Ống khói Cát Linh

Giang Công Thế

Hà Nội vừa có Bí thư xuất thân từ Hoa Lư, trước đó từ Nghệ An, Thái Bình, Thanh Hóa. Mỗi vị để lại một dấu ấn. Hy vọng người Hoa Lư mang một điểm nhấn khác tới thủ đô. Chợt nhớ bài Ống khói Cát Linh viết năm 2018.

Nhớ lần tới khách sạn Pullman (Horison ngày xưa) ở phố Cát Linh có chút việc ở City Bank, mình cứ vòng vèo mãi quanh cái ống khói xây bằng gạch đỏ. Nhớ thời lâu lắm khi Cát Linh là phố output (bán thiết bị nhà vệ sinh, nhà tắm) và Nhật Tân là phố input (bán thịt chó), qua hai phố này là đủ thấy Hà Nội thời bao cấp.

Cát Linh có cái ống khói “nghe nói” của lò gạch Đại La còn “sống sót” từ thời bao cấp. Mình khâm phục ai đã giữ được cái ống khói mà chưa chừng Chí Phèo đưa Thị Nở đi chơi vào một đêm trăng.

Photo HM

Đọc biển inox ghi lịch sử mới biết lò gạch này bắt đầu thời kỳ “công nghiệp hóa, hiện đại hóa” của xứ ta từ cách đây 100 năm. 

Ông chủ là nhà tư sản Năm Diệm nung gạch khá thành công, nhưng rồi thời cuộc đổi thay, chủ khác vào, giữa những năm 1990 họ bán cho khách sạn Horison, một trong các khách sạn 5 sao đầu tiên của Hà Nội.

Trong đồ án xây dựng, các nhà thiết kế đã từng có ý định phá hủy chiếc ống khói của nhà máy gạch. Rất may là cuối cùng “chứng nhân lịch sử” được giữ lại để trang trí cho khách sạn do bên phá đặt giá quá cao.

Ống khói của nhà máy gạch này từng là một trong những công trình kiến trúc cao nhất của thời bao cấp ở Hà Nội vì cao những 50m, nhưng giờ thì Lotte hay Keangnam vô hồn xóa kỷ lục.

Những người tôi quen có anh Martin Rama chiến đấu không mệt mỏi cho việc bảo tồn Hà Nội cổ. Anh có cuốn sách ảnh “Hà Nội một chốn rong chơi” do anh chụp và viết, hiện theo dự án “Sustainable Urban Development in Hanoi – Phát triển bền vững thủ đô Hà Nội” do anh khởi xướng và chủ trì. Dự án nhằm cố vấn cho thành phố làm sao phát triển cái mới và bảo tồn cái cũ.

Photo HM

Ai chót yêu Hà Nội như Martin thì thích làm thế nào giữ được vẻ đẹp Á Đông pha trộn với kiến trúc Pháp, vẻ củ hành của Nga, cổ Trung Hoa và đôi chút của nền văn minh lúa nước thò thụt thấp cao, trong lòng thành phố.

Có rất nhiều khu thương mại, mua sắm trên thế giới và ở Việt Nam. Nhưng Hà Nội, cũng như nhiều thành phố khác ở Châu Á, đang thiếu một khu trung tâm thương mại đẳng cấp, có thể kết hợp việc mua sắm với các yếu tố văn hóa và lịch sử trong cùng một không gian.

London có khu Vườn Covent (Covent Garden), San Francisco có khu vực Ghirardelli (Ghirardelli Square) tuyệt đẹp, nhưng hiện chưa có một khu vực nào tương tự nào ngoài các nước đã phát triển. Trung tâm thương mại Tràng Tiền Plaza cũng đã cố gắng để tạo cảm giác cao cấp, nhưng tiếc thay lại trở nên phô trương.

Nhiều nhà đầu tư thấy nhà cũ thì phá đi, xây mới, là cách rẻ nhất và theo được ý của người có tiền. Nhưng những giá trị văn hóa ẩn chứa trong từng viên gạch hay bức tường có hàng trăm năm tuổi thì không thể tính được bằng tiền.

