi chia tay ở cửa phòng học, con cứ nói mãi một câu: “Ba ơi! Hết giờ, ba rước con sớm nhứt nghen, ba.

Con đứng ngoài hành lang này, nhìn ra cổng nghen, ba!”. Ba cũng lặp đi lặp lại không biết chán: “Ừ! Ba sẽ đến sớm nhứt!”.

Suốt thời con học mẫu giáo, chỉ có một lần ba không phải là người đến sớm nhất. Phố đang mưa, ba chạy nhanh quá, không tránh kịp chiếc xe tải bất ngờ quẹo cua, đành thắng gấp. Chiếc Cub lết đi mấy chục mét, ba ngã nằm dưới gầm xe tải. May mà thoát chết! Lồm cồm bật dậy, chạy đến trường, hối hả ẵm con, hối hả xin lỗi. Con làm thinh, nhìn mãi mặt ba, lâu lắm, chợt nói: “Ba ơi, sao trán ba có máu?”.

Năm con vào tiểu học, đường đến trường xa hơn. Ba vẫn chở con trên chiếc Cub cũ mèm. Buổi sáng, hễ chia tay nhau ngoài cổng trường là con nhắc: “Ba ơi! Ba cứ đứng đây nghen, ba! Khi nào con vô lớp rồi ba hãy về nghen, ba!”. “Ừ! Ba sẽ đứng đây! Đừng lo!”. 

Con đi qua sân, đến tận hành lang phòng học vẫn quay ra, dáo dác ngó, xem ba có còn đứng đó hay không. Ba đứng nhìn cái lưng nhỏ xíu của con lẫn trong đám học trò, giơ tay thật cao cho con thấy, đợi đến khi con vào lớp mới chạy vội cho kịp giờ dạy.

Suốt thời con học tiểu học, cũng chỉ đúng một lần ba không đứng lại mà hộc tốc chạy đi. Ba chạy hơn trăm mét, bỗng giật mình, nôn nao, khó chịu lạ lùng, đành quay lại, len qua cánh cổng trường sắp đóng, nhìn vào, thấy con đứng tần ngần giữa hành lang vắng. 

Lúc thấy ba ló đầu vào, ánh mắt con sáng lên như có một giọt nước phản chiếu ánh nắng sớm. Con giơ tay, mỉm cười, miệng mấp máy như muốn nói: “Chạy nhanh lên, ba. Cho kịp giờ! Con vào lớp nghen!”. Ông bảo vệ chưa đành đóng cổng trường, lắc đầu, cười: “Bữa nào cũng vậy!”.

Năm con vào cấp II, trường xa thêm chút nữa. Chiếc Cub cà tàng giờ uống xăng như uống nước, tuần nào cũng phải đem đến tiệm sửa hai, ba lần, nên ba và con phải thức sớm, dẫn xe ra hẻm, đạp cho nó nổ máy, phun khói đen mù mịt một lúc mới chịu chạy êm. Ba không còn đón con sớm nhất nữa mà có khi trễ, rất trễ vì thỉnh thoảng xe xì vỏ, nghẹt xăng… 

Một lần, mưa rất to, phố xá chìm trong nước. Xe ướt bugi, chết máy. Ba xuống xe, dặn: “Con cứ mặc áo mưa, ngồi trên xe để ba dẫn qua chỗ ngập”. Ba lội bì bõm trong nước, đẩy xe len trong dòng người cũng đang vật vã với cảnh nước ngập đến đùi. 

Bỗng thấy chiếc xe nhẹ hơn, quay lại, thấy con đã cởi áo mưa, nhảy xuống từ lúc nào, cắn răng đẩy tiếp. Ba và con về đến nhà ướt mem, vậy mà vẫn nhìn nhau cười.

Năm con vào cấp III, trường xa lắm, mỗi ngày hai lượt đi, về hơn 20 cây số. Chiếc Cub đã bán cho đồng nát. 

Ba mua chiếc Dream mới, không còn sợ cảnh chết máy dọc đường. Con ngồi phía sau, nói đủ chuyện trên đời: chuyện nhà, chuyện trường, chuyện thầy cô, bè bạn… Có khi xe đã đến cổng trường mà chuyện còn chưa dứt. 

Trong tiếng mưa, tiếng còi chói tai, tiếng máy xe gầm rú, tiếng cãi vã, hò hét xô bồ giữa đám khói bụi, giữa những ngã tư, ngã năm ùn ứ người và xe giờ cao điểm, ba vẫn nghe rất rõ tiếng con liến thoắng, vì tiếng nói đó ở ngay sau lưng ba.

Ngày con thi đại học, ba chở con đến trường rất sớm rồi chờ ngoài cổng, chen chúc trong nhóm cha mẹ cũng ngồi chờ con, hết đứng lại ngồi. Gặp vài học sinh nộp bài ra sớm, cả nhóm nhao nhao bu lại hỏi: “Ra tác phẩm gì, con?”, “Đề khó không, con?”… 

Ba chạy mua một ly nước mía, đợi con ra khỏi cổng trường là vội vã đưa: “Uống đi con! Cho khỏe rồi về! Làm bài được không, con?”. Con cầm ly nước mía, ngó ba, chớp mắt mấy cái như bối rối: “Chắc không tệ ba à!”. “Đâu, đưa đề ba coi!”. 

