Đảo hoa hồng: một câu chuyện Ý có thật và đáng kinh ngạc

Nguyen Tieu Quoc Dat

Phải mấy năm rồi mới xem phim của Ý và lại đúng phim hay: Đảo Hoa hồng. Bộ phim dựa trên sự kiện có thật và từng gây chấn động nước Ý vào năm 1968 khi một anh kỹ sư cơ khí Giorgio Rosa (bố anh này làm cho Ducati) quyết định tạo ra đất nước cho riêng mình. Cùng với bạn bè Giorgio đã xây được 1 hòn đảo ở vùng biền quốc tế (các lãnh hải Ý 500m, thời đó lãnh hải chỉ cách đất liền 10km).

The Incredible Story of Rose Island

Là một kỹ sư nên Giorgio đã tìm ra giải pháp xây đảo với giá siêu rẻ. Nếu một giàn khoan tốn hàng trăm triệu đô thì anh này ủ mưu 10 năm (58-67) để xây đảo (trong phim thì cảm giác như vài tuần).

Cast of The Incredible Story of Rose Island

Và cuối cùng Giorgio đã có một quốc gia riêng, tự tuyên bố mình là tổng thống, tự xây nội các, có cờ, con tem và ngôn ngữ riêng. Hòn đào này suýt được LHQ thừa nhận… cho đến khi hải quân Ý đến cưỡng chế phá bỏ.

Rose Island

Bộ phim lãng mạn hoá nhiều chi tiết lịch sử nhưng được làm rất đáng yêu, hài hước đặc biệt diễu nhại quan chức Ý thời đó. Khi xem làm mình nhớ đến tinh thần của Cuộc sống tương đẹp, Rạp phim thiên đường và nhiều phim Ý đã xem mà quên mất tên.

Giorgio Rosa and his wife Gabriella

Sau này vì vụ Đảo hoa hồng mà luật biển cũng thay đổi, vùng lãnh hải được tăng lên 20km để làm nản lòng những gã điên đi lập quốc.

Though badly damaged, Rose Island remained standing until 1969. (Image courtesy of Defacto Borders.)

Phim có trên Netflix

Bào toán xây đảo giá rẻ của https://www.engineering.com/story/rose-island-the-building-of-a-utopia

Dữ kiện ls: https://www.wantedinrome.com/news/rose-island-a-true-and-incredible-italian-story.html

Cuộc sống của dân Bắc Âu trong ‘Thứ Bảy Nhỏ’ hàng tuần

Khi gió Bắc Cực nổi lên thổi tung tuyết lơ lửng, công việc của Harpo Adolfsson được cắt ngắn lại.

Adolfsson, thợ vận hành máy móc 63 tuổi tại khách sạn băng nổi tiếng ở Jukkasjärvi, miền bắc Thụy Điển, dọn sạch những ụ tuyết bột trên các con đường và lối đi.

Vào những ngày gió đặc biệt lớn, ông phải làm việc tới 12 giờ, từ 4h sáng. “Làm việc với máy móc, anh cần phải tỉnh táo trong mọi lúc, do đó có thể thật sự mệt mỏi,” ông cho biết. “Đôi khi, phải chờ đợi mỏi mòn cho đến dịp nghỉ cuối tuần.”

Xả hơi giữa tuần

Bốn năm trước, Adolfsson và một vài đồng nghiệp bắt đầu gặp nhau vào tối thứ Tư để chia nhỏ tuần làm việc.

Họ uống bia Guinness bên ánh nến, và thay phiên nấu ăn tại nhà của nhau. Đồng nghiệp Đan Mạch của họ đem đến món smørrebrød, trong khi Adolfsson thích làm hamburger và thịt tuần lộc tại nhà.

“Bạn không bao giờ biết chúng tôi sẽ ăn gì,” ông nói. “Đôi khi là món gì đó chiên xào, hay cá hồi. Đôi khi đó là bữa ăn chuẩn mực, với ba món.”

Adolfsson nói các buổi gặp gỡ vào thứ Tư với đầy đồ ăn ngon và trò chuyện sôi động đã giúp ông giữ tinh thần lạc quan, bằng cách lúc nào cũng để cho mình mong đợi cái gì đó – đặc biệt là vào mùa đông khi trời tối tới 20 giờ mỗi ngày. “Điều đó giúp tôi vui hơn vì tôi biết nó sẽ xảy ra và mọi thứ sẽ tốt đẹp,” ông nói.

Các cuộc tụ họp của Adolfsson là ví dụ về việc thực hành ‘Thứ Bảy Nhỏ’, tức lillördag.

Đó là truyền thống văn hóa Bắc Âu, trong đó thứ Tư được xem là cơ hội cho các buổi vui chơi nhỏ kiểu cuối tuần.

Theo ông Rickard Grassman, trưởng khoa quản lý và giảng viên cao cấp tại Đại học Stockholm, cách diễn tả này xuất phát từ việc người hầu và nô bộc làm việc vào các ngày thứ Bảy và thay vào đó có một ngày nghỉ trong tuần.

Trong lịch sử, kể từ đó nó đã được áp dụng như một kỳ nghỉ nhỏ vào giữa tuần khi mọi người cần thời gian để giải tỏa năng lượng.