Tới thăm Pullman và thấy ống khói Cát Linh vẫn đứng đó, tôi nhớ đến cuộc nói chuyện với anh Martin Rama ở Washington DC về Hà Nội. Giá như các nhà đầu tư đều như khách sạn Horison hiểu thế nào là yếu tố văn hóa và lịch sử trong cùng một không gian.

Hy vọng 100 năm nữa du khách tới Pullman sẽ còn thấy ống khói Cát Linh có tuổi 200 năm và khi đó thì giá phòng không phải vài trăm đô như bây giờ.

HM. 8-9-2018

Sài Gòn: An lành những giấc mơ trưa

Nhiều khi phải thức dậy từ 3-4h sáng để chuẩn bị dọn hàng. Nhiều khi phải ăn vội chén cơm trắng hay gói xôi vò để đến công trường, bệnh viện, trường học… Nhiều khi những đêm thức trắng vì chưa đủ tiền gửi về quê cho mấy đứa nhỏ. Nhiều khi như thế, họ cần những giấc mơ trưa.

Ta đang nói về cánh xe ôm, bảo vệ hay những người bán buôn dọc khắp các con phố ở Sài Gòn. 12h trưa khi dường như mọi thanh âm lao động tắt hẳn thì người ta lại bắt gặp đâu đó ở góc đường Trương Định, Cô Bắc, Võ Thị Sáu,… là những giấc ngủ vội vàng. Mặc cho khói bụi và tiếng xe cộ rền vang inh ỏi họ vẫn gắng tìm vài phút thảnh thơi ngắn ngủi trong quá nhiều lo toan.

Ở một nơi mà người ta có thể nghe được giọng nói của nhiều vùng miền khác nhau thì những giấc ngủ trên đường phố cũng trở nên bình thường. Sài Gòn hào phóng trong lối sống, giản dị trong cách nghĩ. Chỉ cần nhìn những gương mặt vô tư ngủ trên hè phố người ta có thể mường tượng về người dân của một xứ sở bao dung nghĩa tình. Vậy nên không có gì ngạc nhiên khi chỉ với một cái ghế, một đôi dép là đã đủ đầy cho một giấc ngủ trưa.

Không chỉ ngoài đường phố mà trong những con hẻm, những giấc ngủ vẫn cứ bình yên đến lạ. Bởi ngoài kia đời sống đã chật chội đến nghẹt thở.

Dù không thường nghỉ trưa nhưng cụ bà bán quà vặt trên đường Nguyễn Thái Học cho hay: “Nhiều lúc đi nhiều mỏi quá nên người ta ngủ một chút. Như bà đi bán từ cầu Ông Lãnh qua trường Lê Hồng Phong mệt lắm con à”. Mệt nhưng vẫn phải làm, bởi bà còn người con út đang học năm cuối đại học và ngày ngày kiếm chút tiền gửi cho con sinh hoạt. 60 tuổi, tóc bà bạc trắng. Chừng ấy giấc ngủ là chừng ấy ngày bà đi qua những mưu sinh nhọc nhằn. Có giấc mơ nào điểm lại màu đen trên tóc không?

Có những ngày Sài Gòn nắng như đổ lửa. Đi ra đường thấy ai cũng cầm trên tay chiếc quạt phe phẩy, vài người gật gù trên ghế. Có những ngày Sài Gòn mưa nhiều vì cơn áp thấp. Dưới mái hiên là những nỗi lo đong đầy trong ánh mắt xa xăm. Nắng tháng ba oi nồng, cái hanh hao dễ đưa người ta vào giấc ngủ vội. Nhưng ở đó tuyệt nhiên không hiện lên bất kì sự khắc khổ, uể oải hay rũ rượi mà thay vào đó là những gương mặt bình yên và thảnh thơi đến lạ. Sài Gòn an lành những giấc mơ trưa!

Nguồn : https://saostar.vn/xa-hoi/sai-gon-lanh-nhung-giac-mo-trua-1121199.html

America’s Best Rose Garden

Tieu Van Phan

Hôm nay mình xin giới thiệu về vườn hồng của thành phố San Jose, đã đạt danh hiệu “America’s Best Rose Garden” từ năm 2010. 