Con cười, lấy đề đưa cho ba. Ba cắm cúi đọc, toàn số và hình, công thức và đồ thị, chẳng biết ất giáp gì. Nhưng thôi, cứ lướt qua cho yên tâm.

Con đi học xa, vậy mà thỉnh thoảng, trong giấc ngủ, ba vẫn hay choàng tỉnh, hoảng hốt vì hình như đã thức dậy trễ giờ đưa con đi học. Biết rằng ở thành phố, chiếc xe là phương tiện tối hậu, nếu không con phải thức sớm, đi bộ cả quãng đường ba cây số từ ký túc xá đến lớp mới kịp giờ, nhưng cứ dụ dự mãi vì lo tình hình giao thông phức tạp, lỡ có bề nào… 

Cuối cùng, đành bấm bụng đem chiếc Dream lên Sài Gòn cho con đỡ chân. Căn nhà chật chội vì thường khi có chiếc xe dựng chiếm chỗ, giờ bỗng rộng mênh mông. Cứ thấy thiêu thiếu một cái gì!

Con ra trường rồi ở lại Sài Gòn làm việc. Ba đi thăm con, đang chờ ngoài cổng bến xe Miền Tây thì nghe con gọi. Con chạy chiếc Dream ba cho, trờ tới, với tay xách túi đồ, nói: “Lên xe đi ba! Con chở ba về”. Ba ngồi sau lưng con, đi qua chằng chịt phố xá, xe chen xe, người chen người, hoa cả mắt. 

Con luôn miệng giải thích: “Ở đây người ta chạy nhanh lắm, không giống ở quê mình!”, “Chỗ này có quán ăn miền Tây nè ba!”, “Mình vừa qua Đầm Sen đó ba”…

Ba làm thinh nghe con nói, tiếng nói không còn vang lên từ phía sau mà từ phía trước. Hết nghe rồi lại nhìn! Ba nhìn tấm lưng dài và rộng của chàng trai trẻ, rưng rưng nhớ cái lưng nhỏ xíu của con ngày mới vào tiểu học. 

Rồi ba nhìn con đường trước mặt, dài thăm thẳm, lóa nắng, ngập khói bụi, ken đặc xe cộ, nửa ngao ngán, nửa thắc thỏm, tưởng tượng những sáng, những chiều, những tuần… con từ nhà đến chỗ làm rồi từ chỗ làm về nhà trên chiếc Dream đã rệu rã. 

Ba nói: “Ráng làm có tiền đổi xe mới đi, con! Chiếc này tệ lắm rồi!”. Con quay lại, đùa: “Còn chạy tốt mà ba! Con ráng o bế nó, để dành chở cháu nội ba đi học!”. Ba cười cười, mắng con: “Thằng cha mày!…”.

*****

S A P A

6/9/2019

Nguyễn Lân Thắng

Tôi đến Sapa lần đầu tiên vào năm 1996, trong một chuyến đi chơi. Để lên tới đó ngày ấy quả là kỳ công, bởi từ Hà Nội lên đến Lào Cai phải ngồi tầu hoả mất cả đêm đến trưa hôm sau. Rồi từ Lào Cai lên đến Sapa lại mất chừng một buổi chiều chạy xe khách 40km theo quốc lộ 4D nữa. Hồi đó đường xấu lắm. Tôi nhớ mình xuống tầu lúc khoảng giữa trưa mà đến 7 h tối mới tới được Sapa. Cái xe khách cà khổ đưa chúng tôi đi cứ lầm lũi bò men theo từng con dốc dựng đứng, đôi lúc nó cua ngoặt đi theo cung đường giữa lưng chừng núi cao, để lộ ra một khoảng vực sâu hun hút xanh thẳm bên dưới. Sau này khi những trò chơi tàu lượn siêu tốc bắt đầu du nhập vào Việt Nam cũng không thể làm tôi choáng ngợp bằng chuyến xe khách lên Sapa hồi đó…

7h tối, Sapa kính chào quý khách bằng một vườn mận tối âm u. Đúng chỗ bây giờ là vườn hoa trung tâm ngày đó toàn mận. Cơ man nào là mận. Mận che khuất cả khối đá cột mốc có từ thời Pháp, mãi đến sáng hôm sau tôi mới nhìn thấy cái chóp của nó nổi lên một chút giữa những tán cây xanh rì. Cả trung tâm thị trấn Sapa hồi đó vắng hoe, chỉ có chừng vài chục nóc nhà, và dễ nhìn thấy nhất là nhà thờ cổ và trạm khí tượng. Khoảng 2 năm sau thì khối khách sạn Victory mới được xây dựng trên núi cạnh đó. Trong khung cảnh đó duy nhất chỉ thấy có trạm khí tượng và cái khách sạn tôi đến là nhà xây có đổ bê tông. Còn lại toàn thị trấn là những nếp nhà xinh xinh bằng gỗ thấp thoáng nơi sườn núi. Mái nhà lợp bằng gỗ Pơ mu dầy 4-5 cm, hoặc lợp vảy cá bằng đá Ác đoa, là loại đá rất mỏng màu đen, giống như nóc nhà hát lớn Hà Nội các bạn có thể thấy bây giờ.