Vì đại dịch đã làm mờ ranh giới giữa ngày làm việc và cuối tuần, mượn truyền thống Bắc Âu này có thể là một cách để sắp xếp tuần lễ, và thậm chí đưa một chút vui chơi và sự nhẹ nhõm vào sự tẻ nhạt của một ngày nữa phải ở nhà.

Điều này đặc biệt được hoan nghênh trong thời điểm ưu tiên sức khỏe và hạnh phúc là quan trọng hơn bao giờ hết, Grassman nói.

“Việc có cái nhìn cân đo hơn, vừa phải hơn về sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống sẽ tạo ra cảm giác ổn định hơn về ý nghĩa của hạnh phúc,” ông nói. Có thêm thời gian để cho mình tận hưởng những buổi ‘Thứ Bảy Nhỏ’ là khởi đầu tốt để nhìn về phía trước với sự lạc quan.

Việc mong chờ sắp đến ‘Thứ Bảy Nhỏ’ khiến Harpo Adolfsson (bìa phải) và bạn bè ông cảm thấy hứng thú
Haddock & Elisabeth Photography
Một chút tận hưởng có thể tạo tâm lý nhẹ nhõm vô cùng lớn

Không phải người Thụy Điển nào cũng tham gia lillördag, nhưng cách làm này có tiếng vang với một số người, như Adolfsson, vốn thấy rằng xả hơi giữa tuần giúp họ nâng cao tinh thần.

Và mặc dù về mặt kỹ thuật bất kỳ ngày nào trong tuần nào cũng có thể làlillördag (tương tự, ở Na Uy và Đan Mạch, Thứ Bảy Nhỏ được gọi là lille lørdag), nó diễn ra phổ biến nhất vào ngày thứ Tư.

Sinh viên đại học có thể tiệc tùng hết mình tại các sự kiện đặc biệt ở các quán rượu, nhưng Thứ Bảy Nhỏ cũng có thể là buổi tối yên tĩnh với gia đình và bạn bè hoặc bất kỳ cái cớ nào để nuông chiều bản thân.

Trên Instagram, hàng chục ngàn bài đăng với hashtag #lillördag cho thấy sự tận hưởng từ hàu, rượu sâm banh cho đến đốt lửa trại.

Lillördag tương phản chan chát với khái niệm ‘Ngày Giữa Tuần’ ở Bắc Mỹ, xem thứ Tư như là chỉ xếp sau thứ Hai với tư cách ngày tệ nhất trong tuần; bạn sắp đi hết tuần, nhưng vẫn còn lâu mới đến cuối tuần.

Theo Constanze Leineweber, phó giáo sư tại Viện Nghiên cứu Căng thẳng thuộc Đại học Stockholm, việc xem thứ Tư như là Thứ Bảy Nhỏ có thể làm cho tuần làm việc dễ chịu hơn – nhất là bây giờ khi những ngày chúng ta cách ly không biết khi nào kết thúc.

“Một thứ gì đó như Thứ Bảy Nhỏ có thể là cách làm khá khôn ngoan trong việc giúp mọi người tạo ra cấu trúc và sự viên mãn ngay cả khi họ mất phương hướng,” bà nói thêm. Bạn có thể trở nên có động lực hướng đến các mục tiêu nhỏ hơn trong tuần mà bạn có thể đạt được và được đền đáp… mà không hoàn toàn mất đi bối cảnh và cấu trúc chúng ta cần.”

‘Thứ Bảy Nhỏ là để giúp giữ tỉnh táo’

Trong khi Thụy Điển đứng đầu về Chỉ số Bình đẳng Giới của EU vào năm 2020, phụ nữ vẫn có nguy cơ cao hơn bị suy kiệt cảm xúc do mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống, bà Leineweber, nghiên cứu về xung đột giữa gia đình và công việc ở các nước Bắc Âu, cho biết.

Nghiên cứu của bà cho thấy phụ nữ ít có khả năng hơn nam giới để sử dụng thời gian ngoài giờ làm việc để thư giãn, thay vào đó tập trung vào nhu cầu việc nhà và gia đình.

Đối với Anitha Clemence ở Stockholm, một bà mẹ hai con và Ann Söderlund, một bà mẹ năm con, việc thực hành tự chăm sóc, tức lillördag, đã trở nên quan trọng hơn đối với cuộc sống của họ trong thời Covid-19.

Clemence cho phép con ăn những món tráng miệng như bánh sô cô la hoặc món yêu thích của Thụy Điển là kẹo các loại tự chọn, và thoa son môi để gặp gỡ bạn bè qua Zoom. Söderlund và chồng thì đặt thức ăn cho mấy đứa con trai của họ từ 4 đến 18 tuổi.

Clemence (phải) và Söderlund (trái) đã làm một chương trình podcast rất được ưa chuộng chuyên nói về Thứ Bảy Nhỏ
Anitha Clemence, Ann Söderlund

“Khi lớn lên, mỗi ngày chúng tôi đều thực hiện lillördag vì cha tôi là nhà báo, và chúng tôi di chuyển và đi du lịch rất nhiều. Nó ở trong máu của tôi,” Söderlund, nữ diễn viên và nhà văn Thụy Điển giống như người bạn Clemence của cô, giải thích.