San Jose Municipal Garden có lịch sử lâu đời lắm. Vườn được thành lập từ năm 1927, rộng đến 5.5 acre với khoảng 4,000 gốc hồng của 189 chủng loại khác nhau! 

Nếu có dịp đến San Jose, bắc Cali vào khoảng giữa tháng 4-giữa tháng 6, mùa hoa hồng nở rộ, mời bạn ghé thăm nơi đây. Bài hát lãng mạn “Triệu đoá hoa hồng” sẽ trỗi dậy réo rắt, sống động ngay trước mắt. Bạn như Alice lạc vào xứ thần tiên, muôn hồng nghìn tía bao vây. Đủ màu sắc rực rỡ, có những màu hoa thật kỳ lạ mà không hàng hoa nào có bày bán như màu tím than sẫm gần như màu đen, màu đỏ ửng trắng, màu cam pha vàng… Có những giống hoa to hơn mặt người, những giống hồng leo quấn quít buông xoã chùm chùm bên song hàng rào, toả hương ngào ngạt. 

Giữa vườn toạ lạc một hồ nước nhỏ trong xanh với nước phun róc rách, vài chú vịt ở đâu tranh thủ vào bơi lội vẫy vùng. Chiều chiều đôi lứa dẫn nhau tản bộ, vài bác lớn tuổi ngồi đọc sách, mấy đứa trẻ chơi trốn tìm sau những luống hồng, tiếng cười trong trẻo vang khanh khách như chuông ngân…

Phong cảnh khu vườn thật xinh đẹp, thật quý phái mà thật lãng mạn, không biết nên dùng những từ ngữ gì để tả cho hết cảm xúc của người yêu hoa, yêu vẻ đẹp thiên nhiên khi dừng chân nơi đây.

America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan
America’s Best Rose Garden
Photo : Tieu Van Phan