Buổi sáng ở Sapa rất lạnh. Những hàng nhũ băng đá hình thành từ đêm, đến sáng sớm thả xuống như rèm thuỷ tinh lấp lánh bên dưới mái hiên khắp thị trấn, phải đến 8-9 h khi nắng lên nó mới tan đi hết. Buổi trưa đúng hôm tôi đến là phiên chợ ngày chủ nhật. Hàng trăm con ngựa của bà con dân tộc tụ về, buộc đầy dưới khoảnh đất lòng chảo ngay cạnh nhà thờ. Những cái gùi mây, những cái khăn cái áo sặc sỡ các màu, những cái cuốc cái mai, những khẩu súng kíp, những mớ rễ thuốc nam, những tiếng người dân tộc lao xao gọi nhau, những tiếng kèn môi, khèn Mông… Tất cả những thứ đó tràn ngập khắp khu chợ làm tôi chìm nghỉm đi trong một không gian đặc quánh màu cổ tích. 

Sau này, những ấn tượng đẹp đẽ đó về Sapa chính là nguyên nhân chủ yếu làm tôi đã quyết định bỏ phố lên rừng về đây làm việc. Tháng 10 năm 2003, tôi về Lào Cai làm việc tại sở Xây dựng. Ông Giàng Seo Phử lúc đó là bí thư Tỉnh uỷ. Ông Bùi Quang Vinh lúc đó vừa lên chủ tịch tỉnh. Lào Cai dưới sự lãnh đạo của hai ông lúc đó đã làm một việc động trời. Đó là một tỉnh nghèo miền núi dám lần đầu tiên bỏ tiền mời chuyên gia quy hoạch Pháp về đây thiết kế lại nơi này. Tham vọng lúc đó của tỉnh là phải biến Sapa thành một trung tâm du lịch sang trọng và độc đáo nhất cả nước. Với mây, với núi, với sự phong phú về văn hoá, con người, khí hậu… Sapa quả thật có quá nhiều tiềm năng để trở thành một trung tâm du lịch độc đáo nhất khu vực Đông Nam Á này.

Đội ngũ chuyên gia Pháp mà tỉnh Lào Cai mời sang quy hoạch lại Sapa chính là các giáo sư, kiến trúc sư và kỹ sư của Đại học Bordeaux 3, Đại học kiến trúc phong cảnh Bordeaux, công ty đô thị Bordeaux Metropole Aquitaine, Đại học kiến trúc Paris Malaquais, Công ty tư vấn hạ tầng ECCTA… Nói chung đây toàn là các chuyên gia tầm cỡ thế giới, đến từ một quốc gia có văn minh kiến trúc lâu đời, không có gì phải bàn cãi về trình độ của họ.

Theo thoả thuận, phía Pháp tài trợ toàn bộ tiền lương và chi phí máy bay cho các chuyên gia Pháp sang Việt Nam. Phía Lào Cai chịu trách nhiệm phương tiện làm việc, phương tiện di chuyển, nơi ăn nghỉ, nơi làm việc của các chuyên gia. Vì là một chuyên viên nằm vùng tại Sapa, làm việc trực tiếp hàng ngày với các chuyên gia và cả lãnh đạo cấp tỉnh, nên tôi biết đến cuối giai đoạn hợp tác này thì chi phí phía Việt Nam bỏ ra chừng 9-10 tỷ đồng. Còn phía Pháp cũng mất chừng khoảng 1 triệu Euro cho dự án hợp tác này.

Trước khi về Sapa tôi đã từng có thời gian khoảng 2 năm làm việc ở Viện quy hoạch bộ Xây dựng. Nhưng đến khi tiếp xúc và làm việc với các chuyên gia quy hoạch Pháp thì quả thực tôi đã được may mắn tiếp cận với một tư duy mới, một phong cách mới ở đẳng cấp thế giới trong nghề quy hoạch kiến trúc. Người Pháp làm quy hoạch cực kỳ tỉ mỉ. Trong khoảng 1 năm đầu tiên họ dành thời gian đi từng ngôi nhà, từng ngóc ngách, chụp ảnh, tiếp xúc và hỏi chuyện từng người dân bình thường. Hàng trăm cân tài liệu, bản đồ, số liệu địa chất thuỷ văn được họ đến từng sở ban ngành ở Lào Cai và cả ở Hà Nội để thu thập. Không chỉ vậy, phía Pháp còn tra tầm tất cả tài liệu, phim ảnh còn lưu ở thư viện bên Pháp có liên quan đến Sapa từ gần một thế kỷ trước. Với quy mô dân số thị trấn Sapa vào thời điểm những năm 2000 khoảng 7 ngàn dân, tôi cảm thấy kinh ngạc trước sự tỉ mỉ trong cách làm quy hoạch của người Pháp.