Sáu năm trước, truyền thống này đã tạo cảm hứng cho hai người bạn này khởi động podcast gọi là Lillelördag, mà họ tung ra vào thứ Tư hàng tuần.

Họ nói tới nói lui về những vấn đề cấm kỵ về các mối quan hệ, làm mẹ và lối sống, tách ra để tự lập và sống theo phương châm của họ, “Không có gì là cấm kỵ vào Thứ Bảy Nhỏ.”

Chương trình của Clemence và Söderlund đã có được lượng theo dõi lớn mà chủ yếu là nữ giới, và Lillelördag là một trong 50 podcast hàng đầu của Thụy Điển.

Theo Clemence, hai người đồng dẫn chương trình đã xúc động khi nghe podcast này đóng vai trò quan trọng như thế nào trong cuộc sống của thính giả trong đại dịch, đem đến cho họ bản nhạc vui nhộn khi họ đi dạo ngoài trời hay vào giờ nghỉ ăn trưa, khuấy động cảm giác Thứ Bảy Nhỏ.

“Thứ Bảy Nhỏ là để giữ tỉnh táo,” Clemence cười nói. “Chúng tôi luôn khuyến khích thính giả chiều chuộng bản thân thêm nữa vào Thứ Bảy Nhỏ chỉ vì… nó có ích rất nhiều.”

Đó là những thứ nhỏ nhặt

Với tình trạng đại dịch không thấy hồi kết rõ ràng – và kế đến tuần làm việc kéo dài bất tận của chúng ta cũng không thấy hồi kết – thì việc vay mượn cách làm lillördag của Bắc Âu có thể giúp chúng ta mong đợi cái gì đó mỗi tuần như một cách phá vỡ sự đơn điệu một cách dễ chịu.

Söderlund, vốn bản thân cũng nhiễm Covid-19, nói đại dịch đã giúp cô nhớ rằng những thú vui đơn giản của cuộc sống có thể quan trọng như thế nào – và làm thế nào trong thời gian thử thách, chính những điều nhỏ nhặt lại có thể tạo ra tất cả khác biệt.

“Mỗi ngày tôi bày ra ít nhất 21 dĩa, dao và đĩa cho bữa tối, chúng ta đang học tập và làm việc tại nhà,” cô nói, thở ra. “Trong thời gian đại dịch, lillördag thậm chí còn trở nên quan trọng hơn đối với tôi. Nó giống như là ‘giờ đây tôi có thể thả lỏng và uống một ly vang’.”

Bài tiếng Anh đã đăng trên BBC WorkLife.

Bé Ký, nữ họa sĩ nổi danh trong hội họa Việt Nam, qua đời

NGƯỜI VIỆT

WESTMINSTER, California (NV) – Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với hội họa của người Việt Nam, qua đời vào chiều Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại nhà ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Họa sĩ Bé Ký lúc còn trẻ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Tin này được ông Hồ Thành Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ thành công với nhiều tác phẩm đầy tình mẹ con.”

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

Họa sĩ Bé Ký tên thật là Nguyễn Thị Bé, sinh năm 1938 ở Hải Dương. Bà mồ côi cha mẹ từ lúc 8 tuổi. Vì vậy, ông Cung cho rằng điều đó ảnh hưởng nhiều tác phẩm của bà, và tạo ra những bức tranh đầy tình mẹ con.

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

Theo ông, bà sống với cha mẹ nuôi khi vào miền Nam, sau đó tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng họ đã qua đời.

Về phần hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dạy.

Họa sĩ Bé Ký lúc còn trẻ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Từ năm 1957 đến 1975, họa sĩ Bé Ký có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn.

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại Học Viện Smithsonian.

Họa sĩ Nguyên Khai, người cùng thời với họa sĩ Bé Ký, cho hay sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với hội họa của người Việt Nam vì bà có rất nhiều cống hiến.

Ông nói với nhật báo Người Việt: “Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa này, và có nét vẽ theo đường lối mới rất đặc biệt. Bà tự học vẽ từ nhỏ và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.”

Theo ông, những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng và đầy tinh thần dân tộc, thể hiện được nhiều mặt của xã hội.

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

“Tranh của bà có đề tài rất xã hội vì vẽ người bán hàng ngoài đường, hớt tóc, ráy tai, nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà được báo chí Pháp ca tụng rất nhiều,” ông chia sẻ.

Cuối cùng, họa sĩ Nguyên Khai nói: “Sự ra đi của bà là mất mát lớn của hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ vì bà là đại diện cho họ trong nhiều chục năm.” (Thiện Lê) [qd]

Secret beach – Oregon

Secret beach – Oregon

Một điểm khá đẹp để tham quan , chụp ảnh nếu có dịp ghé Oregon , đường dốc đứng tầm 10 phút đi bộ từ parking

Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo
Secret beach – Oregon
Photo : Nguyen Vo

Hawaii

Hawaii
Photo by : Nang Tran

Hawaii nổi tiếng và trở thành 1 tiểu bang của Hoa Kỳ 1 phần vì vị trí chiến lược, 1 phần có lẽ nó có 1 khí hậu và cảnh vật nó rất khác biệt, là 1 điểm nhấn giữa 1 đất nước ôn đới. Thảm thực vật đậm chất nhiệt đới của Hawaii làm nhiều người chọn nơi đây để nghỉ dưỡng thay vì phải bay nữa vòng trái đất về châu á. Đây chỉ là nhận xét cá nhân của mình.

Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran
Hawaii
Photo by : Nang Tran

DÌ TÁM…VÀ BÁNH ÍT LÁ GAI

Thụy Mân

Mẹ luôn luôn là người dạy dỗ và hy sinh cho chúng ta với một tình yêu không điều kiện, điều đó đã hẳn như vậy.  Nhưng trong chúng ta, nhiều người khi lớn lên có cái may mắn được dạy dỗ bởi hơn một người mẹ, trong số đó có tôi.  

Những ngày sau khi cuộc chiến chấm dứt, sau khi  “chạy giặc” vô tận đến đảo Phú Quốc rồi trở lại Saigon, cuối cùng chúng tôi cũng về lại quê cũ.  Những chính sách khắc nghiệt với trí thức miền Nam lúc ấy của chính phủ cộng sản đã đẩy gia đình tôi phải về nương náu nơi quê ngoại.  Ngoại đã mất cách đó ba năm, nhưng ở ngôi nhà của ngoại còn lại hai người chị của mẹ: dì Sáu góa chồng từ lúc trẻ (dì Sáu thương cháu và độc đáo theo kiểu của dì, có dịp tôi sẽ kể ở một lần khác), và một người chưa bao giờ lấy chồng là dì Tám. 

Photo : Thuy Man

Gia đình mẹ tôi đông người nhưng khi bà ngoại mất thì chỉ còn lại dì Tám với mẹ tôi ở lại với ông ngoại.  Mẹ tôi là con út, lúc đó chỉ mới 12 tuổi, dì Tám 22. Ông ngoại tục huyền rất sớm sau đó, và ít lâu sau thì dì Tám quyết định rời xa nhà đi làm cho một hãng trà ở Bàu Cạn. Sau khi dành dụm được một số vốn, dì trở về quê. Mẹ sinh tôi và đứa em kế ở nhà ngoại, dì Tám một tay săn sóc mấy mẹ con.  Dì tôi mạnh mẽ, tự lập. Thời đại bây giờ mà một người đàn bà suy nghĩ và làm được như dì đã là khó, huống gì vào những năm 50’s, 60’s của thế kỷ trước. 

Photo : Thuy Man

Dì bị điếc bẩm sinh. Tự lo cho mình được, và có lẽ cũng mang chút mặc cảm về sự khiếm khuyết của mình, dì quyết định ở vậy, không có gia đình. Sau khi ông ngoại mất, nhà từ đường lâm vào tình cảnh không có con trai ở gần để chăm nom, dì đã phải đưa vai gánh vác việc đó.  Mỗi năm ngoài một lễ Tế hiệp lớn để tảo mộ cho hàng mấy chục ngôi mộ từ đời ông cao trở xuống, có hàng trăm con cháu tề tựu về, còn có khoảng gần 20 cái giỗ lớn nhỏ rải rác trong năm, dì Tám một mình cáng đáng.  Khi chúng tôi về sống ở đó, sự có mặt của gia đình tôi chỉ là cho nhà đỡ quạnh hiu, chứ thật sự chúng tôi là gánh nặng hơn là đỡ đần được cho dì.  Cả nhà chỉ có ba tôi là một người đàn ông duy nhất, nếu không kể đến thằng em trai nhỏ xíu của tôi, còn lại toàn là đàn bà và một đám con nít lau chau rách việc. 

Photo : Thuy Man

Dì Tám có tư chất thông minh.  Do chiến tranh và do thời xưa người ta không thấy cần thiết phải cho con gái đi học, dì đã không được học quá bậc tiểu học. Tuy vậy nhiều lần dì làm tôi kinh ngạc với tài tính nhẩm của dì, với trí nhớ sắc sảo khi dì đọc những đoạn dài đến mấy trang trong truyện Kiều, hay trong Lục Vân Tiên, những bài học thuộc lòng dì nghe lóm được.  Dì là cả một kho tàng ca dao tục ngữ. Tôi tiếc lúc đó đã không ghi lại được những câu hò, câu đối mà dì đã nhớ được từ những người thanh niên thời đó trao đổi với nhau lúc gặt mướn, đập lúa, và giã gạo ở sân nhà ngoại.

