“Kẻ trộm siêu thị” : Điều làm nên một gia đình

RFI Tiếng Việt

Xin được mượn một câu thoại trong phim để mở đầu bài viết này: “Thường thì không ai được chọn bố mẹ. Nhưng khi được chọn thì sẽ khăng khít hơn, phải không?” Đó là lời nói của nữ chính trong bộ phim “Kẻ trộm siêu thị” (Shoplifters) của đạo diễn người Nhật Kore-eda Hirokazu. Vị đạo diễn này được mệnh danh là “thỏi nam châm hút giải thưởng” bởi phần lớn các tác phẩm của ông đều làm mưa làm gió tại các liên hoan phim ở Nhật cũng như trên thế giới.

“Kẻ trộm siêu thị” không phải là một ngoại lệ khi một mình ẵm hàng chục giải từ Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản, cho tới giải César cho “phim nước ngoài hay nhất” và vị trí cao quý nhất tại Liên hoan phim Cannes – giải Cành Cọ Vàng cho hạng mục “Phim hay nhất” năm 2018.

Trong hầu hết các tác phẩm của mình, Kore-eda Hirokazu đều đề cập tới đề tài gia đình với câu hỏi lớn “Điều gì làm nên một gia đình?”. Ở đó, mỗi bộ phim là một góc nhìn – một câu trả lời khác nhau, mang những ý nghĩa khác nhau, và dù có khác đến mức nào thì tất cả cùng phản ánh chính xác sự tồn tại thực sự của con người. Cộng đồng nhỏ bé gồm 6 thành viên trong “Kẻ trộm siêu thị” là lớp người nghèo khó, gần như sống cô lập với xã hội. Họ có những cuộc đời bị xô đẩy vào ngõ cụt, bất hạnh dồn dập… nhưng có vẻ trong cuộc sống ngày nay, những điều này đã quá nhiều đến nỗi người ta dường như trở nên vô cảm với chúng. 

Là một bộ phim thuộc thể loại chính kịch gia đình, “Kẻ trộm siêu thị”  toát lên trong nó những âm hưởng thật bình dị nhưng đầy cay đắng, khiến cho nhiều người xem đã phải thốt lên rằng “Tôi muốn khóc mà lại không thể, muốn gào thét nhưng lại không biết bắt đầu từ đâu”.

Truyện phim kể về một gia đình sống bằng nhiều nghề, nhưng nghề chính là ăn cắp đồ dùng trong các cửa hàng tiện lợi bởi cuộc sống của họ quá nghèo khổ và khó khăn. Đó là Osamu Shibata và vợ là Nobuyo, bà Ngoại và Aki – cháu gái của bà, cậu bé Shota – con nuôi của vợ chồng Osamu và cô gái nhỏ Yuri – đứa bé được nhặt từ ngoài đường về.

*****

Điều gì làm nên một gia đình?

Liệu đó có phải là cuộc sống với vật chất dư thừa như gia đình Aki, cháu của bà Ngoại – mà thật ra bà là vợ cả của ông nội Aki, họ không hề có cùng chung huyết thống? Nếu tiền bạc làm nên Gia đình thì sao Aki bỏ đi, tới sống với bà trong căn nhà lụp xụp chật hẹp tồi tàn thiếu thốn cùng những con người xa lạ? Ba mẹ cô có đủ gắn kết với cô không khi mà cô vẫn sống ở cùng thành phố còn họ lại nghĩ cô đang du học ở Úc châu?

Liệu đó có phải là những người cùng chung máu mủ dưới một mái nhà tươm tất như gia đình của cô bé Yuri mới 5 tuổi với đầy những vết sẹo chi chít trên cơ thể và những lời chửi bới thậm tệ từ chính cha mẹ ruột của mình?

Hay, cái làm nên gia đình chính là một nhóm người nghèo khổ gần như tận đáy xã hội nương tựa và ràng buộc với nhau bởi những lý do đầy uẩn khúc? Là một Osamu làm việc ngắn hạn ở công trường xây dựng. Là Nobuyo làm công nhân trong một xưởng giặt là. Là Aki trẻ người non dạ bị hấp dẫn bởi nghề múa khiêu dâm. Là bà Ngoại già móm mém ưa chơi game, chuyên gia vòi tiền từ con trai của vợ hai của chồng. Là cậu bé Shota tuổi teen vô tư tin rằng “chỉ những đứa trẻ không thể tự học thì mới phải đến trường” và ăn cắp trong siêu thị là vô tội vì “đồ trong siêu thị thì chẳng phải là đồ của ai cả”.

Chỉ trong gần 9 phút đầu tiên, đạo diễn, đồng thời là tác giả kịch bản Kore-eda đã phơi bày tất cả không giấu diếm hoàn cảnh của cái gia đình kì lạ này. Phim mở ra là trò ăn cắp trong siêu thị của hai chú cháu Osamu và Shota. Trên đường trở về, họ bắt gặp cô bé Yuri ngồi ngoài hiên nhà giữa lúc trời bắt đầu chuyển lạnh. Cả hai nghĩ rằng không có người lớn ở nhà nên đã đưa Yuri về. Nobuyo nhất định không đồng ý giữ con bé lại vì lo sợ người ta sẽ nghi họ bắt cóc nó.

Sau khi cho con bé ăn no, hai vợ chồng người cõng người bế Yuri mang trả lại cho cha mẹ bé. Nhưng, họ đã dừng khựng ngay bên ngoài cánh cửa. Cha mẹ Yuri đang đánh nhau, người mẹ hét toáng lên rằng chính cô ta cũng không muốn sinh ra con bé. Không chỉ những lời nói ấy, mà cả những vết sẹo trên thân thể Yuri khiến Nobuyo đau lòng. Là một người vợ mang nỗi đau không thể có con, Nobuyo quyết định giữ Yuri lại, đổi tên cô bé là Lai, coi nó như một thành viên mới.

Thế là, gia đình họ là nơi mà tất cả mọi người chẳng ai có huyết thống với ai, nơi mà bữa ăn hàng ngày được coi như một chiến lợi phẩm, nơi mà họ cùng ăn, cùng ngủ, cùng sinh hoạt trong khoảng vài mét vuông nhưng lại có vẻ không hề thiếu thốn sự sẻ chia.

*****

Yêu thương hiện hữu

Tất cả được xây dựng một cách chân thực và rất Đời, đúng như phong cách của tác giả, là để phản ánh chính xác sự tồn tại của con người. Những người lớn trong gia đình chắp vá ấy có thể là người tốt nhưng không Đẹp như những thiên thần có cánh. Họ vẫn có những phần ti tiện bị tạo ra bởi cái Nghèo. Bao nhiêu chi tiết là bấy nhiêu xúc cảm khán giả cảm nhận, vừa giận, vừa thương, vừa cảm thông thấu hiểu, lại vừa ước giá mà có ai đó giúp đỡ họ hoặc họ sẽ làm khác đi.

Ấy là Aki thích thú với nghề múa khiêu dâm dù cô không hề thiếu thốn về mặt tiền bạc; cô còn tự giữ tiền cho mình, thi thoảng hai bà cháu đi ăn riêng những món ngon. Là lúc bà Ngoại mất vì tuổi già, vợ chồng Osamu đau buồn vì sự ra đi của bà nhưng vẫn hí hửng khi tìm được chỗ tiền bà cất giấu riêng. Là lúc Shota phải nằm viện, có nguy cơ bị cảnh sát phát hiện, họ vẫn cùng nhau bỏ trốn và bỏ rơi cậu bé. Là Osamu quyết định thêm nghề đập cửa kính ô tô để ăn cắp đồ…

Họ rõ ràng là những kẻ vẫn đầy Tham – Sân – Si theo những lẽ riêng nhưng lại dành cho nhau sự yêu thương kì lạ mà ở trong những gia đình đầy đủ vật chất và chung dòng máu có lẽ ít khi hiện hữu. Thì ra, Shota là do hai vợ chồng Osamu nhặt được trước một tiệm chơi game, trong một chiếc xe ô tô mà chắc hẳn ai đó mải chơi đã quên mất cậu. Bao năm nuôi dưỡng thằng bé, cả hai chỉ mong cậu gọi một tiếng “Cha mẹ” nhưng Shota liên tục nói rằng chưa đến lúc.

Chính vì cái khát khao ấy, bằng cả tình yêu của một người Mẹ, Nobuyo đã dành trọn sự quan tâm cho Yuri. Cái ngày mà cả nhà giữ con bé lại, Aki cắt tóc cho Yuri còn Nobuyo thì mang bộ đồ cũ của con bé ra đốt. Xung quanh là cả gia đình, Nobuyo ôm Yuri vào lòng, thì thào vào tai con rằng “họ đánh con không phải vì con hư. Nếu họ yêu con thì đây là điều họ phải làm”. Rồi cô ôm con bé chặt hơn, hôn hít nó, khiến nó cũng ôm lấy cô, vuốt bàn tay bé nhỏ lên má cô, lau đi những giọt nước mắt không rõ là đau buồn hay hạnh phúc.

Càng về cuối phim, câu chuyện càng lúc càng được đẩy lên cao trào bằng sự “tỉnh ngộ” của cậu bé Shota trước hàng loạt những hành động mà cậu coi là không chuẩn mực của vợ chồng Osamu. Và cú sốc lớn nhất với Shota, dấy lên sự ân hận trong lòng cậu là khi cậu thấy một cửa hàng mà mình hay ăn cắp phải đóng cửa.

Chưa hết, giọt nước làm tràn ly chính là lúc cô bé Yuri đi theo anh vào một cửa hàng nhỏ và bắt đầu ăn cắp đồ. Shota muốn ngăn cản em. Rõ ràng mọi thứ đã đi quá sức chịu đựng của cậu bé và việc cậu cố tình để bị bắt chỉ như một việc hiển nhiên.

Tất cả vỡ òa, bao nhiêu bí mật của vợ chồng Osamu được tiết lộ, trong đó, có cả tội giết người. Thì ra trước đây, hai  người đã cùng nhau giết và chôn xác của chồng cũ của Nobuyo vì hắn hành hạ cô. Nobuyo nhận tất cả lỗi về mình để Osamu không phải ở tù. Shota được nhận vào một nhà tình thương, được đi học. Còn bé Yuri thì trở về với cha mẹ của mình.

Nghe thì có vẻ như kẻ ác đã phải đền tội. Nhưng… nếu ai vẫn ngồi xem tới đoạn này của phim, thì hãy nán lại thêm chút nữa… Chỉ một chút nữa thôi… Sau hai tiếng đồng hồ vừa trải qua… ta sẽ thấy Shota thú nhận với Osamu rằng cậu đã cố tình để bị bắt, rồi cậu ngồi trên xe bus trở về nhà tình thương… thì Osamu chạy theo, liên tục gọi “Con”… Và ngay giây phút ấy… Shota đã nghẹn ngào lẩm bẩm từ “Cha”  trong nước mắt.

Cũng chỉ một chút nữa thôi… chúng ta sẽ thấy cô bé Yuri sau khi được về với cha mẹ ruột thì lại lẩn thẩn chơi một mình ở hành lang bên ngoài căn nhà, không được ai chú ý, hát bài đồng dao mà cả gia đình không máu mủ kia đã từng hát với cô bé, chơi những viên bi mà anh Shota cho và chới với đứng lên ngó qua hàng rào… Một nhà tù vô hình… Một sự độc ác sẽ không bao giờ phải đền tội. Vậy ai? Ai là kẻ có lỗi trong tất cả những chuyện này?

“Kẻ trộm siêu thị” với thủ pháp chậm rãi, góc máy tĩnh, lối kể chuyện dung dị, nhẹ nhàng, đưa đẩy cảm xúc của người xem, từ rung động, bật cười dí dỏm tới chua xót, sâu cay… đơn giản chỉ để chúng ta tự đặt ra câu hỏi “Điều gì làm nên một gia đình?”. Chắc hẳn chúng ta đều đã có câu trả lời của riêng mình.

Mắm trong văn hóa dân gian (Ngô Văn Ban)

Góc nhìn An Nam

Nước mắm là một loại thức ăn, có lúc làm gia vị của người Việt, trên mâm cơm không thể không có chén nước mắm dùng chung với cơm trắng hay dùng làm tăng gia vị, thêm đậm đà cho món ăn ngon,

Ngô Văn Ban

nuoc mam hon

Bởi mê nước mắm Hòn, em bỏ mẹ theo anh.

Thành phẩm nước mắm có tác dụng đến thức ăn như để bảo quản thức ăn. Ngoài ra, việc sử dụng thành phẩm nước mắm tùy theo thức ăn mà người ta chế biến hợp với thức ăn, hợp với khẩu vị người dùng:

– Ăn cơm nóng, với chỉ một chén nước mắm ngon dầm ớt, nhất là ớt xiêm là có thể có một bữa cơm ngon lành, no bụng rồi.

– Ăn xoài chua, dùng mắm bỏ nhiều đường hạn chế chất chua ở trái xoài.

– Ăn thịt vịt, mực luộc, các loài ốc…, giã gừng nhuyễn trộn với nước mắm tỏi ớt.

– Ăn cá chiên, cá nấu trong canh, món xào, món rau luộc…chấm vào nước mắm, có thể nước mắm dầm ít ớt xiêm, hay nước mắm giã ớt, tỏi, chanh, đường hòa vào mắm.

– Ngoài đường cát làm cho mắm bớt mặn hay làm cho mắm ngọt đậm, người ta còn dùng nước dừa tươi, hay pha chút ít bột ngọt.

– Ngoài chanh và giấm làm cho nước mắm có vị chua, người ta còn dùng trái sấu dầm ra, dùng cà chua chín nghiền nhuyễn hay dùng thơm chín, me chín, me non… (Nước mắm chanh dành ăn bánh hỏi/ Qua thương nàng theo đợi mấy năm).

– Để tạo mùi, ngoài dùng tỏi giã nhuyễn (mùi tỏi), người ta còn dùng lá ngò giã nhuyễn với ớt xanh tạo nên nước mắm ngò, nước mắm có mùi ngò ăn rất thơm. Loại mắm này ăn với cá đồng nướng (cá rô, cá trê…) thì rất hợp.… Có người dùng vị cà cuống.

– Nước mắm còn được chế biến thành món kho quẹt. Món này làm từ nước mắm đem kho, để nhỏ lửa và canh chừng, thấy nước mắm sôi nổi bong bóng, có tiếng kêu bụp bụp, bắt đầu có mùi là nhắc ra liền, dùng đũa quấy đều, để có một chất sền sệt đặc, màu vàng quánh. Khi ăn, dùng đầu đũa “quẹt” vào cho dính một chút đưa vào chén cơm, có phải như thế mà món này thành tên món kho quẹt? Đây là món ăn mà nước mắm được dùng trực tiếp một mình như một thực phẩm chính. Ăn món này rất tốn cơm vào mùa mưa lạnh, lũ lụt. Kho quẹt được cho là một món ăn của nhà nghèo khi trong nhà không còn thức ăn, mùa màng thất bát… Nhưng ngày nay, món kho quẹt này được dùng phổ biến và đã được cải tiến, cho thêm vào tóp mỡ, thịt ba chỉ xắt nhỏ, tiêu, hành, tỏi, ớt, đường…, dùng để chấm rau luộc, rau sống, dưa leo… hay ăn với cơm nóng, xôi, cháo trắng…

Ngoài nước mắm dùng để chấm rau, quả luộc, đồ xào, ăn với các loại bánh chế biến bằng bột gạo, chế biến nước mắm thành món kho quẹt… như đã trình bày ở trên, nước mắm còn để nêm vào canh, thức ăn kho, thức ăn  xào, hay cho vài giọt trong các món tẩm ướp… Nước mắm còn làm dậy lên hương vị món ăn, gây kích thích dịch vị, làm món ăn thêm đậm đà, hấp dẫn.