Thế rồi sau 3 năm làm việc cần mẫn, đến tháng 9 năm 2004 thì tỉnh Lào Cai chính thức công bố quy hoạch Sapa. Bộ tài liệu quy hoạch Sapa bao gồm 4 tập, trong đó qui định tỉ mỉ từng hàng cây, góc phố, từng cái cống, cái bờ rào, từng nóc nhà phải bảo tồn hoặc phá bỏ ra sao. Đây là một tài liệu quy hoạch đồ sộ nhất, chi tiết nhất, văn minh nhất của Việt Nam thời điểm bấy giờ. Và đó không chỉ là thành quả của các chuyên gia Pháp, mà còn là công sức của từ lãnh đạo tỉnh đến một thằng nhân viên quèn như tôi. Với tầm nhìn chiến lược, với sự tỉ mỉ trong từng yếu tố kiến trúc quy hoạch, nếu Quy hoạch Sapa năm 2004 được thực hiện đúng thì bây giờ Việt Nam đã có một khu du lịch đẳng cấp tầm cỡ thế giới, và có sự độc đáo không nơi nào có được trên hành tinh này.

Hỡi ôi! Đấy chỉ là một ước mơ dang dở. Ai đến Sapa gần đây đều phải than trời vì tình trạng xây dựng tràn lan, vô tổ chức, phá hết cảnh quan thiên nhiên mà ông trời đã ban tặng cho nơi này. Và không chỉ thiên nhiên bị tàn phá, văn hoá và đời sống sinh hoạt của bà con dân tộc ở Sapa đã bị mai một gần hết, khi mà hàng chục ngàn người ở dưới xuôi lên đây làm ăn sinh sống. Mạnh ai nấy xây. Nhà to nhà nhỏ. Cần cẩu thép lừng lững khắp Sapa. Cả nơi này biến thành đại công trường. Khách du lịch lố nhố hàng đoàn chen chân với công nhân xây dựng trong khói bụi. Rồi cáp treo Fanxipang vươn lên tận đỉnh, với Phật ngồi ngạo nghễ trên đó trông không khác gì cái chùa Tầu, phá vỡ sự uy nghi thần bí của dải Hoàng Liên Sơn hùng vĩ.

Có quá nhiều thứ đã và đang tàn phá Sapa mà tôi không thể đề cập hết được trong bài viết này. Chỉ có điều tôi có thể dám khẳng định, đó không phải là những thứ mà Quy hoạch Sapa 2004 và những người năm xưa làm ra nó mong muốn.

Tiếng kèn môi rỉ rả trong sương trắng. Vạt váy Mông thấp thoáng e lệ bên con dốc. Phố nhỏ hiện lên từ trong mây. Rặng mận rừng trắng đỉnh Hàm Rồng. Dải Hoàng Liên trầm mặc quấn đầy mây trắng ngó xuống xóm núi nhỏ. Tất cả giờ chỉ còn là kỷ niệm của một giấc mơ đã chết trong tôi. Tôi khóc cho Sapa, khóc cho đất nước này, vì đã không giữ được những gì tinh tuý nhất mà tạo hoá ban tặng. 

Yên nghỉ nhé giấc mơ của tôi./.

Nguyen Lan Thang

Sunset at Lago Antorno – Dolomites, Italy.

Hợp Bích Hồ

Hồ Antorno nằm ở độ cao 1866 m so với mực nước biển, nép mình giữa những khu rừng xanh hàng thế kỷ và những ngọn núi cao ngất. Hồ, là một phần của khu vực rừng tự nhiên quan trọng được bảo vệ, hồ nằm ngay trên đường đi nên rất dễ tìm, từ đây có thể đến ngọn núi Drei Zinnen rất gần.

Sunset at Lago Antorno – Dolomites, Italy.
Ảnh : Hợp Bích Hồ

Chưa đi chưa biết Boston

Lê Tạo

Tôi đã đến Boston rất nhiều lần, đến nhiều nơi, xem nhiều thứ, chạm tay vào rất nhiều ngõ ngách có thể, nhưng rốt cục vẫn biết rất ít về Boston.

Tuần rồi, vợ chồng tôi và con gái út có dịp đi Boston. Lần này, tôi đi lại một vài nơi đã đi, và cũng đến vài nơi chưa từng đến. Những nơi đã đi qua, có đến thăm lại, cảm giác vẫn khác lần trước. Bước đi trên những cung đường ở Boston, có thể bạn đã đi trên cùng con đường mà Tổng Thống John Adams và John Quincy Adams đã đi làm hằng ngày. Cũng có thể bạn đã đạp trên vùng đất mà những người di dân (Pilgrim) đầu tiên đến Mỹ đã bước tới, đã đấu tranh với cái khí hậu khắc nghiệt, để rồi hơn một phần ba trong số họ đã nằm xuống trong năm đầu tiên trên lục địa mới.

Có thể bạn đã đến Boston nhiều lần, nhưng nếu đến United First Parish Church (Church of the Presidents), tôi cam chắc bạn sẽ có một cảm giác khác về Boston. Bước vào ngôi nhà thờ không lớn, nhưng cổ kính này, bạn có thể sẽ được ngồi xuống ngay tại vị trí mà Tổng Thống John Adams đã đi lễ mỗi ngày Chúa Nhật, nếu bạn muốn. Nơi nhà thờ này, cũng là chỗ an nghĩ cuối cùng của hai vị tổng thống John Adams and John Quincy Adams. Lần này chúng tôi đến, và thật tiếc, nhà thờ đóng cửa. Vợ và con tôi không được dịp xem mộ phần rất khiêm tốn của hai nhân vật lịch sử này.