Sống qua thời “Kháng Chiến Chín Năm”, ông ngoại sém chút nữa bị đưa ra đấu tố với tội địa chủ, dì ghét cộng sản, hiểu họ, và nhìn họ thấu suốt đến mục đích của từng chính sách họ đưa ra. Sau này khi nghe nhiều người được học cao, có kiến thức nhưng lại bào chữa và ủng hộ cộng sản thì tôi hay nghĩ thầm :” Sự suy xét, phán đoán của họ không bằng một góc của dì Tám!” Lúc ở với dì tôi còn nhỏ, thích ca hát và tôi ca hát luôn miệng, mà những bài hát lúc trước 75 tôi hay hát đã bị cấm rồi, nên tôi có gì hát nấy.  Tôi hát những bài họ dạy tôi ở trường, ở những cuộc họp Đội (Đội Thiếu Niên Tiền Phong Hồ Chí Minh). Nghe tôi hát, dì nguýt dài: “Cái ngữ mà “nấu cơm cũng hát, rửa bát cũng hò” rồi nữa sẽ đem cha mẹ ra đấu tố đó, có biết không?” Tôi chỉ cười, không giận dì, tôi hiểu nếu ở vào địa vị dì, tôi cũng sợ con cháu tôi bị tẩy não vậy.  Tôi vẫn còn nhớ trước năm 75, những đoạn kinh hoàng trong phim ” Chúng Tôi Muốn Sống” năm nào cũng được chiếu vào ngày 20 tháng 7 (ngày đất nước chia đôi theo Hiệp định Geneva) mỗi năm. 

Dì ngăn nắp, sạch sẽ, làm việc luôn tay, và đặc biệt rất kỹ tính: Một cái gáo dừa để trên nắp vò cũng phải được đặt ngay ngắn; sáng sớm nào mọi vò, lu nước trong nhà đều được chà rửa, thay nước mới; sàn gạch xung quanh giếng lúc nào cũng phải sạch trơn không chút rong rêu; nồi niêu soong chảo nấu củi lọ nghẹ đen thui, nhưng mỗi khi nấu xong đều phải được chà rửa sạch sẽ.  Ít khi nào tôi được dì khen, nhưng một điều không thể phủ nhận, dì là một huấn luyện viên tuyệt vời: một đứa vụng về đụng đâu đổ bể đó như tôi hồi ấy mà giờ còn làm được việc thì mọi người đủ hiểu. 

Nhà có nhiều ngày giỗ trong năm, và mỗi cái giỗ phải được chuẩn bị từ vài ngày, có khi cả tuần trước đó. Phải có các loại chả: chả quế, chả lụa, chả mực, chả cua, chả trứng và các loại bánh: bánh ít, bánh thuẫn, bánh bò, bánh in, bánh nổ, bánh tai yến,  bánh hạt sen… Ruộng đất đã bị tịch thu gần hết, họ hàng không ai mong đợi nhiều ở nhà từ đường, sức lo giỗ quải được đến đâu hay đến đó, nhưng dì tôi, vốn tính cầu toàn, ít khi để những tiêu chuẩn cũ bị tuột dốc.  Một phần lợi tức thu nhập được từ hoa trái trong khu vườn rất rộng của ngoại, một phần dì tôi nuôi heo, một phần nữa dì rất tiết kiệm, vén khéo, dì vẫn cố giữ nếp cũ, ít nhất là chưa một cái giỗ nào, ngay cả giỗ nhỏ, tôi thấy thiếu bánh ít. 

Lúc tôi học lớp Bảy, một bữa dì nói với tôi: “Mai này dì chỉ cho con làm bánh ít nghe!” Tôi nhanh miệng: ” Ủa mình đâu có ngày giỗ nào sắp đến đâu dì?” “Mình làm bánh ít ăn chơi thôi, không phải giỗ! ” dì nói.  Tôi ngạc nhiên không ít, vì thời ấy “làm bánh ít ăn chơi” là điều xa xỉ.  Không phải vì lá chuối, không phải vì đậu xanh, hay dừa lúc nào nhà cũng sẵn có, mà vì nếp và đường là hai món rất quý,  không thể xài hoang phí được.

Photo : Thuy Man

Hôm sau, thấy dì bày biện ra thì tôi hiểu ngay: đây chỉ vì dì muốn dạy cho tôi học gói bánh ít thôi: đậu xanh được dì thay bằng đậu đen không quý bằng, và nếp được thay bằng bột mì (lấy từ củ mì cassava).  Dì bảo tôi lớn rồi phải học gói bánh (một trong những phần học ăn, học nói, học gói, học mở). Công việc chuẩn bị cũng tương tự như làm bánh ít thật, nhưng nhân thay vì là nhân ngọt,  dì tôi xào đậu đen – đã được nấu chín và quết xong – với dầu hành, rồi nêm nếm cho vừa ăn như nhân mặn. Tuy bánh ít mì này khác xa bánh ít làm bằng bột nếp, nhân dừa và đậu xanh đúng kiểu bánh ít lá gai Bình Định, dì vẫn muốn tôi tập gói nó với hình khối pyramid thật sắc sảo, không xếp lá trước, nhưng vẫn gói được chuông chính, y như là bánh ít thật!  

Tôi ra đi, vẫn nhớ cách làm bánh ít lá gai, vẫn có một chòm lá gai sau nhà, lần nào làm bánh ít tôi cũng nhớ đến dì Tám, nhưng giờ những standards “công dung ngôn hạnh”, cho giá trị của một người phụ nữ trong xã hội đã khác đi nhiều, chính tôi cũng không muốn con cháu mình phải ràng buộc với những điều đó nếu chúng không thích thật sự. Tôi không còn làm bánh ít thường xuyên nữa, cho nên cái bánh ít tôi gói giờ này còn thua xa mấy cái bánh ngày ấy còn vụng về được dì chỉ từng chút một, giờ giá dì có nhìn thấy chắc sẽ lắc đầu thất vọng. 