 Người ta còn dùng muối để chế biến các loại thức ăn mang tên mắm với một số loài cá, mực (như mắm cá thu, mắm cá sặc, mắm cá rò, mắm cá phèn, mắm cá mòi, mắm nêm làm bằng cá cơm, mắm thái làm bằng con cá lóc, mắm mực…), với con nhum (cầu gai), con sò, con tôm, con tép, con còng, con cua, con ba khía, con ruốc, con rươi… (như mắm nhum, mắm sò, mắm tôm, mắm tép, mắm còng, mắm cua, mắm ba khía, mắm ruốc, mắm rươi…), với con cáy, một loại cua (mắm cáy)…, với trái cà (mắm cà), trái dưa (mắm dưa), đu đủ (mắm đu đủ)…

Ca dao có câu:

Con cá làm nên con mắm

Vợ chồng già thương lắm mình ơi.

Trong nước mắm chứa nhiều các thành phần axit amin, vitamin A, D, B12, cùng chất béo omega 3… đều là những chất dinh dưỡng cần thiết cho sức khỏe con người. 

Theo Đông y, nước mắm có vị mặn, ngọt, tính bình. Nước mắm bổ huyết, bổ can thận, thông huyết mạch, lợi niệu, nhuận tràng. Dùng cho trường hợp trúng lạnh, trúng gió, co cứng chân tay, chuột rút, cứng hàm, suy kiệt, táo bón, thiếu máu. Uống 1 – 2 ngụm nước mắm ngon bồi dưỡng tăng lực khi bơi lội, bơi lặn khai thác thủy hải sản hay dầm mình trong nước lạnh mùa đông. Dùng cho người bị cảm lạnh gây đau quặn bụng. Dùng rất tốt cho người bị tiêu chảy, đầy bụng, rối loạn tiêu hoá cần ăn kiêng. Tuy nhiên, nước mắm kiêng kỵ những người tăng huyết áp, người bị bệnh tiểu đường, người viêm thận phù nề…Những người này hạn chế dùng nước mắm, tránh nước mắm mặn.

Về vấn đề tín ngưỡng, dân gian ta có câu:

 Đổ đèn đổ điếu thì kiêng

 Đổ mắm đổ muối cũng nên đề phòng

Mắm, muối là thức ăn, cần giữ không đổ tháo làm hao phí tiền của. Dân gian còn cho rằng làm đổ mắm đổ muối là điềm báo chẳng lành.

Qua một số trình bày trên, ta thấy nước mắm được dùng phổ biến và gắn bó với đời sống hàng ngày của người Việt ta. Mắm gắn bó với bữa ăn, với gia đình. Bữa ăn nào cũng cần có loại nước chấm này.

Trong văn hóa ứng xử của người Việt ta, nước mắm được đưa vào lời ăn tiếng nói để đánh giá, như:

Mắm kho chấm với dưa bồng

Nồi cơm vét sạch, mẹ chồng khen ngon.

Trong xã hội có những người hay tính toán so đo, cũng được đưa hình ảnh nước mắm vào để mượn cớ phê phán:

– Xé mắm còn hòng mút tay.

– Bẻ que đo lọ nước mắm.

– Đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành .

Như ta đã biết, nước mắm đã thâm nhập vào từng bữa cơm gia đình người Việt qua nhiều thế hệ, gần gũi, thân thiết với người Việt và thứ nước này cũng đã đi vào nền văn học dân gian, nhiều nhất trong ca dao, tục ngữ từ xa xưa lưu truyền đến nay, mang nhiều ý nghĩa sâu sắc về tính cách, tình cảm, đối nhân xử thế của con người trong đời sống:

– Anh chê tôi ở rẫy ăn còng

            Anh về ở chợ ăn ròng mắm tôm.

– Anh than cha mẹ anh nghèo

   Đũa tre yếu ớt không dám quèo con mắm nhum.

– Ăn cơm với mắm, thì thấm về sau

Mắm muối là thức ăn mặn mòi, ăn vào càng lâu càng thấm, chẳng khác chi việc càng lâu thì càng rõ.

– Ăn mắm hãy ngắm về sau

Mắm là thức ăn rất mặn, ăn xong thường bị khát nước. Nếu “đời cha ăn mặn” thì tất yếu “đời con khát nước”, vì ăn mắm khát nước. Do đó có lời khuyên trên.

– Ăn mắm, lắm cơm

Chỉ cần một chén mắm nhỉ, dầm vài trái ớt xiêm vào là có thể làm hao cơm. Nếu không có nước mắm cốt đó, mắm loại hai thì thêm một chút đường, nặn một ít chanh vào thì cũng là món ăn được nhiều cơm.

– Ăn mắm mút dòi

Khi mắm để lâu, không bảo quản kỹ có thể có dòi. Dòi là ấu trùng của con ruồi. Khi rót mắm ra ăn, nếu trong nước mắm có dòi, chỉ việc lấy đũa hất mấy con dòi đó ra. Nhưng có người tằn tiện một cách quá đáng là gắp con dòi lên miệng mút cho hết nước mắm bám ở con dòi đó rồi mới bỏ. Nhưng có người bảo rằng không phải tằn tiện mà sống trong buổi loạn lạc, hay mất mùa, đói kém quá phải thế thôi, vì cái gì cũng hiếm, cái gì cũng quý, cho nên ăn mắm phải mút dòi là thế.

– Bánh đúc bẻ ba

  Mắm tôm quệt ngược cửa nhà tan hoang

Mê ăn bánh đúc chấm mắm tôm đến nỗi “sạt nghiệp”. Nói quá (ngoa ngữ) để đề cao món “mắm tôm”.

– Bẻ que đo vại nước mắm.

– Canh chua thua nước mắm

Xuất phát từ câu chuyện cười dân gian: Nhà nọ, mỗi khi chồng đi xa về, chị vợ lại nấu canh chua thật ngon cho chồng ăn. Canh chua vợ nấu ngon quá, người chồng ăn đến no bụng nên tối đó ngủ khì một giấc đến sáng. Một bữa vì việc gì đó, giận chồng, chị vợ dọn cơm cho chống ăn, chỉ có cơm và lên chén nước mắm. Anh chồng ăn không ngon nên chỉ ăn được ít cơm thôi. Đêm nằm ngủ vì đói bụng nên trằn trọc không ngủ được, thức sáng đêm với vợ. Từ đó người vợ rút ra kinh nghiệm. “Canh chua thua nước mắm” là thế!.

– Con cá cơm ngon hơn con cá bẹ

            Bởi mê nước mắm Hòn, em bỏ mẹ theo anh.

– Con cá làm nên con mắm

  Vợ chồng nghèo thương lắm mình ơi!

– Con ơi ở lại với bà

  Má đi làm mắm, tháng ba má về

  Má về có mắm con ăn

  Có khô con nướng, có em con bồng

Bài ca dao lưu truyền không hiệp vần, nhưng chủ yếu nhằm phê phán, đánh giá người đời.

– Dùi đục chấm nước mắm cáy

Câu “Dùi đục chấm mắm cáy” hay còn có cách gọi khác là “Bầu dục chấm mắm cáy”. Dùi đục là vật dụng bằng sắt, đầu được mài, vót nhọn để khoan hay đục các vật cứng như gỗ, đá, kim loại… Còn bầu dục là cật con heo hay còn gọi là bồ dục, là món thuộc dạng ngon và hiếm. Mắm cáy là món ăn làm từ con cáy, hình dạng giống như con cua, thường sống ở những vùng nước mặn hay nước lợ. Món mắm cáy được ướp rất mặn, là món ăn quen thuộc, mộc mạc, gần gũi giới bình dân, người làm nông hay người làm thợ như thợ mộc, thợ nề… nhất là những người có đời sống khó khăn. Câu “Dùi đục chấm mắm cáy” phù hợp với ý nghĩa này. Còn món ăn ngon, hiếm là bầu dục, đúng ra phải chấm nước mắm ngon, hòa với gừng băm nhuyễn hay chấm với chanh như câu ca dao: Sáng ngày bầu dục chấm chanh/ Trưa gỏi cá cháy, tối canh cá chày. Còn mắm cáy được cho là loại mắm bình thường, không ngon lại còn mặn nữa. Bầu dục chấm mắm cáy sẽ giảm giá trị khoái khẩu, món bầu dục sẽ trở thành món ăn không ngon. Mấm cáy chỉ để chấm rau lang, rau muống luộc, dưa, cà… Từ đó, câu Bầu dục chấm mắm cáy có ý nghĩa là không phù hợp hay xử thế vụng về.

Tuy nhiên, nhà nghèo ăn mắm cáy mà vô lo, tối ngủ yên giấc, còn những người có tiền ăn thịt bò thì đêm nằm nhiều nỗi lo lắng, ngủ không yên: Ăn cơm mắm cáy thì ngáy o o/ Ăn cơm thịt bò thì lo ngay ngáy. Tục ngữ ta còn có câu: Nói như dùi đục chấm mắm cáy. Đó là cách nói trắng trợn, nói trực tiếp, nói không giữ kẽ và thậm chí thiếu  thanh nhã, cũng như nói thô thiển.

– Đo lọ nước mắm, đếm củ dưa hành.

– Đói cơm lạt mắm tèm hem

  No cơm mặn mắm lại đòi nọ tê.

– Giàu thì thịt cá bĩ bàng*

  Nghèo thì cơm mắm lại càng thấm lâu

*Bĩ bàng: Thả sức, thỏa thuê.

– Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng

  Về sông ăn cá, về đồng ăn cua

  Bắt cua làmmắm cho chua

  Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền.

– Liệu* cơm gắp mắm

*Liệu: Tính toán, tìm cách. Mắm mặn, ăn cơm phải căn cứ vào số cơm để dùng mắm cho vừa đủ, không để thừa cơm mà hết mắm. Câu thành ngữ trên ý nói tùy theo tình hình, khả năng thực có mà làm, sử dụng hay xử lý công việc cho đúng mức, vượt khả năng sẽ gặp thất bại.

– Liệu cơm mà gắp mắm ra

  Liệu cửa liệu nhà, em lấy chồng đi!

– Mắm cua chấm với đọt vừng

  Họ xa mặc họ, ta đừng bỏ nhau.

– Mắm kho chấm với dưa bồng

  Nồi cơm quét sạch, mẹ chồng khen ngon.

– Mắm không ngon thì xem nước thống*

  Việc làm không chóng, coi bộ chân tay

* Nước thống: ?

– Mắm ngấu* nấu cá trê

*Mắm ngấu là mắm đã ngấm kỹ muối và đã nhuyễn ra, kho với cá  trê rất ngon.

– Mắm ngấu thì ngon, ruộng ngấu* mẹ con cả mừng

*Ruộng ngấu là đất ruộng đã thấm nước và nát nhuyễn ra dễ cho việc gieo mạ.

– Miệng ăn mắm ăn muối

Người xưa quan niệm cái mặn của mắm muối được coi như là liên hệ với những điều không tốt, không hay, liên hệ với độc địa như khi một người nói những điều độc mồm độc miệng hay nói gở.

– Nạ dòng vớ được trai tơ*

           Đêm nằm hí hửng như vơ được vàng

– Trai tơ vớ phải nạ dòng**

            Như nước mắm thối chấm lòng lợn thiu

*Trai tơ: Trai mới lớn, chưa vợ. ** Nạ dòng: Người phụ nữ đã có nhiều con, đứng tuổi, không còn nhanh nhẹn, gọn gàng vì đã luống tuổi. Từ này thường dùng với nghĩa chê bai. Có nơi phát âm thành lại dòng.

– Nên thì một vợ một chồng

  Một niêu cơm tấm, một đùm mắm nêm.

– Nhăn nhó như khỉ ăn vụng mắm tôm

So sánh những người hay nhăn nhó khi bất bình chuyện gì đó với con khỉ ăn mắm tôm, mặt khỉ cũng nhăn nhó như thế. Khi ăn mắm tôm, khỉ nhăn nhó vì mắm mặn và cả vì mùi mắm nữa.

– Nói cho lắm cũng nước mắm dưa cải

           Nói cho phải cũng dưa cải nước mắm

Lời nói không có tác dụng gì, dù là nói nhiều, nói những điều đúng.

– Nước chanh giấy hòa vào mắm mực

  Rau mũi viết lộn trộn giắm son

  Bốn mùi hiệp lại càng ngon

  Như qua với bậu, chẳng còn cách xa.

– Nước mắm ngon thượng thủ*

  Thả miếng đu đủ, nó nổi lờ đờ

            Phận em còn dại, còn khờ

            Làm dâu chưa đặng, cậy nhờ mối anh

* Thượng thủ: Hơn hết, trên hết.

– Nước mắm mặn ba năm còn mặn

 Gừng già cay chín tháng còn cay

 Hai đứa ta thương nhau thiên hạ đều hay

   Đèn tọa đăng sao em không tắt, cửa khóa sắt khoan gài

   Chờ cho phụ mẫu ngủ, em ra ngoài với anh.

– Nước mắm ngon cho lắm, nước mắm cũng có dòi*

  Khôn ngoan cho lắm cũng nòi** lấy trai

*Dòi: ấu trùng của ruồi. Nước mắm không bảo quản kỹ, dù là nước mắm ngon, ruồi đẻ trứng vào, sẽ nở ra dòi. **Nòi: dòng giống. Mượn nước mắm, mượn con dòi để nhận định về con người

– Nước mắm ngon dầm con cá bẹ

Anh biểu em rình lén mẹ qua đây.

– Nước mắm ngon dầm con cá đối

            Em biểu anh chờ để tối em qua.

– Nước mắm ngon dầm con cá liệt

           Em có chồng rồi nói thiệt anh nghe.

– Nước mắm ngon dầm con cá trắng

           Thấy em làm dang nắng anh thương.

– Nước mắm ngon dành ăn bánh hỏi

            Qua thương nàng mòn mỏi tháng năm.

– Nước mắm ngon nằm sâu đáy hũ

            Thả miếng đu đủ xuống tận đáy bình

            Mù u nhuộm thắm bông huỳnh

            Bao nhiêu gái đẹp không nhìn

            Dạ anh chỉ để thương mình em thôi.

– Nước mắm xem màng màng

  Thành hoàng xem cờ quạt

Từ kinh nghiệm xem nước, xem màng trong quá trình làm mắm: nếu nước trong, sánh vàng, màng mỏng và trong thì là mắm ngon, nếu nước đục, màng nổi màu thì coi như mẻ mắm bị hỏng. Từ đó, người ta bàn sang việc nhận diện lễ hội. Lễ hội xem cờ, xem kiệu, xem người dự để đánh giá lễ hội.