 

Phía trước nhà thờ nổi tiếng này, bạn sẽ thấy một nghĩa trang từ thời đầu của 1800’s. Hai đệ nhất phu nhân Abigail Adams and Louisa Catherine Adams cũng yên nghĩ ở đây. Rảo bước trong khuôn viên nghĩa trang này, bạn sẽ nhận ra một những cái tên gắn liền với lịch sử Hoa kỳ. 

Trong dịp ghé Boston lần này, chúng tôi đi theo dấu chân của những người di dân đầu tiên tới Mỹ. Những người “Pilgrim” đã vượt đại dương đến Hoa Kỳ bằng con thuyền MayFlower. Ho là những người “Vượt biển” đầu tiên tới định cư tại đây. Mục đích của chúng tôi lần này là được bước chân lên con thuyền này (được đóng lại với kích thước và hình dáng y như con tầu nguyên thủy), được trưng bày tại “Pilgrim Memorial State Park”, vùng Plymouth.  Tuy nhiên con thuyền này đang trong giai đoạn bảo dưỡng, có lẽ đến cuối tháng tư này, khách du lịch mới được tham quan. Chúng tôi hơi tiếc. Dẫu gì đi nữa, tìm về lịch sử thì Boston có quá nhiều tài liệu. Chúng tôi đến đài tưởng niệm, chứng kiến tảng đá “Plymouth Rock”, được khắc họa con số “1620”, đó cũng là năm những người Pilgrim đến Mỹ. Không ai có thể kiểm chứng được đây là tảng đá đầu tiên mà nhóm người này đặc chân lên đầu tiên, tuy nhiên, tảng đá lịch sử này được ghi nhận là bằng chứng tại địa điếm này vào năm 1741, tức là 121 năm sau sự cập bến của con thuyền Mayflower.

“Plymouth Rock” trở thành một biểu tượng của tự do. Nó đã được du khách viếng thăm gần một triệu người mỗi năm.

Cũng trong việc đi tìm dấu chân tự do ấy, chúng tôi chạy đến Provincetown của Cape Cod. Provincetown là mũi cuối cùng của Cape Cod ở cực bắc, nếu nhìn theo bản đồ của Massachusetts. Đây là một thị trấn nhỏ, mà mùa cao điểm nhất là mùa hè, cũng chỉ có khoảng 60 ngàn người ở đây. Đi dọc những con phố, bạn sẽ thấy những tấm bảng báo: chúng tôi sẽ mở của trở lại sau mùa xuân!

Cái tên Cape Cod cũng là một cái tên lịch sử, do một nhà thám hiểm người Anh tìm đến vào ngày 15 tháng 5 năm 1602, và đặt tên cho mũi cực Bắc này. Còn tại sao là Cape Cod, hãy để những người yêu lịch sử như bạn tìm hiểu.

Vào ngày 9 tháng 11 năm 1620, Những người Pilgrim (tạm gọi là những người hành hương?) trên tàu Mayflower đã nhìn thấy Cape Cod khi đang trên đường đến thuộc địa Virginia. Sau hai ngày thất bại trong nỗ lực chèo thuyền về phía nam, vì gió biển mùa đông mạnh mẽ, họ quay trở lại bến cảng an toàn, ngày nay được gọi là cảng Provincetown, và thả neo. Họ định cư và xây dựng một cộng đồng tự quản, và lên bờ ở West End. Tại đây, Những người hành hương đã dành 5 tuần để khám phá mũi Cape Cod, trước khi họ đi thuyền đến Plymouth. Họ cũng đã soạn thảo và ký Hiệp định Mayflower, thiết lập chế độ pháp quyền cho vùng đất mới.

Nếu đến thăm viếng nới đây, bạn hãy cố gắng dành chút thời gian leo lên trên đài tưởng niệm cho người Pilgrim ở vùng này. Đài tưởng niệm này được thành lập vào năm 1892 với tên gọi là Hiệp hội tưởng niệm người hành hương Cape Cod — tổ chức phi lợi nhuận lâu đời nhất của Cape Cod. Mục đích là để kỷ niệm cuộc đổ bộ đầu tiên của Mayflower Pilgrims đến Thế giới Mới ở Provincetown, vào tháng 11 năm 1620.

Tổng thống Theodore Roosevelt đặt viên đá đầu tiên vào năm 1907. Năm 1910, Tổng thống William Howard Taft đã khánh thành tòa tháp cao 252 foot này. Vào năm 1910, tòa nhà đầu tiên của Cape được xây dựng để làm bảo tàng được mở ở chân tượng đài, nhằm giáo dục công chúng về vai trò của Provincetown trong lịch sử Pilgrim và lịch sử Hoa Kỳ.

Bước lên từng bậc thang, đến điểm chót vót của đài tưởng niệm, tôi có một cảm giác kỳ lạ. Nếu sợ độ cao, đừng nhìn theo hình vuông dạng xoắn ốc từ trên xuống. Bước ra bên ngoài lối đi xung quanh đỉnh tháp, gió phần phật bên tai. Nhìn xuống dưới, thấy thế gian yên lành. Mọi vật cứ từ từ chuyển động. Rồi từng bước đi xuống, lúc này, bạn sẽ chú ý những con số gắn liền với những cái tên, có cái bạn biết, có cái xa lạ. Tuy nhiên, đó là dấu tích của một thời mở đầu của nước Mỹ.