NGƯỜI MÌNH

Vũ Thư Hiên
1
– Ông gì ơi, người Việt hử?
Câu hỏi khàn khàn bất ngờ phát ra từ mấy thân hình chăn trùm kín đầu nằm trên ke trạm metro làm tôi giật bắn mình. Ngoảnh lại, tôi thấy một mái tóc bù xù ngóc lên khỏi tấm vải dày kẻ ô vuông đã có vài lỗ thủng và một hàm răng trắng nhe ra trong nụ cười làm quen trên gương mặt xám, xương xẩu.
Tôi gật.
– Chả là tôi nghe tiếng hai ông từ biệt nhau.
Ông bạn già nằng nặc đưa chân tôi tới tận trạm metro gần nhà. Bịn rịn mãi lúc chia tay, tôi lỡ mấy chuyến tàu. Hai thằng tôi hoạ hoằn mới gặp nhau. Xa thì không bao nhiêu, đường đi cũng thuận tiện, khốn cả hai đều ngại, tuổi già nó thế. Ông bạn ở ngoại ô, về mặt hành chính là tỉnh lỵ La Courneuve, một bidon ville của Paris, người Pháp gọi thế, mặc dầu nó chẳng có gì dính dáng tới cái bi đông hết. Vùng này về đêm lâu nay không an toàn. Rải rác vẫn có những vụ cướp bóc ngẫu hứng của những con nghiện ma tuý và dân nhập cư từ những nước hậu cộng sản.
Càng về khuya, tàu càng thưa.
Trong lúc chờ tàu, tôi tản bộ. Ở cuối ke, bên dưới tấm pa-nô quảng cáo du lịch biển chiếm hẳn một khoang tường có đủ trời xanh, mây trắng, cát vàng, với các cô nàng diễm lệ và trần trụi nằm phơi nắng là những người vô gia cư, tiếng Pháp gọi là clochard, lăn lóc bên những vỏ chai, vỏ bia lon. Chỗ họ nằm bao giờ cũng bốc mùi khăn khẳn.
Không phải trạm metro (xe điện ngầm) nào cũng có các clochard tụ tập. Có trạm có, có trạm không. Tôi không hiểu cách clochard chọn nơi ngả lưng. Cứ tưởng họ phải chọn nơi rộng rãi, thoáng đãng ở trung tâm thành phố, hoá không phải, có khi là một trạm hẹp, bên trên lại là một quận nghèo.
Mấy năm trước, metro nào cũng có ghế băng cho khách. Sau thấy các clochard dùng chúng làm giường, người ta thay bằng ghế nhựa, đặt cách nhau. Nhưng cách ấy cũng vô ích – các clochard bèn lăn ra sàn.
– Sao… lại ở đây?
Tôi ngập ngừng. Tôi không biết nên gọi gã bằng gì? Gã chưa đủ già để gọi bằng ông, lại không quá trẻ để gọi bằng anh. Mà gọi bằng anh trong bối cảnh này rõ ràng không tiện.
Gã nhìn tôi từ đầu đến chân. Cái nhìn khảo sát của gã rõ ràng không có mấy thiện cảm. Nhưng rồi gã cũng đáp, giọng lạnh lùng:
– Ờ… ở đây. Thì đã sao?
Tôi ấp úng.
– Là hỏi vậy thôi… ông bạn bỏ quá.
“Ông bạn” là cách gọi tiện nhất mà tôi kiếm được. Nó không xa cách, lại có chút thân tình.
– Ờ… Không sao.
Tôi cười vô duyên:
– Xin lỗi, quả là.. tôi có chút… không ngờ.
Gã chống tay ngồi lên, cái chăn tụt xuống sàn. Giờ thì tôi nhìn thấy cả thân hình gã – gày gò, xương xẩu, trong bộ trang phục lụng thụng. nhem nhuốc.
Không biết nói gì thêm, tôi dợm chân bước đi.
Mới được vài bước, tôi nghe gã gọi:
– Này, ông đồng bào…
Tôi dừng:
– Gì vậy?
– Ông không thể nán lại vài phút sao? – gã nói, giọng buồn, hơi trách móc, nhưng không vật nài.
– Đến lúc tôi phải về rồi – tôi ấp úng phân trần – Nhà tôi ở khá xa đây. Dù sao thì được gặp… ông bạn, tôi vui đấy.
– Tôi cũng thế – gã nói – Còn hơn là vui nữa kia.