– Quần dài thì ăn mắm thối

  Quần đến đầu gối thì ăn mắm thơm

Làm mắm là công việc rất công phu, vất vả, nên người làm mắm phải hết lòng. “Quần dài” ở đây không phải chỉ người giàu có, quần ngắn không phải chỉ người nghèo. Nghề làm mắm rất vất vả, chuyên cần, siêng năng… như thế mới có sản phẩm thơm ngon, không phù hợp với người thích chưng diện (quần dài), không thích lao động, từ đó ra sản phẩm không dùng được.

– Thêm mắm dặm muối hay Thêm mắm dặm muối

Mắm đã mặn, thêm muối vào cho mặn thêm để người ăn thấy ngon miệng, đậm đà. Nhưng câu này còn là lời chê trách những người “lắm lời nhiều chuyện”, cố tình hư cấu, thêm bớt vào câu chuyện làm cho câu chuyện bị sai lạc, có khi gây ra sự mâu thuẫn, không tốt đẹp gì.

– Thịt không hành, canh không mắm

Thịt kho không có hành, canh không nêm mắm thì món ăn nhạt nhẽo, không ngon.

– Trai ba mươi tuổi đang xinh

  Gái ba mươi tuổi như chình mắm nêm.

– Vặt lông con diệc* cho tao

  Hành tiêu nước mắm bỏ vào xào lăn

*Con diệc: Loài chim lội nước mang họ diệc, có có tên gọi phổ biến là vạc, diệc bạch hay cò.

Chỉ là nước mắm, chỉ là một loại nước chấm, nước để nêm thức ăn, nhưng cũng lắm điều hay, nhiều lời khuyên, nhiều nhận định, phê phán… khi vào đời sống văn hóa của dân gian người Việt.

Ngô Văn Ba

THÀNH PHỐ NGÀY ĐI VẮNG

(Nguyễn Ngọc Tư)

.

Tan rồi bóng khói

sau đêm hội pháo hoa

thành phố đã biến mất

trên những con đường vắng người,

hoa cháy thầm bên cửa khép

tiếng cười bên xóm mỏng

bàn chân qua ngõ nhón từng lát cong cong,

mỏng cả khói hương bay

mỏng tiếng chim sẻ chim sâu trong sớm mai này

Chợ vắng bóng người quang gánh chiều qua vẫn còn lam lũ qua đây,

nón lá trên tay tát cạn chiều. Và bóng tối đêm giao thừa bắt đầu sóng sánh

người đàn bà gánh thành phố đi về phía hẻm sâu nào?

Sáng nay vắng bặt tiếng rao,

không một ánh mắt lầm lũi,

không một bàn tay cầu xin thui thủi

thành phố trống như một ngôi làng rộng

và dân làng đã ra đồng

gặt hái mùa màng vàng rực ở chân mây

Những quán cóc bên đường ngủ say

không một người phu hồ nào gọi dậy

bằng mớ giọng lưu lạc

từ xa mù từ núi đồi đồng bãi

khói bếp quê nhà buộc dẳng dai vào nắm khói trong ngực trái

có lúc làm thành phố cay xè

sớm nay khói bay về đâu?

Sớm nay thành phố đi đâu

những chật chội ngột ngạt những chen chúc nhàu nát

những bụi ta nghẽn đặc mũi người

những rác ta chồng lấp rác người

những khinh ta vùi dập phận người

Thành phố đi vắng rồi theo bước người dầu dãi

Ta đứng chỗ con đường chiều qua lênh láng hội hè,

chỗ bàn chân ta từng bị giẫm bởi bàn chân người dưng gấp gáp

sớm nay,

ta nhìn thấy đường rơi hơi thở mình rơi

thành phố ơi!

(Ảnh: Phạm Anh Dũng)

Cây Sequoia trong Công viên Quốc Gia Sequoia National Park

Hình ảnh này được Bang Vo chụp lại trong chuyến đi vừa rồi.
Trong thực tế với góc máy này sẽ không thể chụp hết được toàn cảnh của cây Sequoia. Bời vì chúng có độ cao trung bình từ 60-91 mét.

Bang Vo đã sử dụng chế độ chụp Panorama mới thể chụp được hết toàn cảnh của cây Sequoia này.

Đây là loài cây được ví như nhân chứng sống của hành tinh này. Bởi vì tuổi thọ của nó đều đã đạt đến 2000 năm tuổi. Có một cây Sequoia trong Công viên đã ngã xuống vào năm 1950 và người ta đã tính được tuổi đời của nó qua những vân gỗ bên trong. Kết quả đáng ngạc nhiên hơn là nó đã trải qua ít nhất 80 lần bị cháy trong suốt cuộc đời.

VỰC KHÔNG ĐÁY

“Ước gì con người ta giống những con số, rạch ròi, chỗ nào không khớp nhau cũng tìm được nguyên do. Ngờ ở đâu, sẽ tìm được đáp án ở đó…”

(Nguyễn Ngọc Tư)

.

Ba đi làm về thấy bà già ngồi chình ình giữa nhà, ngay bộ bàn trà, một con mèo xám vắt ngang vai, và mẹ thì quỳ dưới bà ta, ôm bàn chân gầy như cọng củi vào lòng cắt giũa những cái móng dài tựa phù thủy trung cổ trong tranh vẽ.

Đó là một bà già mặt nhàu nếp gấp, mầu da cũ mốc chừng như sắp thiu ôi, chỉ cặp mắt đôi khi lóe lên một tia nhìn lơ vơ, khó tả. Nó chẳng biểu lộ ý nghĩ nào ngoài việc phát ra tín hiệu còn chút sự sống trong cái xác khô khòng. Nghe tiếng ba bỏ giày ở cửa, mẹ vẫn không quay người nhìn, nói:

– Chồng con đó má. Ảnh đẹp trai hén!

Bà già không ra vẻ phản đối hay đồng tình, chỉ giương mắt đục ra ngó rồi lại tiếp tục lim dim tận hưởng sự nuông chiều, không một chút mặc cảm. Mẹ kể sáng đi chợ về thì thấy bà già đứng dựa cửa nhà đụt mưa, nhưng nước đã tạt ướt sũng ống quần, thấy tội nên mẹ mời bà vào nhà ngồi cho đỡ lạnh. Một hồi nghe thức ăn trong bếp dậy mùi, bà già kêu, “bây à, má đói”.

– Nghe thương đứt ruột.

Mẹ nói. Ba phát hiện ra mẹ không chỉ cho má ăn, còn tắm táp, kỳ cọ, cho bà mặc quần áo của mình. Bộ đồ rách tã kia mẹ đem giặt, phơi trên sào, đã thôi rỏ nước. Kéo mẹ ra một góc, ba thầm thì, coi chừng dân trộm cắp bất lương. Mẹ cười, “má không làm vậy với mình đâu”. Chữ “má” làm ba không thốt nên lời.

Đêm đó mẹ nằm cho ba đẩy đưa mà chẳng lử đi như mọi khi, vì bận tâm tới bà già với con mèo ngoài phòng khách. Không biết má nằm đất có bị đau mình không, má nói khi mặc lại áo. Nghĩ má lạ chỗ ngủ không yên, mẹ ôm Bi và Quới ra ngủ chiếu với bà, cả bọn rầm rì quá nửa đêm. Không biết họ nói những gì mà bà già còn hứng chí ca, “sắm được sào dài sông bỗng cạn queo/mưa dầm nắng lửa mình ên chống chèo”. Giọng the thé, lẫn trong tiếng mèo phụ họa, nghe rợn.

Má ở lại một đêm rồi biến mất. Bộ đồ mẹ đưa má mặc đỡ cũng được xếp thẳng nếp, đặt trên ghế dựa. Không lấy đi bất cứ thứ gì, bà già còn để lại con mèo tên Chó. Mẹ buồn suốt cả tuần sau đó, cứ thắc thỏm không biết má đi đâu, đang giữa mùa mưa dầm dề. Nghe giọng bao dung như thể nếu bà già ở lại, mẹ sẽ nuôi luôn.

Khoảng thời gian ít ỏi bà già ghé qua, chẳng lưu lại gì ngoài những cọng tóc rơi trong phòng tắm, mà hôm sau khi làm công việc cọ rửa, mẹ đã dọn sạch. Sẽ giống một giấc mơ, nếu không có con mèo xám. Tính khí tự nhiên y hệt bà già, nó mạnh dạn đi lại trong nhà không một chút bỡ ngỡ, cả hành động nhảy vào nôi nằm dưới chân Bi ngủ, như quen thuộc lâu rồi. Tuyệt không thấy con vật ngó ra cửa trông chủ cũ, chừng như bụi mưa ngoài đó, mặt đường ướt nhoét làm nó ớn.

Bỗng dưng ba có cảm giác, bà già vẫn ở lởn vởn đâu đây, qua cách mẹ bồn chồn ngó mây kéo bầy, những lần đưa nhau đi chơi phố đột nhiên mẹ bảo ba dừng xe, gửi Bi lại để chạy theo một người nào đó, rồi trở lại với vẻ mặt thất vọng. Một bữa bắt gặp con Chó (thật ra là mèo) đang thè lưỡi liếm bột ăm dặm trên miệng Bi, ba nổi khùng kêu mẹ liệng con mèo (tên Chó) đi phứt cho rồi. “Đâu được, của má đó, biết đâu má lại về tìm nó”, mẹ cười, xoa đầu con vật. Nghe giọng, khó biết mẹ đang nói về bà già lang thang, mà đến cái tên thật của bà ta mẹ cũng còn ngơ ngác.

Giây phút đó, ba tự hỏi, mình biết về người phụ nữ này được bao nhiêu ?

Lần đầu gặp mẹ ở một cửa hàng giới thiệu sản phẩm của trung tâm nuôi dưỡng trẻ bị bỏ rơi, ba được người ta giới thiệu “con nhỏ Ngà đã ở đây hồi ba tuổi”. Ba thấy lạ, cô gái không có vẻ tội tội, rầu rầu như những đứa trẻ có cùng hoàn cảnh, mà khí chất nhẹ nhõm, bình thản đến mức, như ba hình dung, chỉ cần tháo bỏ đôi giày hơi cao gót kia ra, thứ khiến cô đi lại hơi thiếu tự nhiên, cô sẽ bay lên trời.

Sau này khi đến nhà ba mỗi tuần hai buổi để dọn dẹp nhà, giặt quần áo, như một công việc làm thêm, ba nhận ra ngay cả khi đẫm mồ hôi, thì ở cô cũng chẳng toát ra vẻ gì nặng nhọc. Giữa những dây phơi bên ban công gió loạn, có lúc ba nghĩ suýt chút cô đã bay lên cùng với tấm vải trải giường, như một nhân vật trong tiểu thuyết Colombia. Trong cái nhập nhoạng của buổi chiều tà, khi cô từ giã ra về và lướt người qua cửa, có lần ba hoảng hồn nhìn xuống chân cô, xem có còn chạm đất không.

Cô gái thích ba. Tình cờ, ba biết. Những vật dụng cũ như khăn tay, bàn chải đánh răng, dao cạo râu, sau khi ba liệng vô thùng rác, đều được cô lén giữ lại, cất trong giỏ của mình, như kỷ vật. Và có lần quay lại lấy mớ giấy tờ để quên, ba bắt gặp cô úp mặt vào hít hà cái áo đẫm mồ hôi của ông chủ trẻ. Một bữa ba uống hơi ngà say, ngó cô gái vươn người kéo khép cánh cửa sổ để mưa giông khỏi tạt ướt nhà, ba tưởng cô sẽ bay mất nên ôm ghì lấy. Cô ấm và ngoan như con chim sẻ trụi lông tự biết mình không có khả năng tung cánh.

Đúng bữa đó, Bi tượng hình. Nhưng không hoàn toàn chỉ vì đứa trẻ mà lễ cưới diễn ra sau đó. Ba mặc áo chú rể với tâm trạng vô cùng dễ chịu, tuyệt không chút gì miễn cưỡng.

Sau này khi nhìn lại hình cưới của mình, ba thấy có một tấm chụp chung với bên nhà gái, những dì phước. Họ tới lễ cưới chớp nhoáng vì nhà thờ có cha đang đau nặng, “mà cũng không thể bỏ tụi nhỏ ở nhà lâu”. Khi nhìn vào tấm ảnh ấy, lần đầu tiên ba tự hỏi, họ có thật là dì phước không, hay chỉ là những phụ nữ bình thường, vì lý do nào đó, đã mượn những bộ y phục nọ để khoác lên người ?

Ấy là khi bà già ăn mày đã đến và đi, mẹ cho Bi bú và tay kia vuốt lông con Chó, phấp phỏng nhìn mưa xiêu bên thềm. Cái ý nghĩ mẹ kéo bà già vào nhà vì lòng trắc ẩn hồn nhiên, bị thay bằng một giả thuyết vừa quyến rũ vừa đắng cay, biết đâu bà già xin ăn nọ là má ruột của mẹ. Điều đó có nghĩa ba không biết gì về người phụ nữ đêm đêm rúc dưới bụng mình.

Tựa như bức tượng mà ta quen thuộc, bởi ngọn đèn mà hắt cái bóng kỳ lạ lên tường. Hồi nhớ lại bữa bà già tới, ba thấy mẹ và bà có vài điểm giống nhau. Thái độ nhẹ nhõm gần như phớt đời, sợi tóc hơi thô cứng (thật ra ba không chắc lắm ở điểm này, vì nếu không thường xuyên tắm gội, lăn lóc ngoài đường chịu trận nắng mưa thì tóc người ta có thể cứng đơ như thường), cách đặt tên cho con vật chẳng giống ai. Gọi mèo là Chó cũng hơi giống cách mẹ đặt tên Quới cho chú cá heo nhồi bông mà mẹ luôn giữ bên mình.

Quới nằm trong gia tài còm nhom mẹ mang về nhà chồng. Một con thú nhồi bông đã cũ tới mức không thể đoán được mầu gốc của nó, trước khi nhem nhuốc sắc gì đó tựa cháo lòng. Hai vây con Quới thâm xỉn, đơ ra như vải được hồ cứng. Mẹ nói hồi nhỏ em phải mút chúng mới ngủ được, Bi của tụi mình thì không vậy, con chỉ mút tay. Trước khi được một nhà hảo tâm tặng thú nhồi bông, mẹ mút góc khăn, góc áo gối, bất cứ thứ gì mềm và có hình tam giác. Nhớ lại, lúc nghe chuyện mẹ và Quới, ba đã hỏi lý do sao tên con cá rất người. “À, Quới là đứa bạn thân của em”, mẹ nói, tiếng đuối trong hối tiếc, “bị người ta đón đi rồi”.

Lúc đó ba không gặng hỏi thêm, cũng như từng phớt lờ quá khứ của mẹ. Chẳng vui gì khi nghe kể về cuộc sống của đứa trẻ mồ côi, ba yêu mẹ không phải vì thương hại, ba nghĩ vậy. Và mẹ cũng không phải kiểu đàn bà hay rao những bất hạnh bằng lời, để thu nhặt cảm thương của người khác.

Đó là phần thời gian khuất mặt, và sau cái bữa bà già lạ hoắc ghé nhà ung dung ngồi ngay bàn ăn dùng bữa sáng với bánh mì trứng chiên, ba muốn bới ra, ngó nghiêng cho biết. Rốt cuộc thì quá khứ của vợ mình có đơn giản như cô ta nói, trong cái lần ba bâng quơ hỏi, “hồi nhỏ chắc em sống khổ lắm?”.