Từ đài tưởng niệm này, bạn có thể đi thang máy xuống phố. Những con đường phổ nhỏ nhắn, xinh đẹp. Nếu may mắn, bạn sẽ bắt gặp dăm người nghệ sĩ đường phố, ôm đàn hát những bản tình ca, với một cung cách rất say đắm, của những tâm hồn nghệ sĩ. Và thật bất ngờ, dưới phố, có một đài tưởng niệm các chiến sĩ trận vong, những người lớn lên ở thị trấn này đã tham gia và đã nằm xuống, trong đó có chiến tranh Việt Nam.

Chúng tôi có đi đến một số nơi khác, mà chiều dày lịch sử cũng không kém những nơi kể trên. Nhưng sẽ kể sau, khi có dịp.

Có thể nói rằng: mỗi lần đến Boston, biết thêm dăm điều về lịch sử. Và cho dù đã đến nhiều lần, rốt cục tôi vẫn biết rất ít về Boston.

Lê Tạo

4/2022

P.S: rất nhiều bộ phim đã lấy cảnh từ vùng Cape Cod

Khánh Ly: tiếng hát tâm thức Việt Nam

Bùi Văn Phú

Hôm nay kỷ niêm 21 năm ngày nhạc sĩ Trịnh Công Sơn qua đời. Mình đăng lại bài này để nhớ người nhạc sĩ đã, đang và sẽ còn gây nhiều tranh cãi về ca từ, về con người của ông.

[Bài đã đăng trên bbc.com/vietnamese 29.03.2013]

Khánh Ly: tiếng hát tâm thức Việt Nam

Bùi Văn Phú

Trong một lần về Việt Nam cách đây 13 năm, Khánh Ly có bước lên sân khấu ở một phòng trà tại Sài Gòn hát vài ca khúc quen thuộc của Trịnh Công Sơn, theo lời yêu cầu của khách có mặt hôm đó. Không qua mắt được công an nên chị đã được mời lên làm việc, hỏi chuyện có được giấy phép chưa mà hát.

Tháng Chín năm ngoái, báo chí trong nước đồng loạt đưa tin Khánh Ly đã có giấy phép để chính thức về Việt Nam biểu diễn. Nhưng chị không về.

Sự kiện Khánh Ly có sẽ về nước hát hay không lại không thuần túy mang tính văn nghệ như nhiều ca sĩ khác.

Khánh Ly về không phải là để được hát trên quê hương mà để “hát cho quê hương” đúng với tiếng hát đã gắn liền với nhạc Trịnh, không bằng tình ca, mà qua những “Ca khúc Da vàng” trong các băng nhạc “Hát cho quê hương Việt Nam” đã từng làm rung động lòng người và được thế giới biết đến.

Khánh Ly và nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trở thành đôi nghệ sĩ không thể tách rời nhau từ khi hai người bước vào sân cỏ quán Văn, tụ điểm của sinh hoạt văn nghệ sinh viên vào cuối thập niên 1960. Ở đó những ca khúc da vàng về thân phận quê hương, nỗi đau chiến tranh và mong ước hòa bình được cất tiếng hát lên lần đầu.

Neil L. Jamieson trong tác phẩm “Understanding Vietnam” [University of California Press, 1993] khi nhắc đến nhạc Trịnh đã trích dẫn ba bài hát: “Ta phải thấy mặt trời”, “Chính chúng ta phải nói” và “Những ai còn là Việt Nam” với ca từ phản ánh cuộc nội chiến giữa hai miền:

Hãy mở mắt ra nhìn quanh đây

Những ai còn là Việt Nam triệu người đã chết

Hãy mở mắt ra lật xác quân thù

Mặt người Việt Nam trên đó

Đi trên những xác người

Bao năm thắng những ai…

“Đất khổ” là một phim của đạo diễn Hà Thúc Cần, thực hiện trong những năm đầu thập niên 1970 và không được phép phổ biến tại miền Nam thời bấy giờ. Tác phẩm điện ảnh này phản ánh con người Trịnh Công Sơn, vì nhạc sĩ đóng vai chính, trong bối cảnh của gia đình, trên quê hương chiến tranh và với người thân mang những lý tưởng khác nhau.

Lồng trong phim cũng là những ca khúc da vàng, với “Em đi trong chiều” mang hình ảnh buồn của một thiếu nữ nhận tin chồng chết ngoài chiến trường:

Em đi qua cầu có gió bay theo

Thổi bùng khăn tang trắng giữa khung chiều

Em đi qua cầu có lá xôn xao

Một giòng sông sâu chở hồn thương đau…

Giữa cảnh tang tóc, đổ nát do chiến tranh kéo dài, qua phim này nhạc Trịnh đã như một lời nói thay cho thế hệ với những ước mơ hoà bình như ca từ của “Tôi sẽ đi thăm”, hay mong ước của tuổi trẻ trong việc xây dựng quê hương thể hiện qua ca khúc “Dựng lại người dựng lại nhà” do chính nhạc sĩ đàn và cùng đồng ca với các bạn thanh niên, sinh viên:

Ta cùng lên đường đi xây lại tình thương

Lòng mẹ ta xưa kia bao la như Thái Bình Dương

Những đứa con lạc dòng mừng hôm nay xóa hết căm hờn

Mượn phù sa đắp trên điêu tàn lòng nhân ái lên nụ hồng.