Nhưng mà dì Tám không còn thấy được nữa, dì qua đời mới đây mà cũng đã mấy năm rồi!

Bài và ảnh : Thụy Mân

Natural bridge – Samuel H Boardman – Oregon

Natural bridge – Samuel H Boardman – Oregon
Samuel H. Boardman State Scenic Corridor.
Photo : Nguyen Vo
Samuel H. Boardman State Scenic Corridor.
Photo : Nguyen Vo
Samuel H. Boardman State Scenic Corridor.
Photo : Nguyen Vo
Samuel H. Boardman State Scenic Corridor.
Photo : Nguyen Vo
Samuel H. Boardman State Scenic Corridor.
Photo : Nguyen Vo

Dân Đức bán đồ.

Thanh Hieu Bui

Một người đàn bà đến chỗ công ty chúng tôi, bà khoảng 70 tuổi. Bà nói có ít đồ muốn bán đang để trong xe. Chúng tôi ra xem, thấy ngoài xe là cậu con trai của bà chừng 40 tuổi. Cậu hăng hái mở cốp xe khuân xuống một số đồng hồ để bàn và tranh.

Bà gìa nói.

– Những cái này là của bố tôi, ông rất quý chúng, mong các ngàì giữ cẩn thận.

Ông chủ của tôi cười nói với tôi.

– Bọn tao mua rồi bán chứ giữ cái gì.

Khi hai người bọn họ ra về, tôi và ông chủ có cuộc tranh luận nhỏ. Tôi nói muốn để lại những thứ này , khi đợt tới xây thêm căn phòng mới, chúng ta sẽ bày nó ở đó.

Ông chủ của tôi bảo cứ bán đi, rồi lại mua được cái khác, lúc nào xây xong văn phòng mới thì lại có cái khác, lo gì.

Tôi hỏi bán giá bao nhiêu, rồi mở ngăn kéo bàn của mình lấy tiền trả cho công ty.

Nhưng rồi có người khách quen đã mua rất nhiều hàng, họ thích những chiếc đồng hồ đó. Ông chủ lại nói tôi bán đi, tôi bị một bên là khách hàng lớn thân thiết, một bên ông chủ, một bên là văn phòng chật, chỗ mới chưa xây xong. Trong giây phút của nhiều chi phối, tôi bán những món đồ đó đi.

Làm cái nghề này thật khó xử, có những thứ mình không muốn bán. Nhưng làm nghề kinh doanh, mua vào rồi phải bán đi. Nếu cứ để lại thì chẳng mấy chốc hết vốn và không còn chỗ để. Chính vì thế tôi hối thúc xây thêm căn phòng mới rộng 120 mét vuông và trữ một số tiền, để gặp những món đồ mình không muốn bán thì có thể giữ lại. Tuy nhiên không phải mình có tiền, mình mua đúng với giá công ty bán ra, mình muốn giữ lại cũng khó xử cho mọi người.

Cùng lắm là mình chỉ nại cớ giữ lại để trưng bày, khi có cái khác giống thế thì bán đi.

Nước Đức vẫn trong vòng phong toả chống dịch. Nhiều người về hưu, lương hưu thấp, họ đi làm thêm việc tạp vụ. Cơn dịch đã khiến nhiều nhà hàng, khách sạn, cơ sở kinh doanh đóng cửa. Khiến nhiều người trong số có thu nhập kém ấy phải bán những món đồ mà họ cảm thấy có giá, nhưng không cần thiết cho  cuộc sống. Công ty chúng tôi có hai người lái xe đi mua hàng. Tôi không muốn đi cùng họ, tôi sợ nhìn thấy cảnh chủ nhà họ quyến luyến hay họ nói gì đó về kỷ niệm với những món hàng họ bán đi.

Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nhà tôi đã bán đi rất nhiều đồ đạc. Đến cuối những năm 90, trở về nhà với hai bàn tay trắng và dấu ấn của một tuổi thanh niên đầy bão tố. Hàng đêm, tôi nhìn căn nhà của mình, nhớ về một thời nó đã đầy ắp những thứ quý giá của một thời, như đồng hồ Odo, xe đạp Pơ Gio, máy khâu Singer, quạt Mareli, giàn Akai, tivi Sanyo cửa lùa chân đứng, sập gụ, tủ chè và bộ bàn ghế gỗ gụ và tranh….

Tôi nhớ về con Lu, lúc nó bị bán đi, người ta thòng lọng vào cổ nó, nó tru lên nhìn tôi, nước mắt nó ứa ra. Thực sự đến giờ nghĩ đến con Lu, tôi vẫn chảy nước mắt, kể cả lúc đang viết những dòng này. Không phải chỉ vài lần, gần 40 năm rồi, từ khi nhà tôi bán nó đi cho người ta làm thịt, năm nào cũng có lúc tôi nhớ đến nó và chảy nước mắt.