– Đâu có. Tụi em chỉ thiếu cha mẹ thôi, ngoài ra chẳng thiếu gì.

Mẹ trả lời tỉnh rụi, và không có dấu hiệu muốn đi vào chi tiết. Thái độ đó luôn được ba xem là bình thường, trước khi bà già bước vô nhà, mang theo một con mèo tên Chó.

Liên tục tính nhầm sổ sách, một kế toán trưởng nghiêm cẩn với từng con số như ba, cảm thấy bất an như vừa nuốt trộng cây đinh cúc vào bụng. Giờ thì không thấy đau, nhưng nó sẵn sàng đâm thủng từ bên trong bất cứ lúc nào. Ba ước gì con người ta giống những con số, rạch ròi, chỗ nào không khớp nhau cũng tìm được nguyên do. Ngờ ở đâu, sẽ tìm được đáp án ở đó. Chúng không mù mịt như câu hỏi, bà già nọ, rốt cuộc có phải là ruột thịt với mẹ không.

Những câu hỏi không thành lời khoét thành một lỗ sâu hoắm trong lòng ba, dần rộng như một cái vực nhìn không thấy đáy. Ba hay lén dõi theo mẹ, nhiều hơn cả hồi mới cưới, đầu đầy những hình dung mà ba tự thấy là điên rồ nhưng không sao kìm giữ được, người phụ nữ hát khẽ bên trong phòng tắm với con mèo xám canh chừng ngay bên cửa, cô ta có gì đang che giấu không, có cái đuôi nào không, có vết sẹo nào mà ta chưa biết.

Chẳng có gì bảo đảm sẽ không có chuyện một bữa nào đó từ công ty về, ba thấy mẹ đang bắt chí gỡ ghẻ cho thằng bé tóc cháy vàng nào đó, và biểu thằng nhỏ, chào ba đi con. Hay, một người đàn ông lạ mặt cũng xuất hiện theo cách tương tự. Ba nghĩ vậy, trong lúc ngắm mẹ trộn nước thịt kho vô phần ăn của Chó, tức con mèo của một bà già ăn xin bỏ lại, chăm chút như nấu phần cháo cho Bi. Cô ta từ tâm đến vậy sao? Không tính toán một chút nào, với những kẻ lạ qua đường?

Bị ý nghĩ lạ xỏ mũi, ba đi xa tới mức thẳng tới bệnh viện, với mẫu cuống rốn của Bi, vốn được mẹ phơi khô cất giữ trong tủ áo, làm một giám định huyết thống.

Mẹ tìm thấy tờ giấy báo kết quả trong túi quần, lúc lộn ra giặt.

Trước đó, có lần mượn say, ba giằng con cá heo cháo lòng khỏi tay mẹ, ném đi, hỏi gằn “Nói mau, Quới là thằng nào ?”. Ngay lập tức ba phát hiện ra đó là câu hỏi thừa. Giống như đọc bộ hồ sơ gốc của cô bé Nguyễn Thị Ngà ở viện trẻ bị bỏ rơi, ngó đứa bé rầu rĩ, mắt nhìn xuống trong tấm hình, ba thấy chẳng có nét nào giống vợ mình. Ba không chắc đó là mẹ hay Ngà nào khác. Chắc mẹ hiểu mình có nói gì thì cũng không được xem là sự thật, nên nín thinh nhặt Quới và ẵm Bi ra phòng khách ngủ. Con mèo kêu một tiếng dài ngao ngán rồi trễ nãi bước theo. Cùng lúc có hai ý nghĩ rượi men bia cũng lảo đảo hiện ra. Một, cô ta trốn tránh. Hai, chiếc chiếu đó còn lưu mùi của bà má nổi trôi.

Cho đến giờ, chứng kiến ba mẹ mỗi lần gặp lại đều tỏ ra dè dặt, như người này là một mảnh thủy tinh vỡ, nếu không cẩn thận có thể làm người kia chảy máu, Bi vẫn hay thắc mắc lý do ba mẹ bỏ nhau. Ba hẹn nay hẹn mai. Thật khó để nói với con bé mười lăm tuổi rằng rạn nứt bắt đầu từ một bà già ăn xin ghé đụt mưa trước hàng ba nhà mình, mẹ rủ vào trong ngồi cho đỡ lạnh, rồi thấy bà dơ và đói, mẹ dắt đi tắm và cho ăn. Chẳng ngại ngồi cùng mâm cơm, giữa bữa bà già còn rầy “thịt kho chưa tới nên dai, hồi nhỏ bây nấu nướng tệ, giờ vẫn y chang”.

Mãi mãi, ba vẫn không biết được lúc đó mẹ góp một lời thoại cho vở kịch tưởng tượng, hay thực sự họ đang tắm chung dòng hồi ức, khi nói:

– Được má cằn nhằn, con sướng.

(Ảnh sưu tầm)

Thung Lũng Tử Thần (Death Valley)

Tuan Pham

Tuy September 22 mới là ngày cuối của Summer ở Bắc bán cầu, nhưng như một luật bất thành văn, nhiều người thường xem hôm nay, ngày lễ Lao Động (Labor’s Day), là ngày cuối của mùa hè. Nói đến mùa hè thì nói đến cái nóng, và nơi nóng nhất ở California, nói đúng ra là của cả thế giới luôn (trừ những nơi có núi lửa còn âm ỉ đâu đó), là Thung Lũng Tử Thần (Death Valley). Người Âu Châu mỗi khi qua đây du lịch thì họ đi ngay đến Death Valley để cảm nhận cái nóng của nó. Người Á Châu mình thì ít hơn, tuy nhiên với các bạn trẻ nào muốn thử trãi nghiệm cái nóng ra sao thì nên đi một lần cho biết (không recommend cho người lớn tuổi đi vào mùa hè). Hình này chụp lúc mặt trời vừa mọc mà nhiệt độ đã 120F. Đến 10 giờ sáng thì gần 125 độ F. Đến khoảng 2 PM thì đến 133 F (khoảng 54 độ C). Đó là nhiệt độ đo trong không khí thôi chứ ở dưới cát và đá đất thì còn nóng hơn nhiều. Đôi giày Nike tôi mang đã bị chảy keo, 2 đế giày gần tụt ra hẵn, cũng may là lúc đó đã đi ra lại gần đến xe. Nhịp tim lên rất nhanh khi nhiệt độ qua ngưỡng 130F, và rất dễ bị heat stroke. Xin giới thiệu một nơi thiên nhiên thần bí mới mẽ đầy kích thích đến với các du khách đến thăm Cali, lẫn các cư dân Cali luôn, nếu chưa từng đến Death Valley. Chúc mọi người một ngày lễ Lao Động thật vui nhé, hy vọng không ai phải đi làm trong ngày hôm nay!

Mùa covid vắng khách ở Zabriskie Point in Death Valley.
Photo : Hoang Hai
Zabriskie Point in Death Valley , CA
Photo : Nguyen Vo
Zabriskie Point in Death Valley , CA
Photo : Nguyen Vo
Zabriskie Point in Death Valley , CA
Photo : Nguyen Vo
Zabriskie Point in Death Valley , CA
Photo : Nguyen Vo
Zabriskie Point in Death Valley , CA
Photo : Nguyen Vo
Zabriskie Point in Death Valley , CA
Photo : Nguyen Vo

PHỦ GIA ĐỊNH – CÔNG CUỘC MỞ CÕI VỀ PHƯƠNG NAM VÀ NÉT VĂN HÓA ĐẶC THÙ NAM KỲ.

Tác giả: Nguyễn Minh Triết

Gia-Định, một địa danh kỳ cựu nhứt của vùng đất phương nam đã bị xóa tên trên bản đồ địa lý Việt Nam kể từ khi miền Nam tự do bị sáp nhập vào với miền Bắc Công sản. Theo dòng lịch sử vùng đất này đã mang nhiều tên khác nhau như: Phiên trấn dinh, Phiên An trấn, Gia Định phủ, Gia Định trấn, Gia Định thành và cuối cùng là Gia Định tỉnh trước khi bị xóa tên.

Theo Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn, vào năm 1698 chúa Nguyễn Phúc Chu đã cho lập Phủ Gia Định, tên gọi đầu tiên chỉ chung cả vùng đất mới ở phương nam vừa được dân quân ta khai khẩn. Tên “Gia Định” được đặt là hàm ý nói vùng đất đã được sắp xếp an ổn vững vàng tốt đẹp rồi.

Đến năm 1790 sau khi xây xong thành Bát Quái (trong địa phận Quận I ngày nay) phủ Gia Định được gọi là Gia Định kinh vì được coi là kinh đô của Nguyễn Ánh chống quân Tây Sơn. Sau khi thống nhất đất nước, năm 1802, vua Gia Long cho lập kinh đô ở Huế, nên đổi Gia Định kinh lại là Gia Định trấn. Đến năm 1808, nhà vua chia nước làm ba khu vực hành chánh lớn gồm khu vực miền Trung là Kinh Thành, khu vực phía ngoài là Bắc Thành gồm vùng đất từ Thuận Hóa trở ra bắc và khu vực phía trong là Gia Định Thành.gồm vùng đất từ Bình Thuận trở vào. Bắc Thành và Gia Định Thành là hai cơ quan hành chánh cấp cao, thay mặt hoàng đế quản trị các trấn trực thuộc. Tổng trấn Gia Định Thành là Tả Quân Lê Văn Duyệt. Gia Định thành gồm năm trấn là Phiên An, Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên

Năm 1832, Lê Văn Duyệt tạ thế; vua Minh Mạng bải bỏ chức tổng trấn, giải tán Gia Định Thành, đổi trấn thành tỉnh, và 5 trấn của Gia Định Thành được chia ra thành 6 tỉnh là Biên Hoà, Phiên An, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, và Hà Tiên. Đến năm 1835, tỉnh Phiên An đổi tên thành tỉnh Gia Định Theo một số sử gia thì chữ đầu của tên 6 tỉnh này được lấy ra từ câu thơ “Gia Biên Vĩnh Định An Hà” có nghĩa là ra roi an định non sông lâu dài và tên từng tỉnh cũng có ý nghĩa như sau:

GIA BIÊN VĨNH ĐỊNH AN HÀ

– Gia Định – Định xong tốt dẹp

– Biên Hòa – Vui hòa nơi biên thùy

– Vĩnh Long – Hưng thịnh vĩnh viễn

– Định Tường – Điềm lành ổn định

– An Giang – Non sông an vui

– Hà Tiên – Sông có tiên xuất hiện.

Song song với việc phân chia Gia Định Thành, vua Minh Mạng cũng đổi tên gọi ba khu vực hành chánh lớn của đất nước thành Bắc Kỳ, Trung Kỳ, và Nam Kỳ với ý nghĩa “Kỳ” là một cõi, một vùng đất rộng lớn. Nam Kỳ gồm có sáu tỉnh nên tên gọi “Nam Kỳ Lục tỉnh” hình thành từ đây và theo thời gian tên gọi đó đã trở thành một tên gọi đầy ấn tượng hằn sâu trong lòng mọi người dân Việt, đặc biệt là người dân Việt miền Đồng Nai, Cữu Long trù phú. (*)

Nhưng đến năm 1867, thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, và vì không chịu đựng nỗi trước sức mạnh quân sự của thực dân Pháp nên sứ thần Phan Thanh Giản do lịnh của triều đình đã lần lượt ký nhượng cho quân Pháp 3 tỉnh miền đông là Biên Hòa, Gia Định, Định Tường rồi tiếp theo là 3 tỉnh miền tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên.

Gia Châu Hà Rạch Trà Sa Bến Long Tân Sóc Thủ Tây Biên Mỹ Bà Chợ Vĩnh Gò Cần Bạc Cấp.

Sau khi chiếm toàn bộ Nam kỳ, Pháp chỉ giữ lại tên gọi chung này, nhưng xoá bỏ cách phân chia hành chánh của triều Nguyễn. Thay vào đó Pháp phân chia và tổ chức “Nam Kỳ Lục tỉnh” lại thành nhiều tỉnh nhỏ. Gia Định được chia ra thành 5 tỉnh nhỏ là Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Tây Ninh, Gò Công. Biên Hoà chia thành 4 tỉnh là Biên Hoà, Bà Rịa, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu (Cap Saint Jacques). Định Tường đổi thành Mỹ Tho. Vĩnh Long chia thành 3 tỉnh là Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh. An Giang chia thành 5 tỉnh là Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Sóc Trăng, Cần Thơ. Hà Tiên chia thành 3 tỉnh là Hà Tiên, Rạch Giá, Bạc Liêu. Như vậy dưới thời Pháp thuộc sau nhiều biến đổi, đến năm 1899 “Nam kỳ lục tỉnh” trở thành Nam Kỳ 21 tỉnh. Để dễ nhớ, tên đầu của mỗi tỉnh được ghép thanh bài vè như sau:

Trong suốt hơn 270 năm tồn tại từ 1698 đến khi bị xóa tên, địa danh GIA ĐỊNH đã được tuần tự dùng để chỉ cả vùng đất mới rộng lớn từ tỉnh Bình Thuận đến tận mũi Cà mau rồi thu hẹp dần thành địa danh của một tỉnh. Tùy theo thời đại và các biến cố lịch sử diện tích có thay đổi nhưng địa danh Gia Định luôn luôn hàm chứa cả một lịch sử oai hùng của dân tộc trong công cuộc mở cõi về phương nam trù phú và công cuộc chiến đấu oai hùng chống ngoại xâm. Trên bình diện lịch sử nếu Thăng Long là linh hồn của đất Bắc, Thuận Hóa là trái tim của miền Trung, thì Gia Định chánh là biểu tượng của miền Nam.

Vùng đất miền nam được gọi là phủ Gia Định hay Gia Định Thành này nguyên là đất của Chân Lạp nhưng từ nhiều năm trước rất đông người dân Việt ở Đàng Trong đã bỏ dải đất miền Trung khắc nghiệt để vào khai hoang, khẩn đất làm ruộng mà không gặp một sự cản trở nào. Vì vậy dân Việt càng ngày càng đổ xô vào vùng đất mới để sinh sống làm ăn. Đến năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên nhân việc gả công chúa Ngoc Vạn cho vua Chân Lạp là Chey Chetta II, đã hỏi mượn vùng đất Prei Nokor và Kas Krobei (tức vùng Sài Gòn ngày nay) của Chân Lạp để đặt các trạm thu thuế các lưu dân Việt đang sinh sống xung quanh vùng đất ở Sài Gòn, Đồng Nai, và Bà Rịa. Đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng cũng là địa điểm qua lại và nghỉ ngơi của thương nhân Việt Nam đi Cao Miên và Xiêm La. Chẳng bao lâu, người Việt bắt đầu tập trung sinh sống xung quanh hai đồn này và dần dần biến hai đồn thu thuế trở thành trung tâm của khu thị tứ trên bến dưới thuyền, công nghiệp phát triển và thương nghiệp sầm uất.