Năm 2002, đài truyền hình PBS ở Mỹ chiếu bộ phim “Vietnam Passage” về cuộc sống của sáu người Việt sau khi chiến tranh chấm dứt vào tháng 4-1975, trong đó có Trịnh.

Người dẫn chương trình, phóng viên David Lamb của báo Los Angeles Times, kể lại chuyện nhạc Trịnh bị cả hai miền Nam, Bắc cấm; chuyện sau năm 1975 nhạc sĩ phải đi nông trường lao động. Trong phim có cảnh Trịnh Công Sơn ôm ghi-ta hát: “Đứa con của mẹ da vàng, ru con ru đạn nhuộm hồng vết thương…” của giai đoạn trước 1975 và sau đó là cảnh trong ngôi nhà của ông với Hồng Nhung hát “Huyền thoại Mẹ” và kể rằng nhạc sĩ khi đó chỉ còn viết những ca khúc ca ngợi tình yêu.

“Ca khúc da vàng” của Trịnh Công Sơn đã là đề tài nghiên cứu ở Nhật, Pháp, Hoa Kỳ.

Giáo sư John C. Schafer của Đại học California State University, Humboldt trong tác phẩm “Trịnh Công Sơn, Bob Dylan như trăng và nguyệt?” [Cao Thị Như Quỳnh dịch, Nxb Trẻ 2012] đã soi rọi và đối chiếu quan niệm phản chiến giữa hai nhạc sĩ sống cùng thời đại, bị ảnh hưởng bởi cùng một cuộc chiến. Tác giả phân tích ca từ trong “Ngày dài trên quê hương”, “Huế Sài Gòn Hà Nội”, “Một buổi sáng mùa xuân”, “Dựng lại người dựng lại nhà”, “Gia tài của Mẹ”.

Khi nhắc đến ca khúc da vàng của Trịnh thì không thể tách rời Khánh Ly vì tiếng hát của chị đã chuyên chở những nỗi đau và ước mơ đến với người nghe.

Vì thế, Khánh Ly về Việt Nam mà chị không thể hát những lời ca đã một thời gắn liền chị với Trịnh Công Sơn, với thân phận quê hương, thì đó không còn là Khánh Ly của Việt Nam đã được người Việt và thế giới biết đến.

Nhạc Trịnh có hai bản đồng ca một thời vang vang khắp miền Nam, từ sân trường đại học, quán cà phê cho đến thôn làng xa xôi.

Ngày chiến tranh chấm dứt, Trịnh Công Sơn để lại dấu ấn qua ca khúc “Nối vòng tay lớn” trên đài phát thanh Sài Gòn trưa ngày 30-4-1975 bằng chính giọng hát của mình:

Rừng núi giang tay nối lại biển xa

Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà

Mặt đất bao la anh em ta về

Gặp nhau mừng như bão cát

Quay cuồng trời rộng

Bàn tay ta nắm nối liền một vòng Việt Nam.

Ca từ đó vẫn vang vang trong lòng người Việt. Nhưng nhiều ca khúc da vàng khác nay vẫn còn bị cấm, trong đó có “Gia tài của Mẹ”, cũng là bài đồng dao đã được rất nhiều người miền Nam biết đến.

Một ngàn năm nô lệ giặc tầu

Một trăm năm đô hộ giặc tây

Hai mươi năm nội chiến từng ngày

Gia tài của mẹ để lại cho con

Gia tài của mẹ là nước Việt buồn

Dạy cho con tiếng nói thật thà

Mẹ mong con chớ quên mầu da

Con chớ quên mầu da nước Việt xưa

Mẹ mong con mau bước về nhà

Mẹ mong con lũ con đường xa

Ôi lũ con cùng cha quên hận thù.

Ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh trong lúc đang cùng gia đình chuẩn bị cho đêm nhạc tưởng nhớ năm thứ 12 ngày mất Trịnh Công Sơn, dự kiến diễn ra chiều Chủ nhật 31-3 tại Hồ Bán nguyệt trong khu Phú Mỹ Hưng, đã chia sẻ thông tin cho người viết và bạn bè về một số ca khúc da vàng mới được nhà nước cho phép phổ biến cùng với cảm nhận riêng của chị về dòng nhạc của anh mình: “Bây giờ ở Việt Nam, nhiều người nhìn lại những ‘Ca khúc Da vàng’ và đặt trong bối cảnh tranh chấp với Trung Quốc ở Biển Đông cùng những việc khác… Nhiều người nghĩ anh Sơn là ‘một nhà tiên tri’ hoặc nói theo Giáo sư Tương Lai đó là những ‘dự cảm thiên tài’.”

Sau bao năm mơ ước, đất nước đã hoà bình. Nhưng tại sao nhà nước nay vẫn cấm nhiều bài trong số khoảng 100 ca khúc da vàng của Trịnh Công Sơn?