Chỉ những người lưu lạc nhiều năm nơi đất khách mới hiểu được tâm trạng những kẻ bất ngờ gặp người cùng xứ sở.
Gã đọc được ý nghĩ của tôi, chắc thế. Gã cười, nụ cười cố làm tươi, nhưng vì cố gắng, nó thành méo mó:
– Nói thật, tôi có ý tìm, nhưng không gặp ai. Ông là người đầu tiên đấy.
– Ở Paris này người mình cũng nhiều mà.
– Nhưng ông là người đầu tiên – gã bướng bỉnh lặp lại – Tôi đã nhầm nhiều lần. Toàn Tàu là Tàu, ông ạ. Sao mà ở Paris này lắm Tàu thế không biết? Nhiều người Tàu giống ta lắm. Gặp ông, tôi mừng. Tôi thèm được nói chuyện.
– Khuya rồi, tôi lại ở xa – tôi nhắc lại điều đã nói – Một bận khác, nhé?
Gã nhìn tôi đăm đăm, chờ tôi nói tiếp. Tôi chẳng có gì hơn để nói.
– Ông sẽ chẳng tìm tôi đâu, tôi biết chứ – mặt chảy dài, gã cụp mắt, rồi nói khẽ – Hay là…
– Gì cơ?
Con tàu xầm xầm vào bến, tiếng bánh xe lăn trên ray làm tôi không nghe rõ câu tiếp theo của gã. Những cánh cửa đồng loạt mở ra, thả xuống bến vài người khách hiếm hoi rồi hối hả chạy đi. Tôi lỡ thêm chuyến nữa.
– Ông bạn vừa nói gì nhỉ?
Gã nín lặng, rồi nói khẽ:
– Thế này, ông có thể thết tôi một bữa chăng?
Thì ra gã nói chuyện với tôi chỉ để dẫn tới chỗ ấy. Tôi thò tay vào túi.
Gã lắc, mặt sa sầm:
– Tôi không phải ăn mày.
Tôi không hiểu gã muốn gì.
– Tại sao chúng ta không thể đi ăn cùng nhau một bữa? – gã nói tiếp – Trong bữa ăn mình tâm sự được nhiều hơn.
– Ờ… Nhưng vào giờ này?
– Ở Paris giờ này đâu đã khuya. Không lẽ một yêu cầu nhỏ nhoi như thế mà cũng bị từ chối.
Tôi suy nghĩ: ờ, đáng gì đâu một bữa ăn. Tôi tần ngần vài giây. Rồi quyết định:
– Được thôi.
– Hay quá! – gã vui hẳn lên, cười tươi.
– Anh muốn ăn gì nào? – tôi cũng cười theo – Âu hay Á?
– Gì cũng được. Tôi không kén.
Tôi gật lần nữa.
Gã nhanh chóng rũ chăn, đứng dậy, xốc lên vai cái túi vải to bằng cái va li, bước theo tôi.
2
Ông chủ quán bít tết Arhentina trên đường Oberkampf chăm chú nhìn tôi. Không phải, ông nhìn người đi cùng. Clochard là thứ người không lẫn vào đâu được, là thứ người không bao giờ đặt chân vào quán ông. Né mình nhường lối cho khách, tôi thấy cánh mũi ông phập phồng. Hẳn ông nghĩ người đi với tôi bốc mùi, một đặc điểm không thể thiếu ở các clochard. May, gã không nặng mùi. Cái đó chứng tỏ gã mới gia nhập bộ lạc clochard chưa đủ lâu.
Quán vắng. Những người khách cuối cùng đã lác đác rời đi.
Tôi chọn bàn trong cùng, dưới đầu lâu một con bò không có gì khẳng định nó là con bò Arhentina chính cống dù với cặp sừng đen nguyên vẹn.
Tôi không đói. Bữa tối bằng thức ăn sẵn đợi tôi ở nhà. Tôi có thói quen ăn muộn.
– Hai suất – tôi nói, không cần nhìn thực đơn.
– Tái, chín vừa hay chín kỹ?
– Tái, như mọi khi – tôi nói, nhìn gã clochard của tôi.
– Tái xanh , cho tôi – gã nói.
– Cũng 250 gam? – ông chủ quán hỏi.
Gã liếc nhanh xem ý tôi, rồi hất hàm:
– 250 gam cho ông này, 350 gam cho tôi. Mà không, cho tôi 500 gam đi.
– 500 gam?
Gã gật, rất điềm nhiên. Tôi trợn mắt.
– Còn rượu?
Không đợi tôi, gã liếc nhanh lũ chai trên quầy:
– Saint Émillion Grand Cru nhé!
– Nửa chai?
– Không, cả chai.
Tôi ngẩn người. Gã nháy mắt:
– Với bít tết ngon, phải là nó mới xứng, mới đủ, phải không ông?
– Không sao.
Tôi không bao giờ gọi Saint Émillion Grand Cru ở nhà hàng. Nó đắt khủng khiếp. So với giá siêu thị, giá nhà hàng giá phải tăng gấp bốn, nếu không gấp năm. Tôi hay lai vãng quán bình dân này, món bí tết ở đây ngon, giá cả lại phải chăng, nhưng rượu thì cũng thế, không rẻ hơn ở các quán khác.
Cách chọn rượu của anh clochard của tôi làm tôi ngạc nhiên, phải nói là sửng sốt mới đúng. Chỉ một tay sành sỏi mới chọn loại rượu sang cho món bít tết. Sự đời dun dủi thế nào mà con người đang ngồi bên tôi lại ra nông nỗi này?
– Mấy khi – gã nháy mắt với tôi – Có phải không ạ?
Tôi chỉ còn biết gật. May, trong túi tôi có đủ tiền.
Gã ăn say sưa. Gã uống say sưa. Như không có tôi ngồi bên. Gã quên bẵng nhu cầu tâm sự như gã nói. Thỉnh thoảng gã ngừng nhai, ngẩng lên, ợ một tiếng khoái trá.
Trong bữa ăn tôi có thời gian quan sát kỹ ông bạn bất ngờ. Gã có gương mặt của người khôn ngoan, tức là không phải một gương mặt đần độn – cặp mắt sáng, cái nhìn hoạt. Tiếc cái trán ngắn và cặp môi mỏng làm hỏng tướng mặt. Là tôi từng nghe nói thế.
Ăn xong, gã lấy giấy chùi mép, nhẹ nhàng và từ tốn như một quý ông.
– Giờ ta về, hả?
– Về thôi. Cũng khuya rồi. Ta chia tay ở đây thôi – tôi đứng lên, thở phào, chìa tay cho gã – Hẹn gặp lại.
Nhưng cuộc phiêu lưu về đêm của tôi không kết thúc ở đây.
Gã nhìn vào mắt tôi:
– Thế này: đêm nay tôi ngủ ở nhà ông, nhá?
Tôi ngập ngừng:
– Không tiện đâu.
Gã nhìn tôi, ra chiều ngạc nhiên. Cái nhìn không hỏi. Nó khẳng định.
– Có gì mà không tiện? Ông ở một mình mà.
Làm sao gã biết tôi ở một mình?
– Tôi có khiếu quan sát. Người có đàn bà trong nhà không bao giờ mất tới hai khuy áo mà không được đính lại. Tôi không làm phiền ông. Tôi không ngáy. Đặt mình xuống là ngủ như chết.
Tôi chết trân:
– Nhà tôi chật lắm.
– Tôi không cần giường. Một chỗ trống trên sàn là xong – gã nói bằng giọng khẳng định, không cho tôi cơ hội từ chối – Cũng không cần chăn. Chăn trong này rồi – gã vỗ bèn bẹt vào cái tay nải.
Tôi là kẻ yếu lòng bẩm sinh. Tôi ngần ngừ thêm vài giây tìm câu trả lời. Tôi chưa tìm thấy nó thì gã đã kéo phăng tôi đi.
3
Tôi nhường gã nằm sô pha, tôi dùng túi ngủ. Tôi quen dành cho khách thứ tốt nhất mà tôi có. Gì thì gì gã cũng là khách.
Đêm đã khuya. Tôi tắt đèn, chúc gã ngủ ngon.
Nhưng gã không ngủ. Trong bóng tối, gã đánh giá căn phòng của tôi:
– Hừm, có sang tới bên này mới biết không phải cứ Việt kiều là khá giả, nhiều anh rách như tổ đỉa… Nhà bằng cái lỗ mũi.
– Paris là một thành phố đắt đỏ. Theo thống kê, nó chỉ thua có Tokyo, London…
– Hà Nội đắt không kém, có khi còn đắt hơn, nhưng người dân trung bình có số mét vuông để ở thì lại có phần thư thả hơn… (cái chỗ này, của tôi, ý gã muốn nói, nhưng kịp giữ lại).
Gã đúng. Căn phòng của tôi rộng có 12 mét vuông, lại ở tầng áp mái.