-2- Năm 1658, vua nước Chân Lạp mất, nội bộ nước Chân Lạp lục đục vì tranh giành ngôi. Chúa Nguyễn Phúc Tần đã giúp một hoàng thân Chân Lạp là Batom Reachea lên làm vua, để đền ơn vị vua mới của Chân Lạp đã ký hiệp ước triều cống chúa Nguyễn hàng năm và cho phép người Việt được làm chủ vùng đất đã khai hoang ở vùng Sài Gòn, Đồng Nai, và Bà Rịa. Tại khu vực này lưu dân Việt sinh sống ngày càng đông, nhiều khu thị tứ mới được hình thành, nhứt là sau khi công chúa Ngoc Vạn trở thành Hoàng Hậu Chân Lạp thì lưu dân Việt càng được dễ dải trong việc di dân lập nghiệp ở vùng đất hoang vu này. Để bảo vệ dân và tăng cường tài nguyên cho ngân sách chiến tranh với chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn đã phải cử vào nhiều đội quân mạnh để giữ gìn an ninh cũng như đặt các quan cai trị và các trạm thu thuế ở khắp các nơi có luu dân người Việt sinh sống.

Năm 1679 các quan nhà Minh gồm Dương Ngạn Địch và phó tướng Hoàng Tiến là Tổng binh Trấn thủ đất Long môn ở Quảng Tây, Trần Thượng Xuyên và phó tướng Trần An Bình là tổng binh các châu Cao, Lôi, Liêm ở Quảng Đông không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3000 người cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Đại Việt. Chúa Nguyễn Phúc Tần nhân muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vào ở vùng phủ Gia Định. Những người này chia nhau ở đất Đồng Nai, Biên Hòa, Mỹ Tho cày ruộng, làm nhà, lập ra phường phố, vùng này sau đó trở nên trù phú và có nhiều tay buôn người phương Tây, Nhật Bản, Ần Độ đến buôn bán khá đông.

Để kiểm soát chương trình di dân mở cõi, năm 1698 Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh được chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào kinh lý miền Nam, và thấy nơi đây đất đai đã mở mang rất nhiều và đông đảo cư dân đang sinh sống làm ăn sung túc. Trước tình trạng lưu dân tự khẩn hoang lập ấp không có kiểm soát này, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định gồm hai huyện là huyện Phước Long (vùng Biên Hòa, Bà Rịa) và huyện Tân Bình (tức Sài Gòn là khu vực khoảng từ từ sông Sài Gòn đến sông Vàm Cỏ Đông) để quản trị vùng đất đã phát triển về phương nam này. Đây là lần đầu tiên người Việt chánh thức đặt nền hành chánh cai trị trên các vùng đất mới có người Việt định cư.

Đến năm 1708 vùng đất phủ Gia Định được mở rộng xuống tận Hà Tiên do việc Mạc Cửu đem vùng đất mới khai phá được gồm Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc dâng cho chúa Nguyễn Phúc Chu để xin che chở trước nạn thường xuyên cướp phá của quân Xiêm La. Mạc Cửu nguyên là một người gốc Quảng Đông, khi nhà Thanh cướp ngôi nhà Minh đã cùng gia quyến bỏ sang Chân Lạp năm 1680. Tai đây ông cho khai khẩn và cai quản 7 xã gồm toàn lưu dân. Chúa Nguyễn bèn đặt tên cho vùng đất này là Trấn Hà Tiên và phong cho Mạc Cửu làm chức Tổng binh, cai quản đất Hà Tiên. Khi Mạc Cửu mất, con là Mạc Thiên Tứ được phong chức đô đốc và được tiếp tục cai quản vùng Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ đắp thành, xây lũy, mở chợ, làm đường và đưa người về dạy Nho học để khai hóa dân trong vùng đất Hà Tiên. Đồng thời Mạc Thiên Tứ cũng mở rộng vùng đất đai kiểm soát của mình sang bán đảo Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cần Thơ đưa thêm các vùng đất mới này vào trấn Hà Tiên thuộc lãnh thổ Phủ Gia Định của Chúa Nguyễn.

Song song với việc thủ đắc đất mới một cách hòa bình chúa Nguyễn thỉnh thoảng cũng mở rộng thêm biên cương phương nam bằng chiến tranh nếu Chân Lạp tỏ ý ngăn chặn con đường Nam tiến. Năm 1732 chúa Nguyễn Phúc Chu đem quân đánh chiếm vùng đất ngày nay là Vĩnh Long, Bến Tre, rồi cho dân di đến lập nghiệp dựng lên dinh Long Hồ đặt trực thuộc phủ Gia Định.

Cũng vì lý do đó năm 1753, chúa Nguyễn Phúc Khoát biết được vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thông đồng với chúa Trịnh ở ngoài Đàng Ngoài để chống mình bèn sai Nguyễn Cư Trinh sang đánh Nặc Nguyên. Nặc Nguyên thua phải dâng hai phủ Tầm Bôn và Lôi Lạp (nay là vùng Tân An và Gò Công) cho chúa Nguyễn để cầu hòa. Năm 1757 Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận lại dâng hai phủ Trà Vinh và Ba Thắc (Sóc Trăng) cho chúa Nguyễn Phúc Khoát để xin được phong làm vua Chân Lạp. Sau đó Nặc Nhuận bị người con rể giết và cướp ngôi. Chúa

 Nguyễn cho quân sang bắt và giết kẻ soán ngôi rồi lập Nặc Tôn con Nặc Nhuận lên làm vua Chân Lạp. Nặc Tôn dâng đất Tầm Phong Long (vùng đất nằm giữa Sông Tiền và Sông Hậu tương ứng với Châu Đốc, Sa Đéc) để tạ ơn chúa Nguyễn.

Như vậy lảnh thổ của Phủ Gia Định đến giữa thế kỷ 18 coi như đã liền một giải từ tỉnh Bình Thuận cho đến mũi Cà Mau. Vùng đất phương nam mà chúa Nguyễn đã chinh phục được này thật ra là vùng đất hoang phế hậu quả của sự tranh chấp liên miên giữa nhiều chủng tộc từ nhiều thế kỷ trước. Tình trạng này đã được lưu dân Việt ghi nhận khi tới đây lập nghiệp mà các câu ca dao sau đây đã nói lên tất cả sự hoang vu và đầy hiểm nguy của miền đất mới:

“Đồng Nai sứ sở lạ lùng Chim kêu cũng sợ ,cá vùng cũng ghê”

“Chèo ghe sợ sấu ăn chưn Xuống bưng sợ đỉa , lên rừng sợ ma”.

“Rừng thiêng nước độc thú bầy Muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội đầy như bánh canh”…

Ngược dòng lịch sử vào cuối thế kỷ thứ 7, vương quốc Phù Nam một thời cực thịnh với nền văn hóa Óc Eo đi vào suy vong nên bị Chân Lạp thôn tính. Sang đầu thế kỷ thứ 8, Chân Lạp lai phân chia thành Thủy Chân Lạp và Lục Chân Lạp và đánh nhau cho đến khi Thủy Chân Lạp bị Lục Chân Lạp đô hộ. Tiếp theo trong suốt 2 thế kỷ thứ 8 và 9, vương quốc Srivijaya ở Java liên tiếp đánh vào Chân Lạp, Champa… và nhiều lần Chân Lạp đã bị trở thành thuộc quốc của vương quốc Srivijaya. Mãi đến đầu thế kỷ thứ 9, lợi dụng sự suy thoái của triều đại Salendra, một hoàng tử Chân Lạp là Jajavarman II sống lưu vong ở Java trở về giải phóng Chân Lạp lập nên vương triều Angkor. Vương triều này đã vươn lên mạnh mẽ và đạt cực thịnh vào thế kỷ 12 với nhiều công trình kiến trúc vĩ đại lưu truyền hậu thế như Angkor Wat, Angkor Thom… Sau khi xây dựng Angkor Wat và Angkor Thom, vương triều đi vào giai đoạn suy thoái và bị vương quốc Champa chinh phuc. Sau đó, số phận của Champa cũng bị diệt vong vì bị Đại Việt lấn chiếm lần lần bằng chánh sách di dân khẩn hoang mở cõi.

Những cuộc tranh chấp liên miên đó đã khiến cho khu vực này trở thành kiệt quệ và hoang tàn. Là vùng tranh chấp giữa các thế lực nên trong những giai đoạn hưng thịnh ngắn ngủi, nó quá xa trung tâm nên không được hưởng lợi ích gì nhiều. Nhưng khi có tranh chấp, nó lại phải hứng chịu gánh nặng của chiến tranh, cướp bóc, và phải đóng góp người vật cho các trung tâm quyền lực. Kết quả là dân cư dòng dõi Phù Nam đã phiêu bạt di tản tới những vùng yên ổn hơn, khiến cho vùng đất này dần dần trở thành hoang vắng. Trên thực tế, vùng đất này chỉ thuộc về Chân Lạp trên danh nghĩa mà thôi.và không có giá trị đối với các vị vua chúa Chân Lạp. Do đó khi cần họ sẳn sàng cắt đất hiến dâng cho chúa Nguyễn để đổi lấy sự trợ giúp hoặc sự an toàn chánh trị.

Vào đầu thế kỷ 17, cả một vùng miền Đông mênh mông chỉ có các bộ lạc người Mạ hay Mọi sinh sống thưa thớt trong rừng núi hoang vu đầy muôn thú ở khu vực cực nam của miền Trung và khu vực sông Là Ngà. Các bộ lạc người Stiêng, người M’nông , người Cơhô…thì sống rải rác trong khu vực Bình Phước, Phước Long, Tây Ninh nhưng về sau họ lần lượt rời bỏ địa bàn cũ để rút lui dần lên Tây Nguyên. Ở miền Tây thì có một số người Khmer sống lẻ loi trong vùng Trà Vinh, Sóc Trăng hoàn toàn cách biệt với triều đình Miên. Lợi dụng sự hoang vắng vô chủ đó người dân Việt ở Đàng Trong đã tự ý tìm vào bằng đường bộ hoặc đường biển để khai khẩn đất hoang lập nghiệp mà không bị một sự cản trở nào. Trong khi đó trước sức tấn công quận sự thường xuyên của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, dân Đại Việt dưới sự lảnh đạo của chúa Nguyễn ở Đàng Trong không còn cách nào khác hơn là vừa giữ đất vừa Nam tiến để mở rộng địa bàn. Vùng đất hoang vắng của Chân Lạp đã trở thành đích nhắm của các nhà hoạch định

-4- sách lược mở cõi của chúa Nguyễn song song với việc nhà cầm quyền cũng âm thầm hỗ trợ cho chánh sách mở cõi bằng lối “dân đi trước quan quân theo sau”.

Vì vậy khi thụ đắc được được một vùng đất mới do các vua Chân Lạp hiến tặng hoặc đánh chiếm được Chúa Nguyễn liền cử quan quân vào cai trị, đồng thời chiêu mộ thêm những lưu dân từ vùng Quảng Bình trở vào đem đến vùng đất mới để lập ra thôn làng và khai khẩn ruộng đất. Họ là những người xuất thân từ đủ mọi ngành nghề và thành phần xã hội đã đến vùng đất mới để khai phá đất hoang lập nghiệp. Lúc đầu đa số những nguời vào Nam khẩn hoang là những người nghèo khổ ít học, hoặc không có tên trong sổ bộ làng xã, liều mạng ra đi để rời bỏ cuộc sống tối tăm nghèo khó nơi quê nhà mà đất đai ngày càng chật chội vì dân số gia tăng để tìm một cuộc sống mới dễ thở sáng sủa hơn. Lần lần về sau những di dân có thể là quân binh và gia đình họ hàng theo các chúa Nguyễn bôn ba vào nam tìm lập căn cứ để chống lại quân nhà Tây Sơn. Họ cũng có thể là thân nhân của các quan tướng nhà Nguyễn trấn nhậm ở Phủ Gia Định sau này rồi tự nguyện ở lại lập nghiệp. Họ cũng có thể là những người khá giả ở miền Trung nhận biết cơ hội làm giàu ở phương Nam đang chờ đợi họ nên tuyển người mộ phu đưa vào Nam khai khẩn đất hoang lập thành ruộng vườn. Họ cũng có thể là những người không chịu sống khuất phục trước nạn cường quyền ác bá, muốn thoát ly những ràng buộc phong kiến để mong tìm kiếm một chân trời mới có không gian rộng mở và đở ngột ngat về mặt tinh thần. Họ cũng có thể là những tù binh của chúa Trịnh bị bắt trong các trận thư hùng hay những kẻ bị khép tội lưu đày biệt xứ, vĩnh viễn không được trở về nơi quê quán ông cha nên vì lẻ sống còn đành phải ra đi vì không còn chọn lựa nào khác…

Tất cả những thành phần đó nói chung là những người có óc mạo hiểm và bản lãnh dám chấp nhận cuộc sống đầy biến động, từ bỏ cuộc sống khép kín và tương đối an bình trong các luỹ tre làng. Trong những buớc đầu vào miền đất lạ như vậy, họ đã gặp phải rất nhiều thử thách cũng như nhiều cơ cực vì khi Nam Kỳ còn là đất hoang, chưa được khai phá, thiên nhiên miền đất mới này cực kỳ khắc nghiệt. Theo Sơn Nam, đất Nam Kỳ là thiên đường của cọp, sấu, rắn độc, muỗi mòng với bệnh sốt rét…Cảnh tuợng thương tâm “hùm tha, sấu bắt” là chuyện xảy đến rất thuờng cho nguời đi khẩn hoang nơi vùng đất hãy còn hoang vu, trên rừng thì nhiều cọp dữ, duới sông thì đầy cá sấu…Các đồng cỏ vàng lườm, cháy khô vào mùa nắng nhưng mưa đến là mọc nhanh, cao khỏi đầu. Tuy nhiên, nhờ sự tận lực làm việc nhiều thế hệ lưu dân nối tiếp nhau đã khai phá rừng hoang đầy thú dữ, cải tạo trũng thấp đầy sình lầy để trồng cấy và sinh sống. Nhờ vậy mà vùng đất khắt nghiệt đó sau này đã dần dần trở nên trù phú. Cho nên có thể nói những đợt lưu dân đầu tiên vào miền Nam khẩn hoang là những anh hùng không tên tuổi đã viết nên những trang sử mở cõi rất hào hùng.

Càng hào hùng hơn nữa khi bên cạnh những hoàn cảnh thiên nhiên khắt nghiệt, nguời lưu dân còn phải chịu nhiều cảnh tai uơng do chiến tranh liên miên giữa các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn Tây Sơn. Vùng đất từ Đồng Nai cho đến tận miền Cà Mau, U Minh trong thế kỷ 18 cứ cách quảng 5, hay 10 năm lại thành bãi chiến truờng của những trận thư hùng khốc liệt giữa hai đoàn quân của Nguyễn Ánh và quân Tây Sơn, hoặc giữa quân Tây Sơn và quân Xiêm La. Cho nên trong những giai đọan đó sinh họat của dân chúng nơi vùng đất mới thường hay bị xáo trộn và cuộc sống trở nên cơ cực vì phải gánh chịu các hệ lụy của chiến tranh như sưu cao, thuế nặng, trong khi làng mạc, mùa màng bị tàn phá, và dân chúng bị bắt lính, thương vong …

Trở về với giai đọan đầu của công cuôc khẩn hoang mở cõi, khi nguời lưu dân đến vùng đất mới rộng mênh mông, sông ngòi chằng chịt họ không tụ lại mà tản ra sống dọc theo những con kênh, con lộ để tiện bề làm ăn như làm ruộng hoặc lập vườn trồng cây. Và họ đã tạo ra một kiểu thôn làng mới, những thôn làng mở tức không có luỹ tre bao quanh làng hay cổng làng. Ngòai đặc tánh mở này của các làng ở vùng đất mới người lưu dân còn có dịp tiếp xúc với nhiều dân tộc, nhiều văn hóa nên đã tạo cho người lưu dân một cá tánh đặc biệt. Đó là có đầu óc cởi mở, thực dụng sẵn sàng tiếp thu cái mới. Nhờ thế, khi tiếp xúc với cái mới, người Nam

Kỳ dễ dàng chấp nhận, bao dung, và hội nhập và câu ca dao sau đây là một trong nhiều câu ca bình dân đã thể hiện tánh cách này của nguời Nam Kỳ :

Ra đi gặp vịt cũng lùa Gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu.