Giáo sư Cao Huy Thuần trong đêm nhạc tưởng nhớ 10 năm Trịnh Công Sơn ở Paris có nhận xét:

“Hòa bình là tình trạng ai ai cũng có thể nói lên được điều mình mơ ước… Ấy vậy mà hát Trịnh Công Sơn chỗ này chống, chỗ kia đối, chỗ nọ xì xào, da vàng da đỏ. Hòa bình chỗ nào? Chiến tranh chấm dứt rồi. Điều đó không có nghĩa rằng hòa bình không còn là giấc mơ.”

Trong hiện tình quê nhà, Khánh Ly trở về mà không hát ca khúc da vàng, không cất tiếng với “Gia tài của mẹ” thì đó không phải là Khánh Ly được người Việt và thế giới biết đến. Vì chị đã là tiếng hát tâm thức của Việt Nam.

Khi đó nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở cõi vô thường không biết có mỉm cười được không?

© 2013 Buivanphu

ĐÔI BỜ & CUỘC ĐỜI THẬT CỦA TÁC GIẢ LỜI BÀI HÁT.

Tamshell Ha

Grigory Pozhenyan sinh ra ở Kharkov, nhưng lại lớn lên ở Odessa Ucraina . Bố ông, người gốc Armenia, mẹ ông gốc Do Thái. Vậy thì quê hương ông ở đâu? Ông vẫn tự nhủ là mình có nhiều quê hương để mà yêu dấu. Người Do Thái thì lưu lạc khắp toàn cầu mà vẫn không có tổ quốc.Chiến tranh 2 xảy ra, vừa tốt nghiệp phổ thông năm 1939 là chàng trai tham gia quân đội, phục vụ trong hạm đội Hắc Hải. Hết chiến tranh, Grigory thi vào trường đại học viết văn Gorky Moscova Nga.Sau khi tốt nghiệp trường viết văn Gorky, Grigory gặp Tanhia, một cô gái Nga chính hiệu. Da trắng, tóc vàng, đôi mắt xanh, một ngoại hình hoàn chỉnh. Tanhia đang là nghiên cứu sinh ở trường đại học và đang làm đề tài tại một viện nghiên cứu. Rất nhiều chàng trai theo đuổi, vây vo quanh nàng.Hai người thường đi chơi với nhau vào các buổi chiều. Cái khó không ở các anh chàng mà Tổ chức của viện đã nói với nàng rằng viện dự định khi nàng bảo vệ xong là nhận nàng về làm việc chính thức tại viện, một vị trí tuyệt vời. Nhưng nếu nàng lấy Grigori,con một ông phản cách mạng, một bà gốc Do thái, thì nàng sẽ không được nhận nữa. Grigory tin rằng họ sẽ vượt qua, nhưng Tanhia thì vẫn còn hoang mang lắm. Có hôm Tanhia nói: “Anh và em ở hai bờ của dòng sông này. Không có cầu, không có phà, làm sao mà gặp nhau đây?” Nhưng chàng nói đôi bờ đâu cách xa và chúng ta sẽ đến được với nhau thôi.Tanhia vẫn rất buồn. Những ngày này Grigory hiểu rõ và cảm thông với nàng. Chàng đã làm những vần thơ mà sau này bao người xúc động. Bài thơ này sau đó được Andrey Yakovlevich Eshpai phổ nhạc và làm bài hát trong bộ phim “Khát” do chính Grigory viết kịch bản dựa trên cuộc chiến đấu chiếm nhà máy nước mà anh đã chỉ huy:

——-

Đêm dài qua, dưới mưa rơi, em mong chờ anh tới 

Cây cỏ hoa như nói nên lời em hạnh phúc nhất đời 

Lòng em riêng biết có yêu anh, giữa tình đôi lứa ta, 

Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa.

****

Trên dòng sông, sóng đôi nhau, thiên nga đùa trên sóng 

Bên bờ sông vai sánh vai nhau, đôi đôi bước theo dòng 

Mình em riêng đứng ngóng trông anh, với tình yêu thiết tha 

Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa.

****

Đêm dần qua ánh ban mai đang lan tràn dâng tới. 

Trên bờ sông soi bóng em dài, xa xa phía chân trời. 

Mình em riêng thắm thiết yêu anh, với niềm tin thiết tha. 

Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa.

****

Mình em riêng thắm thiết yêu anh, với niềm tin thiết tha. 

Một dòng sông sóng nước long lanh, đôi bờ đâu cách xa….

______

Bài hát rất hay và rất buồn, tất nhiên “Đôi bờ” buồn, buồn lắm …

: Bài hát “Два берега “ do ca sĩ Ма́йя Влади́мировна Кристали́нская (1932 – 1985) trình bày trong phim; https://www.youtube.com/watch?v=Ui092EcWHvM

———

Bài hát “Đôi bờ” do Thảo Vân trình bày tiếng Nga và tiếng Việt (lời của Vương Thịnh) : https://www.youtube.com/watch?v=CTSyaw2KBro

——-

Bài hát Đôi bờ do Ngân Nga cover song ngữ :

https://youtu.be/RMfvYPHsyWM

St

(fb Hoàng Ngọc)