Bởi thế tôi rất sợ lúc đến nhà người dân mua trực tiếp đồ, tôi sợ cảnh cò kè mặc cả ép giá món đồ kỷ niệm của họ, trong hoàn cảnh họ khó khăn phải bán đi với tâm trạng họ đầy day dứt. Trái lại tôi đầy khoá trí khi mặc cả với những người buôn thu gom đồ từ các nơi. Tất cả những lần tôi mua lại của những tay gom hàng sừng sỏ, tôi đều có lời. Nhưng hai lần tôi mua của người dân mang đến bán, cả hai lần đều lỗ nặng. Nguyên nhân tôi bị chi phối vì không muốn nhìn thấy cảnh luyến tiếc của người bán, tôi trả giá nhanh để chấm dứt cuộc mua bán.

Nhiều người Đức nghèo hơn chúng ta tưởng, tất nhiên có trợ cấp xã hội về nhà, bệnh tật và thực phẩm để không ai quá khổ. Nhưng nếu mua bao thuốc, chai bia hoặc muốn liên hoan một bữa ra trò nhân ngày sinh nhật hoặc ngày cưới, đó là xa xỉ với họ. Có một bà mang bán bộ ấm chén vì muốn có tiền mua đồ tặng đám cưới của con gái mình. Bộ ấm chén mà chồng bà đã mua tặng bà vào ngày sinh nhật đầu tiên khi họ cưới nhau. Ông chồng chở bà đến chỗ chúng tôi, hai vợ chồng đi tàu điện. Ông chồng đứng bên ngoài không vào, tôi cố nài ông vào uống cốc cà phê cho đỡ lạnh. Nhưng ông từ chối và đứng bên ngoài lúc trời rất lạnh và đang mưa. Tôi hiểu ông không muốn chứng kiến cảnh vợ mình bán món đồ ấy đi.

Bộ ấm chén màu xanh tím danh cho hai người, cái quai của lọ đựng đường đã bị gãy, họ dính keo gắn lại và một bức tranh nhỏ. Ông chủ không muốn mua, tôi nói mua cho họ đi. Ông chủ nói mua bán làm sao được. Tôi nói tôi sẽ bán vì giá trị tinh thần của bộ đồ đó, chứ không phải giá trị thực của bộ đồ đó.

Sáng nay dậy sớm từ 4 giờ nấu phở cho con, đợt rồi bận quá không nấu được. Tự nhiên cảm thấy cái nghề mua bán đồ này buồn nhiều hơn vui, cứ chuyên tâm bán đồ gia dụng, xoong nồi chả bao giờ gặp những chuyện đụng sâu tới những cái yếu đuối trong lòng mình.

Hoa anh đào ở phố Bonn

Vào những năm 80, khu phố cổ này đã bắt đầu cũ kỹ thể hiện những vết hằn do thời gian và chỉ còn một bộ mặt xám xịt. Vì thế người ta bắt đầu tái phát triển đô thị toàn diện, khu phố cần được làm mới, để cải tạo môi trường sinh thái và cải thiện chất lượng sống. Người ta đã bắt đầu đưa những cây hoa đào Nhật Bản về đây trồng, những cây hoa anh đào với màu sắc đặc biệt đã dần dần tiến sâu vào các khu phố. Qua nhiều năm, với sắc hoa rực rỡ của mình, chúng đã trở thành thương hiệu của khu phố cổ Bonn và trở thành nơi yêu thích của rất nhiều du khách nhất là những du khách đến từ Châu Á.
Hoa Anh đào thường nở vào giữa tháng 4 và kéo dài trong khoảng 10-14 ngày. Thời tiết càng ấm thì hoa nở càng nhanh, đến đầu tháng 5 thì trên đường chỉ còn cánh hoa rụng lả tả, như một lớp tuyết hồng rải trên mặt đường.

NGƯỜI BẠN ẤN BÁN DỪA

Trần Trung Đạo

Ba năm trước trong một lần đến Ấn Độ, tôi cùng một người bạn Ấn đi viếng một ngôi chùa Hindu cách Chennai chừng hai giờ lái xe. Trên đường về ngang qua một thị trấn nhỏ, hai đứa khát nước nên dừng xe lại bên một quày bán dừa tươi.   

Người bán dừa là một thanh niên còn trẻ, nói được ít tiếng Anh, khó khăn nhưng cũng đủ để khách hàng hiểu ý. Hình như anh bán dừa không gặp người Á Đông nhiều nên thích bắt chuyện với tôi. Nói chuyện một chốc chúng tôi trở thành bạn. Người Ấn miền nam da đen hơn người Ấn miền bắc. Tôi hỏi tên anh nhưng tức khắc quên ngay sau khi anh trả lời.

Photo : Trần Trung Đạo

Trước khi chia tay, tôi và anh chụp chung vài tấm hình kỷ niệm. Tôi chỉ anh xem hình anh trong máy. Hình rất đẹp và anh rất thích. Tôi hứa có dịp sẽ tặng cho anh ta những tấm hình màu in trên giấy láng.