Chánh nhờ đặc tánh “gặp chùa nào cũng tu” mà miền đất Nam Kỳ là vùng đất đầu tiên tiếp nhận đạo Ki-tô và cũng là nơi đã khai sáng nhiều tôn giáo mới như đạo Cao Đài, đạo Phật giáo Hòa Hảo, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương…. Và cũng nhờ đặc tánh cởi mở và sẳn sàng tiếp thu cái mới mà như nhà biên khảo Sơn Nam cho biết dân Nam kỳ đã du nhập kiểu áo Bà ba là kiểu áo của người Hoa lai Mã-lai ở đảo Penang. Kiểu áo bà ba này về sau được xem là kiểu áo đặc trưng của người dân miền Nam.

Mặc khác, nhờ đất đai phì nhiêu nên lúa gạo dư thừa, và sông rạch đầy cá tôm nên nguời lưu dân có cuộc sống ung dung, thóai mái và không thích tích trữ để dành. Cuộc sống đó đã tạo cho họ một tâm hồn chất phác, một cuộc sống bình dị, an nhàn, không cần nghĩ đến ngày mai và câu ca dao sau đây đã nói lên hết cái lối sống đó:

Ví dầu cầu ván đóng đinh Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi Khó đi muợn chén ăn cơm Muợn ly uống ruợu, muợn đờn kéo chơi…

Đi đuờng gặp cầu gập ghình khó qua hay gặp một trở ngại giao thông thì khách có thể ghé vào nhà ai đó trong vùng tá túc ăn uống ca hát vui chơi…Điều kiện vật chất trù phú và dễ dải đã hun đúc những người đi khẩn hoang mở cõi một tánh tình rộng rãi, hiếu khách, đối đải tử tế với người từ xa mới đến, cũng như một tâm hồn hào sảng, trọng nghĩa khinh tài, và thủy chung:

Lòng qua như sắt, nói chắc một lời Bạc tiền chẳng trọng, chỉ trọng người tình chung..

Thêm vào đó người Nam Kỳ còn có tinh thần tự do, phóng khoáng. Vì vùng đất mới xa triều đình và các quan quân nên người lưu dân không bị kiểm soát chặt chẻ. Nhờ vậy, người lưu dân tương đối có nhiều tự do hơn. Do đất rộng và tài nguyên thiên nhiên dẩy đầy, chỗ nào ở không được hay bị áp bức thì họ tìm đến một nơi khác để ở và làm ăn, không có gì ràng buộc họ được. Hoàn cảnh đặc biệt đó đã tạo nên ở người lưu dân một tánh khí phóng khoáng, không chịu ép mình vào một khuôn phép cũ nào…Vì không chịu bị áp bức nên người lưu dân với tinh thần mạo hiểm, ngang tàng có trong máu từ lúc lên đường Nam tiến nên họ cũng không dễ dàng khuất phục trước nghịch cảnh và bạo lực. Cho nên cụ Nguyễn Đình Chiểu đã cho Lục Vân Tiên giữa đường thấy chuyện bất bình đã với tay không đánh tan bọn cướp để cứu Nguyệt Nga. Tinh thần bất khuất này cũng đã thể hiện rất rõ trong các cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp ở miền Nam sau này dù phải ở thế cô như các cuộc khởi nghĩa của Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân….

Tóm lại, từ thế hệ này qua thế hệ khác, cuộc sống vật chất dễ dải và tinh thần tự do phóng khoáng tại miền đất mới ở phương Nam đã tạo cho người lưu dân một nếp sống mới, một tánh tình và nhân cách mới. Đó là một tâm hồn chân thật, chất phác, với các đặc tánh như cởi mở trong giao lưu, nhạy bén với cái mới; thấm nhuần tinh thần dân chủ, bình đẳng; tràn đầy lòng nhân ái, bao dung, và hào sảng, cộng với lòng trọng nghĩa khinh tài và tánh bất khuất. Tất cả những đặc tánh đó tạo nên một tánh cách văn hóa đặc thù Nam kỳ, còn gọi là văn hóa Đồng Nai-Cữu Long, một đặc thù văn hóa vẫn tồn tại cho đến ngày nay dù bao biến động và thăng trầm của lịch sử.

Nền văn hóa đặc thù đó ngoài sự đóng góp của các thành phần lưu dân người Viêt vào Nam lập nghiệp còn có sự góp phần của nhiều sắc dân khác. Đầu tiên từ thế kỷ 17 khi dân Đại Việt

-6- tiến về phương nam vào vùng đất của Chiêm Thành, nền văn hóa gốc ở đồng bằng sông Hồng đã cọ sát với nền văn hóa Chàm và đã chịu nhiều biến đổi. Cho nên khi dân Việt tỏa vào sống ở vùng Đồng Nai Cữu Long, người lưu dân không thể không bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa của các sắc dân đang sống ở đó, Đó là nền văn hóa của người Khmer, người Hoa và các dân tộc anh em khác từng sinh sống ở vùng đất này.

Tất cả họ đã trở thành một đại gia đình sống hòa thuận, đoàn kết và đan xen với nhau ở khắp mọi nơi thuộc vùng đất phủ Gia Định. Tuy sống đan xen với nhau mà vẫn thừa nhận và tôn trọng phong tục tập quán của nhau. Về tôn giáo, các dân tộc sống chung đan xen này đều có tôn giáo khác nhau như đạo Phật, đạo Hồi, đạo Bà La Môn hay Ấn giáo. Tuy nhiên dù tôn trọng lẩn nhau nhưng do sống tiếp cận nên sự pha trộn văn hóa, phong tục tập quán là điều không thể tránh khỏi. Vì thế tiếng nói và chữ nghĩa cũng có đan xen, và câu cú, cách phát âm tiếng Việt của người miền Nam không còn chuẩn mực như tiếng Việt ở miền Bắc. Trong thực đơn hằng ngày của gia đình Việt có thêm những món mới như hủ tiếu, lẩu của người Hoa, cà ri dê, cà ri gà…của người Chàm, người Ấn. Đặc biệt về phương diện xã hội nghề đi buôn bị xem thường và đứng sau sĩ, nông và công ở xã hội gốc miền Bắc lại được dân chúng ưa chuộng ở miền đất mới:

Đạo nào vui bằng đạo đi buôn Xuống biển lên nguồn, gạo chợ nước sông…

Mặt khác, do nơi sự kiện lưu dân người Hoa phần lớn đều là những tầng lớp có gốc chủ yếu từ các tỉnh ven biển phía nam Trung Hoa mà đa số có đầu óc buôn bán nên đã giúp cho nền thương mãi của vùng Đồng Nai, Cữu Long càng thêm phát triển mạnh mẽ. Nhờ vậy, Sài Gòn từ rất lâu đã là một nơi tụ hôi buôn bán sầm uất của nhiều khách thương đến từ nhiều quốc gia Đông Nam Á cũng như Trung Hoa và Nhật Bản.

Tiếp sang thế kỷ 19 người Việt miền Nam lại có nhiều cơ hội biết thêm đạo Thiên chúa và văn minh phương tây do người Pháp mang đến khiến cho người dân thấy và học được nhiều điều mới lạ, đặc biệt là tiêm nhiểm được tinh thần khoa học của phương Tây. Một trong những cái mới lạ được người dân Nam kỳ chấp nhận lúc đó là chữ Quốc ngữ, một lọai chữ Việt được La tinh hóa do các linh mục Thiên chúa sáng tạo để dùng trong việc truyền đạo đã được người dân Nam Kỳ xử dụng thay cho chữ Nôm. Nhờ vậy một nền văn học bằng chữ Quốc Ngữ đã được hình thành và phát triển ra toàn quốc mà công đầu phải kể đến các ông Paulus Huỳnh Tịnh Của và Pétrus Trương Vĩnh Ký. Pétrus Trương Vĩnh Ký đã cho xuất bản bằng chữ Quốc ngữ truyện thơ rất nổi tiếng ở miền Nam là Lục Vân Tiên của cụ Nguyễn Đình Chiểu nguyên thủy được viết bằng chữ Nôm. Ngoài ra, ông và Hùynh Tịnh Của còn chủ trương tờ Gia Định Báo là tờ báo đầu tiên dùng chữ Quốc Ngữ để phổ biến tin tức và văn học, nhứt là cổ động cho việc dùng lọai chữ mới rất tiện lợi và dễ học đó. Tờ Gia Định Báo đã đặt nền móng cho sự hình thành của nền báo chí cả nước Việt Nam sau này.

Cuộc nội chiến kéo dài hơn một trăm năm giữa hai họ Trịnh Nguyễn đã đem lại nhiều tang tóc đau thương cho người dân cũng như cho đất nước, nhưng nhìn trên khía cạnh tích cực cuộc chiến đó đã giúp bờ cõi của Việt Nam được mở rộng. Trước hết, vì để tránh bị họ Trịnh tiêu diệt Nguyễn Hoàng đã phải lánh vào Nam để được an toàn và tìm đất để “vạn đại dung thân”. Rồi tiếp theo là cuộc chiến giữa các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn Tây Sơn đã ép buộc các chúa Nguyễn phải vào Nam tìm nơi lập căn cứ để đương đầu lại với quân của Tây Sơn đồng thời dân chúng miền Trung, đặc biệt là dân chúng ủng hộ các chúa Nguyễn cũng phải chạy theo vào Nam để được an tòan đồng thời khai khẩn đất đai để sống còn. Một khía cạnh tích cực khác nữa là khi tiến về phương Nam, văn hóa Việt gốc ở vùng châu thổ sông Hồng chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa Hán tộc được pha trộn với nhiều nền văn hóa mới ở phương nam khiến cho văn hóa Việt tộc thóat ra khỏi sự phong tỏa của văn hóa Hán tộc và trở nên phong phú, đa dạng và khởi sắc thêm lên .

Trên nhiều khiá cạnh có thể so sánh sự hình thành của nền văn hóa đặc thù Nam kỳ trong giai đọan đầu giống như sự hình thành của nền văn hóa Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ nơi đó qui tụ những con người có óc mạo hiểm và bản lãnh từ bốn phương trời, nơi đó nhiều nền văn hóa đã hòa trộn vào nhau rồi hình thành một nền văn hóa mới có những nét đặc thù không giống với văn hóa gốc của từng thành phần. Tương tự, nền văn hóa đặc thù Nam Kỳ cũng là tổng hợp của nhiều nền văn hóa khác nhau và trải qua hơn 300 năm miền Nam Việt Nam với một vùng đồng bằng Cữu Long mênh mông trù phú đã cung cấp dồi dào lúa gạo để nuôi sống cả nước và vùng đồng bằng Đồng Nai đất cao phì nhiêu thích hợp với việc trồng cây cao su, cà phê, cây ăn trái và thành lập các khu kỹ nghệ, đã đóng góp rất nhiều cho sự lớn mạnh của Việt Nam về mọi mặt. Ngoài sự mở rộng bờ cõi của đất nước đến tận mũi Cà Mau, người miền Nam và vùng đất phủ Gia Định mà Sài-Gòn là đại diện luôn luôn là vùng đất đầy tiềm năng đi đầu cho sự tiếp nhận cái mới, dám chấp nhận thử thách nhứt là luôn luôn là những người và vùng đất tiên phong sinh động dẫn đầu cho cộng cuộc canh tân và phát triển đất nước đặc biệt về lảnh vực xã hội, kinh tế và thương mại của Việt Nam.

Nguyễn Minh Triết (**)

__________________ 

Ghi chú (*) Mặc dầu sau này Nam Kỳ không còn 6 tỉnh nữa mà đuợc chia thành nhiều tỉnh hơn, nguời dân vẫn quen gọi Nam Kỳ là Lục Tỉnh. Tuy nhiên, sau này nói đi Lục Tỉnh lại có nghĩa là đi về miền Tây chớ không phải miền Đông, mặc dầu tiên khởi Lục Tỉnh gồm luôn cả miền Đông.

(**) Người viết là hậu duệ đời thứ 7 của một vị quan vào Nam cùng thời với Tả quân Lê Văn Duyệt. Ông đã cai quản và khai khẩn vùng đất nay là vùng Bình Triệu, Bình Phước, Bình Nhâm thuộc quận Thủ Đức, thành phố Sài Gòn. Sau khi qua đời ông đã được dân chúng trong vùng ghi ơn lập đình thờ và được vua sắc phong Thần làng. Hiện nay ông vẫn còn được thờ phượng tại đình thần Bình Triệu.

Tài liệu tham khảo 1. Sơn Nam, Đất Gia Định – Bến Nghé Xưa & Người Sài Gòn, Sài Gòn: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1997.