Xem ra, gã không chịu ngủ. Có vẻ đã lâu không được nói chuyện với ai là người cùng xứ, gã thèm nói. Mà cũng có thể gã muốn dốc bầu tâm sự.
Tôi ngáp. Gã nghe tiếng.
– Ông buồn ngủ rồi à? Không muốn nói chuyện với tôi nữa à?
– Không, ông bạn cứ nói, tôi nghe.
– Ở Hà Nội tôi có hai ngôi nhà thênh thang, hai biệt thự, nói cho đúng – gã bắt đầu câu chuyện.
– Thế à? Sao ông lại bỏ đi?
Gã hứ một tiếng.
– Bỏ đi? Có mà điên! Chúng nó thu chứ.
– Ai thu?
– Ông nghe rồi sẽ hiểu.
Bắt đầu một đêm mất ngủ đây, tôi ngán ngẩm.
– Tôi lớn lên trong một gia đình bậc trung. Cha mẹ tôi mất sớm, các cụ để lại cho thằng con trai duy nhất là tôi một ngôi nhà.
– Nhất rồi – tôi đệm – Có một ngôi nhà, lại là của mình, còn gì bằng.
– Nhà chẳng lớn, cũng chẳng đẹp. Suốt thời bao cấp, tôi sống vất vưởng, vắt mũi bỏ miệng. Ông biết bao cấp là cái gì chứ?
– Biết.
– Thế rồi con tạo xoay vần thế chó nào mà một thằng nghèo kiết xác là tôi lại trở thành giàu có. Là nhờ cái nhà ấy, ông ạ – gã chống tay, ngóc dậy – Nhà còn gì uống không?
– Có Coca trong tủ lạnh.
Gã đứng lên, mò mẫm trong bóng tối. Ánh sáng của tủ lạnh mở hắt lên mặt gã – nó khác gương mặt hốc hác, căng thẳng tôi nhìn thấy lúc trước – một gương mặt tự hào, kiêu hãnh.
– Nhà mặt tiền, ông ạ. Không rộng, nhà Hà Nội đều thế cả, ăn nhau ở cái chiều sâu, lại ở ngay trung tâm.
– Tuyệt.
– Người ta gọi chỗ ấy là đất vàng. Ông hiểu đất vàng là thế nào chứ? Sau hai cuộc chiến tranh khốn khổ khốn nạn, thiên hạ cứ gọi là điên hết lên vì nhà. Cứ như thể người ta ra đời chỉ có một mục đích: kiếm được một ngôi nhà, rồi chết.
– Tôi có nghe kể – tôi nói.
– Gặp cái cơn sốt bất động sản ấy nhà cửa loại gì cũng đắt, toàn giá trên trời không à. Tưởng tượng không ra, nằm mơ không thấy. Người ta không mua cái nhà xập xệ, tường rỗ, mái thủng, vừa ở vừa sửa, đến tôi còn không thiết đâu. Là người ta mua đất đấy.
– Tất nhiên. Chuyện ấy tôi biết.
– May, tôi có thằng bạn thân thời học trò, bố nó làm quan, không phải quan thường mà quan rất to. Nó khuyên tôi bán quách cái nhà, lấy tiền mua đất ngoại thành. Rồi ra đất ở đấy sẽ có giá lắm. Thì ra nó biết trước quy hoạch thành phố sẽ mở rộng đến đâu, ông ạ. Tôi nghe nó, thuê tạm một chỗ chui ra chui vào, rồi cầm nắm tiền bán nhà đi mua đất. Mua khoảnh này, được giá thì bán lại, mua khoảnh khác, cứ thế. Chẳng mấy chốc tôi trở thành đại gia. Ông biết đại gia là cái gì chứ?
– Là nhà giàu.
– Không phải chỉ là nhà giàu, mà là rất giàu. Chẳng riêng tôi, nhiều người trong thời kỳ ấy phất lắm. Có thằng hàng phở ở Moskva về nước trở thành tỷ phú đấy.
– Khiếp! – tôi đế.
– Mà không phải tỷ phú thường đâu, là tỷ phú cỡ thế giới cơ. Ông có nghe tên thằng Thịnh Phở không?
– Chỉ buôn bán đất mà giàu thế kia á? – tôi chậc chậc.