Gặp lần đầu.
Photo : Trần Trung Đạo

Một du khách và anh bán dừa trên đường của một thị trấn Ấn Độ đông đúc, nghèo nàn, gặp lại nhau là chuyện rất hiếm. Những lời hứa dù rất thành thật rồi cũng chỉ là gió thoảng, mây trôi sau đó. Ước muốn, thời gian và điều kiện không phải bao giờ cũng là những kẻ đồng hành hòa thuận.

Sang năm sau, người bạn Ấn Độ đưa gia đình đi chùa Hindu, trên đường về lại tình cờ thấy anh bán dừa lần nữa. Người bạn không có ý mua dừa nhưng ghé thử người bán dừa còn nhớ mặt hay không. 

Anh nhớ rất rõ và rất mừng. Anh hỏi thăm đủ thứ về tôi như một người thân đang ở một phương trời xa cách. Anh dặn người bạn Ấn cho anh gởi lời thăm và nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhớ báo tin cho tôi biết anh ta vừa cưới vợ. Dường như anh có một niềm tin sâu xa trong lòng rằng tôi sẽ rất vui khi biết tin anh lập gia đình. 

Người bạn Ấn sau đó gọi sang Mỹ “Không biết mày còn nhớ không nhưng người bạn bán dừa của mày gởi lời thăm và muốn báo tin mừng anh ta vừa cưới vợ.”

Tháng Tư năm ngoái tôi lại đi Ấn. Trước khi đi dặn vợ mua sắm một ít quà. Một vài chiếc áo cho anh và mấy hộp chocolate cho vợ anh. Bà xã còn ra Walmart sang mấy tấm ảnh thành nhiều cở khác nhau. 

Khi tới Ấn tôi phải năn nỉ người bạn Ấn đưa đi thăm anh bán dừa. Hai đứa đều quá bận nhưng tôi nhất định không chịu “để đó có dịp trao lại dùm” như người bạn Ấn đề nghị. 

Quà không đáng giá bao nhiêu và chỉ có tính tượng trưng nhưng giá trị tinh thần rất lớn. 

Cùng chứng kiến một cảnh đời nhưng chúng tôi nghĩ và nhìn từ  hai góc khác nhau. Người bạn Ấn sống trong một quốc gia có 1.2 tỉ đồng bào trong khi tôi chỉ có một người bạn bán dừa. Cuối cùng tôi năn nỉ được anh và chúng tôi dành một buổi chiều để đi đến thị trấn giữa đàng năm trước. Tự nhiên tôi cũng cảm thấy vui trong lòng khi sắp gặp lại anh bán dừa.

Khi đến thị trấn trời đã xế chiều, nhưng tiếc thay quầy bán dừa không còn ở đó. Nơi người bạn bán dừa của tôi đứng trước đây nay chỉ còn khoảng đất trống. Người bạn Ấn hỏi thăm những tiệm chung quanh, mọi người đều nói anh đã không còn bán dừa ở đây từ nhiều tháng trước nhưng không ai biết anh dọn đi đâu. Hai đứa thất vọng. 

Trước khi ra về, tôi chợt nghĩ những tiệm bán dừa lẻ chắc phải biết nhau vì có thể họ đều nhận dừa từ một nguồn bán sỉ. Chúng tôi đi tìm một tiệm bán dừa khác trên đường đó. Tôi đưa tấm hình của bạn tôi ra cho chủ quày và những người đứng gần nhận diện. Một người nhận ra anh. Thì ra anh vẫn bán dừa nhưng dời sang một con đường khác cách đó không xa.

Photo : Trần Trung Đạo

Cuối cùng tôi gặp lại anh bán dừa. Anh mừng như một gặp lại người thân vừa ở Mỹ về. Tôi đưa quà của vợ mua cho anh. Anh ngắm nghía những tấm hình.  Một nhóm khá đông người Ấn đang ngồi trò chuyện trước một tiệm ăn. Anh đến khoe hình và giải thích cho mọi người nghe một cách hãnh diện. 

Một người đứng lên nói tiếng Anh rất chính xác và lưu loát, thay mặt cho nhóm dân Ấn, cám ơn tôi đã đi từ một nơi rất xa chỉ để mang những tấm hình tặng bạn. Tôi nói vài lời “không có chi” và bắt tay từng người. Bạn tôi chặt dừa mời. Tôi móc túi lấy tiền trả nhưng anh gạt tay tôi. Để anh vui tôi không trả tiền như lần trước.

Trời đã về chiều và tôi phải ra đi. Cầm tay anh bán dừa khá lâu. Tôi báo anh biết vì nhóm của tôi không còn làm việc ở phía nam này nhiều nữa nên có thể tôi không còn dịp để trở lại, dù sao, mong anh luôn nhớ một điều, tôi biết ơn trong đời đã có thêm một người bạn, sẽ luôn nghĩ về anh và mong anh cũng vậy. Anh mỉm cười, gật đầu và nhìn theo tôi cho đến khi chúng tôi cùng chìm khuất trong rừng người. 

Ấn Độ Dương mênh mông nhưng còn giới hạn, tình người ở khắp nơi.

Trần Trung Đạo

(Trích trong Đêm Nghe Sông Hằng Hát)