2. Huỳnh Minh, Gia Định Xưa, Sài Gòn: Nhà Xuất Bản Văn Hóa – Thông Tin, 2006.

3. Huệ Khải, Đất Nam Kỳ – Tiền Đề Văn Hóa Mở Đạo Cao Đài, San Martin, California, 2009.

4. Lâm Văn Bé & Nguyễn Đình Đẩu, Nam Kỳ Lục Tỉnh Theo Dòng Thời Gian,

Còn hai con mắt khóc người một con…

Trong bài hát “Con Mắt Còn Lại” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, có câu hát: Còn hai con mắt khóc người một con…
Nhiều người cho rằng bài hát này được Trịnh Công Sơn được dựa theo 1 câu thơ trong bài thơ Mắt Buồn của thi sĩ Bùi Giáng. Khi nghe bài hát Con Mắt Còn Lại, ai cũng hiểu nội dung của bài hát nói rằng có 2 con mắt, dùng 1 con mắt để khóc người, còn con mắt còn lại thì “nhìn cuộc đời tôi…” và “nhìn cuộc tình phai…”
Tuy nhiên, nội dung gốc của câu thơ “còn hai con mắt khóc người một con” của Bùi Giáng có phải có ý nghĩa như vậy hay không?
Theo nhà thơ Thụy Vi, thì ý nghĩa của câu thơ Bùi Giáng không phải là “tâm thần phân liệt” như vậy. “Còn hai con mắt khóc người một con” tức là Bùi Giáng đã dùng cả hai con mắt để khóc cho người đẹp đã có một đứa con. Lúc đó là khoảng năm 1957, Bùi Giáng say mê một hoa hậu tên là Thu Trang khi cô này đã có đứa con với một người đàn ông có gia đình.
Như vậy có thể suy ra chính nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng “hiểu nhầm” ý của “trung niên thi sĩ” Bùi Giáng trong câu thơ này chăng? Hoặc là có thể ông Trịnh Công Sơn chỉ mượn 1 câu thơ có ý tưởng độc đáo này để viết thành một bài hát có câu chuyện hoàn toàn khác của riêng ông:
Còn hai con mắt khóc người một con
Còn hai con mắt một con khóc người.
Con mắt còn lại nhìn một thành hai
Nhìn em yêu thương nhìn em thú dữ.
Hoa hậu Thu Trang tên thật là Công Thị Nghĩa, là hoa hậu đầu tiên của VNCH năm 1955, được biết đến như là 1 cán bộ nằm vùng với bí danh Tư Nghĩa. Bà là “nàng thơ” của Bùi Giáng trong nhiều bài thơ khác in ở tập Mưa Nguồn xuất bản khoảng năm 1962, như là:
“Không biết trời tròn hay méo
Chỉ hôm nay là nhan sắc hôm nay
Trời bên kia – nhan sắc ở bên này”
Bùi Giáng còn có bài thơ mang tên Thu Trang chưa công bố bao giờ, sau này được hoạ sĩ Bửu Ý chép lại cho Thu Trang:
“Trang của tờ giấy cũ
Của vầng tóc ban đầu
Trang của hồi vàng tụ
Về mệt mỏi mai sau
Anh nhớ em vô cùng
Đất sầu không xiết kể
Anh kêu gọi mông lung
Trang ồ Trang rất tệ”.
Trở lại với bài thơ Mắt Buồn, có câu hát “còn hai con mắt khóc người một con” ở câu thơ cuối cùng, trong bài này Bùi Giáng đã cố ý lồng tên người đẹp Thu Trang vào câu thơ: Ấn TRANG sử lịch THU triền miên trôi.
Bài thơ như sau:
Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão giông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một Giêng
Tạ từ tháng Chạp quay nghiêng
Ấn trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.
Nét đẹp sang trọng, quý phái của hoa hậu Thu Trang hồi 65 năm trước
Câu chuyện về người đẹp Thu Trang, là hoa hậu đầu tiên của Saigon và của cả Việt Nam vào năm 1955, có một đứa con ngoại hôn với vị đạo diễn đã có gia đình, được kể lại trong bài báo dưới đây:
Tiến sĩ sử học Thu Trang, tên thật là Công Thị Nghĩa, đã đoạt danh hiệu hoa hậu đầu tiên của Sài Gòn, cũng là của cả Việt Nam vào ngày 20-2-1955.
Đầu năm 1955, Bộ trưởng Thông tin Trần Chánh Thành và Bộ trưởng Xã hội Nguyễn Mạnh Bảo của chính quyền Sài Gòn lúc đó họp bàn với nhau tổ chức lễ hội kỷ niệm Hai Bà Trưng, trong lễ hội đó sẽ có cuộc thi hoa hậu đầu tiên.
Nhà báo bỗng nhiên “bị” mời đi thi hoa hậu
Lý do để có thể tổ chức một cuộc thi hoa hậu như vậy là nhằm tôn vinh hai nữ anh hùng dân tộc, đồng thời qua đó lấy tiền bán vé để ủng hộ cho Ủy ban Chẩn tế xã hội, một cơ quan từ thiện lúc đó.
Nhà báo Thu Trang lúc đó mới 23 tuổi đến gặp ban tổ chức (BTC) cuộc thi để lấy thông tin viết bài về cuộc thi hoa hậu, chẳng ngờ BTC vừa thấy cô lập tức chộn rộn hẳn lên. Rồi thay vì cung cấp thông tin cho cô viết bài, BTC lại “dụ” cô đi thi: “Cô nhà báo xinh đẹp như vầy nên đi thi luôn đi, nhan sắc cô mà không thi uổng lắm”.
Bất ngờ, Thu Trang từ chối, lấy lý do nhà báo không nên đi thi, rồi nhan sắc lên sân khấu sợ không đẹp. Nhưng BTC hết sức thuyết phục, rằng đây là cuộc thi đầu tiên, thí sinh ít có người đẹp đăng ký, cuộc thi có báo giới quốc tế chứng kiến nên nếu thí sinh có ít người đẹp sẽ mất thể diện phụ nữ Việt Nam… Thậm chí khi cô viện lý do không có trang phục đẹp để mặc, BTC cũng thuyết phục cô chỉ cần có một chiếc áo dài thôi là đủ vì cuộc thi lúc đó không có phần thi áo tắm. Sau này Thu Trang kể lại, nếu cuộc thi có phần thi áo tắm cô chắc chắn sẽ không bao giờ đi thi dù đã nhiều lần mặc áo tắm đi tắm biển.
Trở thành người nổi tiếng
Mặc dù ban đầu Thu Trang chỉ định đi thi cho vui, không tin tưởng lắm vào việc trúng giải, rốt cuộc cô lại giành ngôi vị cao nhất. Nếu so với các thí sinh hoa hậu thời nay, chiều cao của cô thấp hơn nhiều. Cô chỉ cao 1,61 m, đi thêm đôi guốc nên cao lên 1,68 m, số đo 86 – 62 – 88 và nặng 53 kg. Tuy nhiên, ở thời điểm hơn 60 năm trước thì đây là số đo lý tưởng. Chính vì vậy, khi công bố kết quả, Thu Trang thậm chí còn vượt xa đến vài chục điểm so với á hậu 1 và á hậu 2.
TS Thu Trang, hoa hậu đầu tiên của Việt Nam, giảng dạy tại ĐH Duy Tân năm 2000.
Ngay sau khi đăng quang, Thu Trang được đưa lên một chiếc xe De Soto mui trần sang trọng cùng đoàn diễu hành qua các đường phố chính của Sài Gòn trong hai tiếng đồng hồ.
Ngày hôm sau, các báo Sài Gòn đồng loạt loan tin: Cô Thu Trang, một nữ ký giả, chiếm giải Hoa khôi cuộc thi sắc đẹp do hội AMAS tổ chức tại Chợ Lớn mục đích giúp chẩn tế xã hội/ Nữ ký giả Thu Trang hay tân hoa hậu Việt Nam… Cô được phỏng vấn, được mời viết cảm tưởng… Báo chí và dư luận rầm rộ đến hơn nửa tháng trời mới giảm bớt.
Cô được gọi đùa là hoa hậu Lambretta do được tặng phần thưởng giá trị là chiếc xe Lambretta và nhiều mỹ phẩm giá trị cùng một chuyến du lịch Mỹ. Chiếc xe được hai cậu em trai thích quá leo lên chạy thử, suýt gây tai nạn nên phải gọi người bán gấp.
Sau những niềm vui ban đầu, bắt đầu cuộc sống bị xáo trộn, hết người này rồi người kia đến gặp mời đi giao lưu…, tiệm sách của gia đình lúc nào cũng đông nghẹt người đến không phải để mua sách mà để… coi hoa hậu. Rất nhiều họa sĩ mời cô làm mẫu để họ vẽ và dĩ nhiên không thể thiếu những người của giới điện ảnh mới manh nha ở Sài Gòn mời cô đóng phim.
Điện ảnh – vinh quang và nước mắt
Sau bộ phim đầu tay, năm 1957, Thu Trang được mời tham gia bộ phim thứ hai mang tên Lục Vân Tiên của đạo diễn Tống Ngọc Hạp mới từ Pháp về. Thực ra Tống Ngọc Hạp không học đạo diễn mà học âm nhạc, ông vừa là đạo diễn vừa sáng tác nhạc cho phim.
Phim được đề cử mang đi dự Liên hoan phim châu Á 1957, rồi mang đi giới thiệu qua nhiều quốc gia khác với mục đích mang chuông đi đánh xứ người. Toàn bộ hậu kỳ phải làm ở Nhật, thời gian ở nước ngoài khá lâu nên kinh phí không đủ, đoàn từ bốn người đã rút lại còn mỗi đạo diễn và Thu Trang. Lần đầu tiên Việt Nam mang phim dự liên hoan và giới thiệu, những cuộc ra mắt liên tục khắp nơi, Thu Trang và đạo diễn Hạp liên tục xuất hiện trên các tờ báo.
Khi một nam, một nữ còn trẻ gắn bó với nhau nơi xứ lạ bơ vơ thì điều gì ắt phải đến đã đến, Thu Trang đã có thai ngay tháng đầu tiên ở Nhật. Đây là một sai lầm kinh khủng vì Tống Ngọc Hạp đã có vợ và dư luận xã hội lúc bấy giờ không dễ gì tha thứ cho một sự việc như thế. Thu Trang kiên quyết giữ lại đứa con của mình và sẵn sàng chấp nhận tất cả búa rìu dư luận.
Mùa thu năm 1957, cả hai trở về Sài Gòn. Dù thai sắp đến ngày sinh nở nhưng một đám đông giận dữ đã đón họ ở sân bay đúng nghĩa của một scandal. Trong hồi ký của mình, Thu Trang đã mô tả lại chiếc valy chứa đồ sơ sinh của con trai bị xé nát; quần áo, nữ trang bị mất; hình ảnh, giấy tờ chỉ trong bóp tay mới còn. Nhà sản xuất người Ấn Độ tên Robert phải dẫn cô chạy lên xe riêng để thoát khỏi đám đông phẫn nộ.
Cuối năm đó, nhóm các nhà làm phim người Mỹ đến Việt Nam để dự định thực hiện bộ phim Người Mỹ trầm lặng dựa trên tiểu thuyết đang ăn khách lúc đó. Đạo diễn Mankiewicz cho người tìm Thu Trang cho vai diễn cô gái Việt trong phim nhưng cô từ chối gặp. Mặc dù nhiều người nói cô đã từ chối một cơ hội quý để tìm đường đến kinh đô kiện ảnh Mỹ nhưng Thu Trang không bận tâm. Điều cô cần là rời xa điện ảnh để sống cuộc đời bình an. Cô xin vào làm việc ở một công ty nước ngoài để tránh điều tiếng, con trai cô đặt tên là Tống Ngọc Vân Tiên để kỷ niệm tình yêu đầu tiên và sau này cô cũng chưa bao giờ trách móc đạo diễn Tống Ngọc Hạp bất cứ điều gì.
Tuy nhiên, cuộc sống lại không đi theo những gì Thu Trang nghĩ.
Hoa hậu đầu tiên lại là một… điệp báo viên
Sinh ra tại làng hoa Ngọc Hà, Hà Nội, trong một gia đình yêu nước và di cư vào Sài Gòn năm 1942, Thu Trang rất mến mộ luật sư Nguyễn Hữu Thọ khi ông luôn đứng ra bào chữa cho những người yêu nước chống Pháp. Cô tham gia phong trào Trần Văn Ơn và được Việt Minh móc nối đưa ra khu để tổ chức làm điệp báo nội thành do vẻ ngoài xinh đẹp, tiểu thư. Vào làm việc ở Phòng Thông tin Mỹ, ở môi trường này Thu Trang tham gia các buổi tiếp tân với các chính khách, sĩ quan và một số tướng lĩnh… để tìm thông tin.
Tuy nhiên, làm nhiệm vụ chưa được bao lâu, năm 1952 đường dây bị lộ. Thu Trang bị bắt đưa về bót Catina tra tâ’n dã man. Thậm chí sau này cô không bao giờ thích bóng đá chỉ vì một tên cảnh sát tra tấn vốn xuất thân là cầu thủ bóng đá.
Gần một năm bị giam trong Khám lớn, đến năm 1953, Thu Trang được đưa ra tòa án binh. Cô được chính luật sư Nguyễn Hữu Thọ đứng ra cãi cho trắng án. Ra tù, Thu Trang quyết định đi theo nghề báo bởi mọi người nhận thấy cô có khả năng viết rất tốt, thường xuyên viết thư giúp các đồng đội trong chiến khu.
Sau khi ra Luật 10/59, cảnh sát thường xuyên khám nhà cô, thậm chí khi cô lên Đà Lạt mở quán cà phê với bạn cũng bị bắt về Sài Gòn giam một tháng trời và cấm không cho rời khỏi Sài Gòn vì là người kháng chiến cũ.
Để tránh nguy hiểm cho bản thân, nhân được mời qua Pháp thực hiện một bộ phim, Thu Trang đã ở lại Paris. Tại đây cô đã lập gia đình với một nhà khoa học người Pháp, sau này trở thành giáo sư y khoa. Tại Pháp, Thu Trang đã theo học cao học, rồi tình yêu với lịch sử Việt Nam và những nhà yêu nước đã thúc đẩy cô làm luận án tiến sĩ sử học tại Đại học Paris về những hoạt động của Phan Chu Trinh tại Pháp.
Sau 1975, bà Thu Trang về Việt Nam thăm và nhận thấy ngành du lịch còn chưa phát triển đúng mức ở nhiều địa phương, bà trở lại Paris tìm học về nghiên cứu du lịch để góp ý phát triển du lịch Việt Nam và nhiều lần về nước giảng dạy cho các sinh viên về du lịch.
(Báo Pháp Luật Online)

DUYÊN PHẬN SO LE

“Kẻ xuôi người ngược.
Nhưng nếu quyết lòng, thì có khó khăn gì để gặp nhau, hở trời?!”
DUYÊN PHẬN SO LE
(Nguyễn Ngọc Tư)
.
Một bữa gió dầm dề, khách vắng teo, 13 nhân viên khu du lịch văn hóa So Le tổ chức nhậu nhẹt, xong rồi thi coi ai có cuộc đời buồn nhất. Mới biết, dì Chín nấu bếp hồi nào giờ chưa từng biết yêu ai, con Mỵ nghèo, toàn mặc đồ cũ của chị Hai, 18 tuổi mới vung vinh được bộ quần áo của chính mình.
Hường thì yêu thầm nhớ trộm ông thầy dạy toán… Xuyến kể sau cùng, bằng cái giọng hết sức điềm nhiên, cô nói 17 tuổi có yêu một người, yêu đến nỗi bỏ cha mẹ theo tình. 18 tuổi thằng nọ phụ phàng, bỏ cù bơ cù bất giữa chợ. Lúc ấy đã không còn đường về nhà nữa…
Mọi người rưng rưng bảo thôi, khỏi kể thêm khúc sau mày cũng xứng đáng là người có cuộc đời buồn nhất ở So Le này rồi. Rồi cả bọn lặng lẽ ngồi nghe gió thốc qua lòng, rúm ró nỗi cô đơn. Trời ơi, thêm một mùa gió đông nữa mà chưa người nào lấy được chồng. Tuyệt vọng như dì Chín nấu bếp đã đành, còn Mỵ, còn Lam, còn Hường… và cả Xuyến kia nữa, cô sắp qua khỏi thời con gái mất rồi.
Mà ngộ, chỉ Xuyến là không xao động gì hết, lúc gió về. Kể chuyện mình xong, cô đứng dậy, đóng hết các cửa sổ, lau sàn nhà, trải khăn lên bàn, xếp ghế cho ngay ngắn. Ngang qua phòng anh Năm, Xuyến vào coi có quần áo dơ không rồi gom ra sàn nước ngồi giặt, cằn nhằn anh sao để cổ áo thâm kim. Dửng dưng, bởi không còn gì để trông đợi, bởi Khởi đã thật sự không quay lại nữa rồi?
Hay bởi những mùa gió chẳng còn gì để lạ, Xuyến tới đây lúc khu du lịch mới hình thành, giám đốc Thụy hay bảo, Xuyến là bậc “khai quốc công thần” của So Le. Chân bước lên bờ, thấy vợ Thụy đang ẵm con ngơ ngác trước mênh mông hoang vắng, không sợ đã đành, đằng này, Xuyến mừng húm. Cụm nhà nghỉ lọt thỏm cuối bìa rừng. Biển đằng trước. Và gió lộng lồng trên đầu. Ở đây là cuối đất, xóm làng gần nhất cũng cách hai vạt rừng, sau lưng So Le chừng nửa giờ đồng hồ là trung tâm xã, thêm ba giờ để đến huyện, ra tỉnh mất nửa ngày. Tàu đò thường quăng lên khu du lịch những người khách xốc xếch, lử lả đường xa, họ cuống quýt ngắm rừng xanh ngời ngợi trên đầu, luýnh quýnh ngó những con thuyền dập dềnh thăm thẳm đằng phía biển. Nôn nả chạy ra mốc tọa độ chụp hình, hối nhà hàng dọn cơm ra. Vừa ăn vừa coi đồng hồ, tính xem thêm chén nữa thì có kịp chuyến đò trưa không. Vội vậy, nhưng vẻ thỏa mãn hiện lên trên nét mặt, vì chụp được cái hình ngay chỗ panô vẽ chữ mũi So Le tổ bố để về khoe với bạn bè, vì được móc cục đất khóc ồ ồ, ôi giời ơi, đất thiêng của ta ơi, đất thương đất nhớ ơi, sau đấy thì làm thơ.
Bọn Xuyến cố nín cười, thấy lòng vui, dù biết với những du khách này, chẳng thu lợi nhuận gì nhiều. Nhưng có họ cũng đỡ thèm người, đỡ thấy mình giống khỉ. Rồi khu du lịch được vực dậy, bắt đầu từ một nhà hàng thủy tạ ngoài bãi bồi, cụm panô tiểu cảnh, những con đường xi măng giả gỗ ngoằn ngoèo luồn sâu vào rừng… Mũi So Le ngỡ ngàng giụi mắt đón những du khách cười nói bạo liệt, đạp mũi canô lên bến. Họ ở lại lâu, ca hát tưng bừng…
Nhưng đời đám nhân viên phục vụ bỗng buồn thiu. Khách đến, khách say, tán tỉnh, hôn hít họ rồi về (thì ca hay, phục vụ chu đáo, nên khách thưởng chơi vậy mà). Người ở lại chua chát nghĩ, điệu này rồi sẽ khó lấy chồng, đáng ra đôi má này đôi tay này phải để cho người mình thương yêu ấp. Có ai yêu mình, tin mình, chịu cưới mình khi suốt ngày mình đưa mặt cho người ta hôn hít (và cả đáp lại người ta, nếu có yêu cầu). Bà con ở đây cười cợt, dè bỉu đã đành, tệ như mấy anh chàng thợ xây nhà thủy tạ ốm tong teo, đen nhẻm, vậy mà không thèm chọc ghẹo một lời. Không biết đã đành, thấu hiểu, yêu thương như Khởi một bữa còn đập đàn bỏ Xuyến mà đi.
Chuyện đó cũng đã lâu, nhắc lại, Xuyến cười, quên mất tiêu rồi (giống như quên cái nón, cái khăn, cây bàn chải đánh răng…). Chiều chiều, nó hay ra cái bến trước quán cà phê nhỏ của vợ chồng giám đốc Thụy, ngó xa theo con rạch loằn ngoằn, vắng ngắt. Như chờ đợi, như mong ngóng, như hy vọng… Nhưng có chờ đến tối chỉ chiếc đò máy chở bé Bi, con gái Thụy, tan trường về ghé lại. Xuyến lên nhà chơi với Bi (hú vía, may mà có con bé nhỏ teo xinh xẻo này). Xuyến nướng tôm cho Bi ăn, thắt mớ tóc xoăn mềm mại của Bi thành bím, Xuyến hỏi con bé bữa nay cô giáo dạy bài gì, rồi lớn nhỏ hai người vỗ tay hát nghêu ngao. Ai, nhìn thấy cảnh ấy cũng thương, Xuyến leo lẻo nói cười, thấy vậy mà không phải vậy.
Mọi người bảo nhau, lòng con nhỏ Xuyến vẫn còn đau. Một bữa thấy Xuyến vào phòng Khởi, thụp xuống vùi mặt vào chiếc áo anh bỏ lại. Một bữa nhìn trời mây nước mênh mông mà đôi mắt ráo hoảnh, trống trơ, nhìn mà không thấy gì hết. Một bữa thấy Xuyến tết tóc cho bé Bi, Xuyến rơi nước mắt.
Một bữa Xuyến bảo anh Năm Già đừng hát cái bài “Lòng dạ đàn bà”, “hồi đó anh Khởi hát hoài, em nghe mắc chán rồi”. Anh Năm vậy a, vậy à, mà trách mình vô ý dữ. 39 tuổi, sớm lấm láp bụi đời nên mặt anh Năm khằn, đen đúa, lưng hơi khom. Hôm tới đây anh vẫn còn là nhân viên hậu đài của đoàn ca múa nhạc. Hết mùa lưu diễn, bữa đó cả đoàn được thưởng một bữa nhậu tại mũi So Le. Ai cũng vui nên say quá chừng, say vùi dẫn cho đến khi một nhân viên của nhà hàng đập cây đàn vào bức tường trước mặt. Những sợi dây đứt bặt buốt nhức giữa tiếng gãy giòn, và trong những sững sờ, cồn cào một tiếng thở thảng thốt. Mắt mở trợn trạo, mặt đỏ bừng, Khởi lia tay vào bàn tiệc (như đang đếm gà, vịt), gằn giọng: “Cô nắm níu ở đây là vì thèm khát thứ người này sao, Xuyến?”, xong quay lưng đi một nước.
Xuyến tuyệt vọng ngó theo, rồi cô run rẩy mỉm cười, lẩy bẩy rót rượu cho khách, bảo uống đi mấy anh, không có chuyện gì đâu… Nhưng cuộc vui tới đó đã tàn mất. Khách xuống tàu, anh Năm Già còn đứng trên bến, anh bảo sau này chắc nhà hàng mình thiếu người, tôi ở lại để đàn cho cô hát nghen, cô Hai. Xuyến lắc đầu cười thê thiết: “Anh tính đền cho tôi à… có phải tại anh đâu mà…” nhưng anh Năm đã quả quyết xô mũi tàu ra.
Anh ở lại mũi So Le, làm con khỉ thứ 13, những con khỉ khác cứ hỏi nhau sao chuyện đi ở thằng cha này coi nhẹ hều vậy cà. Anh được phân cho một căn phòng ngó ra hành lang phía sau có nhiều dây phơi, một bữa đang lui cui dọn giường nghe Xuyến mừng rỡ, ngỡ ngàng kêu “Anh Khởi”. Anh quay lại, Xuyến thất vọng bưng mớ quần áo quay đi. Năm “Già” xin được chuyển phòng.
Mỗi chiều Xuyến ra bến chơi, anh cũng xách dao dọn cỏ, tỉa cây gần đó, anh nói láp giáp đủ chuyện dưới đất trên trời (như thể mình mà im lặng Xuyến sẽ khóc mất). Anh nhằn gió trên trời, thổi chi cho tội, nhằn ai phơi khô cá thòi lòi không đặng nắng để bốc mùi thúi ủm. Nhằn cả chuyện độ rày gạo cá lên giá quá chừng… (ủa, chuyện này mắc mớ gì đàn ông lo).
Có khi Xuyến hụ hợ vài câu, có khi cô chỉ mỉm cười. Ngoài chỗ nói nhiều ra (mà toàn nói chuyện khơi khơi), sao mà anh Năm “Già” giống Khởi kỳ lạ. Giống cả cái yêu lặng lẽ, lầm lì (như ông trời trả lại y chang). Đóng cái móc áo trong phòng Xuyến, thay bóng đèn, sửa chốt cửa, nấu tô cháo nóng để đầu giương lúc Xuyến say. Ngày ngày, anh Năm bắc một cái ghế ngoài bàn tiệc, phục vụ việc hát hò cho khách, uống đỡ giùm Xuyến vài ly rượu khi khách mời. Anh còn lấy xuồng chở Xuyến với bé Bi chơi dài trong rạch, hái trái ô rô.
Nhiều khi Bi ngọng nghịu nói cười, thấy thương không chịu được, Xuyến ôm ghì nó, bảo sao mà em mê con nít quá chừng à, anh Năm. Anh cười hỏi sao Xuyến không đi làm cô nuôi trẻ. Xuyến lặng người đi, vì vết thương cũ trong lòng nghe rịn máu.
Khởi cũng có lần hỏi Xuyến câu ấy. Đâu chỉ vậy, nhiều bữa nhìn Xuyến quằn quại vì bị mời rượu say mèm, anh lẳng lặng ra thị xã xin sẵn một chỗ làm rồi hỏi Xuyến có đi với anh không, Xuyến cười, trời đất, đi đâu anh. Khởi bảo, đi làm cô nuôi trẻ, bỏ mũi So Le. Xuyến bần thần một thoáng (nhìn đứa trẻ ấy có một mụn thịt trong vành tay, có một nốt ruồi son đỏ sau gáy, có cái rón to nhăn nhúm buồn cười như cái mặt người, cái rốn 21 ngày mới rụng… như Bi không?). Tần ngần, Xuyến bảo: “Mai mốt nghen anh, bây giờ công chuyện đang rối… Mấy đứa Nga, Hường mới vô làm, công việc chưa rành, khờ ịt, chỗ mình còn xây dựng tùm lum, chẳng ai coi sóc… Đó, bé Bi con anh Thụy bệnh đang nằm ngoài trạm xá hỏng biết chừng nào về…”.
Nhớ lại, nhiều lúc Xuyến cười, mấy lý do đó trớt quớt, chẳng ăn nhập gì với mình, hèn chi Khởi cười gằn, bỏ đi. Đáng lẽ phải nói như vầy, em thấy yêu mến, gắn bó mảnh đất này quá đi, anh à (nói theo kiểu thanh niên tình nguyện trả lời phỏng vấn trên truyền hình). Ở đây 3 năm rồi, bây giờ bỏ rừng, bỏ biển, bỏ cả những cơn gió đông cồn cào mắc dịch này thiệt không đành… Còn nữa nghen, bạn bè ở đây ai nấy đều tốt, vợ chồng giám đốc Thụy cũng thấy thương quá chừng, tóc sắp bạc màu mới kiếm được đứa con, chắc là hiếm muộn, chắc là chờ đợi, chắc là chữa trị rất tốn tiền. Em biết họ từ hồi họ còn ở chợ, trước nhà có một hàng điệp đỏ, mùa nắng lá rụng tả tơi, lá xếp dày, nằm lên đấy không sợ bụi đất…
Những lời hay ho đó, Xuyến học thuộc lòng, định nói vào cái ngày anh Năm mở lời biểu Xuyến theo anh. Một bữa hai người chơi thả tàu giấy dưới bãi với Bi, anh Năm nhìn Xuyến thật lâu, trìu mến nhìn chị em vung vinh thách nhau thuyền nào đi trước, cắn môi mấy cái; nhìn trước nhìn sau (như sắp truyền tin cho nhau giống trong phim Biệt động Sài Gòn), anh bảo: “Cô Xuyến mê con nít vậy, sinh cho tôi một đứa nghen”. Hôm đó trời đứng gió, Xuyến nghe con ong o e trên ngọn đước, nghe mình rỗng không, nghe tim nín thít (và bần thần tự hỏi, đứa trẻ mình sẽ sinh với anh có cái ngón chân út quẹo đơ, có những sợi lông măng dày mịt che cả bớt đen sau cổ như con bé Bi xinh xẻo này không). Xuyến cười lạt nhách, lấy tay phát nước đẩy chiếc tàu giấy đi, Xuyến bảo, em chưa tính tới anh à. Anh Năm cũng cười, nhìn con tàu trắng trôi xa, từ từ mù mịt, bẽ bàng nghĩ, dường như Xuyến không quên được một người.
Sáng sau, anh Năm từ giã mũi So Le. Mọi người kêu trời, sao cha nội này đi ở đơn giản vậy kìa. Tiễn anh vòng vèo qua những con đường nhỏ trong rừng, ai cũng nghe tiếc, nghe đau, nói gièm với nhau (cốt để anh Năm nghe thấy), khu du lịch mình bộ khai trương ngay ngày xấu, hồi đó tới giờ không tổ chức được một đám cưới nào. Xuyến đi sau cuối, chân bời rời bước, anh Năm tần ngần hỏi: “Cô Xuyến có chuyện gì nói với tôi không?”. Xuyến ngơ ngác một lát rồi cười, dạ, anh đi mạnh giỏi.
Và tàu mang người đi, thăm thẳm như thể nó đã nuốt chửng anh rồi. Mọi người hỏi Xuyến có sao không, Xuyến bảo, mai mốt cũng quên (như quên đôi dép, đôi giày… Và như quên Khởi). Rồi Xuyến đi gom khăn trải bàn, cuốn tất cả các bức màn, đem giặt. Nhưng vừa rảnh tay, Xuyến đã nghe buồn anh cõng buồn em đi lê thê trong dạ, cô dựa lưng vào tường, những vuông vải phơi trên đầu cồn cào, oằn oại, tơi tả gió. Xuyến ngồi ở đó, ngó nắng, bỗng thèm có con bé Bi ở cạnh, để khóc với nó chơi, để đi qua niềm đau đang như bão bời.
Để thấy đời có buồn thêm chút đỉnh, cũng không sao. Như thế này thì nhằm nhò gì cái hồi Xuyến xin làm bồi bàn cho một quán ăn trong thị xã, để được đi lại (chầm chậm) trên khúc đường gần đó, nhìn Bi bò lúm cúm trong nhà. Bi biết đi, mẹ dắt ra sân, Xuyến giả đò lại gần khen, em bé dễ thương quá hen, mà không dám xiết chặt Bi vào lòng, áp mặt mình lên đôi má phúng phính lông tơ, vì sợ mình sẽ khóc. Bữa kia mới buồn ác, thấy Bi lon ton chơi mình ngoài sân, bỗng không kềm được, Xuyến xốc Bi lên chạy một đoạn rồi thất thần dừng sững lại, kêu lên hai tiếng trời ơi, mình làm khổ nó rồi, mình nghèo như vầy… Xuyến đưa Bi quay lai. Nhưng khuya, ngủ không được, Xuyến lọ mọ lại khoảng sân đầy lá trước nhà Bi, rờ rẫm chỗ đất cạnh góc điệp già (chỗ đó, có một sáng đôi vợ chồng nọ mở cửa ra, thấy một đứa bé đang nằm say ngủ).
Mấy chuyện này may mà Xuyến giấu chặt trong lòng, phải kể ra chắc là buồn vô địch cấp huyện chứ sá gì cái mũi So Le nhỏ nhoi này.
(Ảnh sưu tầm)

Lost Mine Trail

Length: 4.8mi (Round trip)
Elevation gain: 1131 ft

We hiked half way to the peak and caught this astonishing view of the mountains rolled up in the clouds. YES, it was a cloudy day and temperature was perfect for hiking (70F, it’s very rare for summer in TEXAS).

If you decide to check this national park out, make sure to bring documents to prove your immigration status in US. Even though it’s 30 miles deep in Texas from the border, there are checkpoints still.