– Cóc phải – gã giảng giải – Đã giàu rồi thì giàu thêm mấy hồi. Tiền đẻ ra tiền. Không tiền là cái hoa đực, không bao giờ ra quả. Giàu nhất là các quan. Chúng nó ăn đủ, bằng mọi thứ quyền thế đem lại – dự án, giấy phép, nghị quyết, chỉ thị, bằng cả luật nữa… Khó nhai thì ra luật mà gặm. Ăn bẫm rồi thì phải có cách yểm tiền. Chúng nó mới hùn vốn với ba thằng đại gia mới nổi từ các nước Đông Âu về – thằng xưng giàu do buôn máy tính, thằng nói buôn quần áo… Tiếng là giàu, nhưng bọn này chỉ là cái sân sau của của các quan thôi.
– Ra thế.
– Thằng quan nào chả nói nghèo, chỉ vợ con nó giàu thôi, mánh ấy thiên hạ biết cả, nhưng cái thời nó thế – “khôn chết, dại chết, biết thì sống”, người ta đành ngậm miệng.
– Tôi hỏi thật nhé, ông đừng giận: ông bạn cũng từng là đại gia theo cách ấy sao?
Gã thở dài:
– Không hẳn thế. Nhưng cũng na ná. Có tiền rồi, tôi làm tà lọt cho một thằng đại đại gia, vốn nó bằng nghìn lần vốn tôi. Thôi thì theo voi hít bã mía, mèo nhỏ bắt chuột con.
– Tôi không hiểu.
– Ông không hiểu là phải thôi. Chưa kể đến cái số.
Tôi gật trong bóng tối. Tôi cũng tin người có số, nước có vận.
– Tôi trở thành tay chân thân tín thằng đại đại gia ấy. Chả là nó biết tôi thân với thằng con quan lớn –một mối quan hệ tốt, cần phải nắm. Tôi làm giám đốc một công ty con bên dưới cái công ty mẹ, gọi to là tập đoàn, của nó.
Trong im lặng tôi nghe gã gãi sồn sột.
– Thế rồi nó còn lo cho tôi vào vào đảng nữa…
– Tức… ông là đảng viên cộng sản?
Gã cười hích hích:
– Đúng là ông chẳng biết cái khỉ khô gì hết. Ở nước ta muốn phất lên thì phải là đảng viên. Có thế mới chắc chân. Vào đảng tôi học được nhiều chiêu cực kỳ. Ông sang đây bao lâu rồi?
– Cũng lâu đấy. Tròm trèm nửa thế kỷ.
– Thảo nào.
Tôi lại ngáp. Lần này tôi ngáp to, gã nghe thấy.
– Ông buồn ngủ rồi à? Còn muốn nghe nữa không?
– Còn. Ông kể tiếp đi.
Im lặng một lát, gã kể, nhưng giọng không còn hào hứng:
– Mọi hợp đồng mua bán ngon nó cho tôi đứng tên. Nó dạy tôi các cách rút tiền ra từ những hợp đồng béo bở ấy – hàng mua giá mười tỷ thì tăng lên trăm tỷ, hai bên mua bán chia nhau số dư…
– Ông bạn cũng có phần chứ?
– Có chứ, sao không? Nhưng là phần bèo, phần lớn, miếng ngon là của nó. Còn các dự án nước ngoài đầu tư thì chặt phần trăm…
Từ dưới đường vẳng lên tiếng xe tải giao hàng về đêm. Tôi kéo khóa túi ngủ lên tận cổ. Thời tiết Paris nó thế – ban ngày nóng mấy thì nóng, ban đêm vẫn phải có chăn.
Bằng giọng đều đều gã tiếp tục dài dòng về những hợp đồng mà gã gọi là phi vụ. Một phi vụ lớn đổ bể, gã bị đưa ra chịu tội thay cho người khác, làm dê tế thần.
Đoạn sau tôi nghe câu được câu chăng, tai vẫn nghe thấy giọng kể đều đều của gã, rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
4
Gã không bỏ đi như tôi nghĩ.
– Vì sao ông bạn sa vào cảnh không nhà? – trong bữa sáng, tôi đặt câu hỏi bằng giọng tế nhị nhất.
– Tôi kể rồi mà.
– Đoạn ấy tôi ngủ quên.
– Ờ, tôi thấy ông thở đều. Rồi còn nói mê nữa.
– Ông kể lại đi, tôi xin lỗi.
Gã kể:
– Có một vụ, cũng chẳng lớn lắm đâu, bị khởi tố. Là do mấy thằng nhà báo rách việc khui ra. Mà chắc gì tại chúng nó, Có khi là do mấy ông lớn sai chúng nó làm, ghen ăn tức ở ấy mà, thói đời nó thế…
– Hừm, thế thì khó sống thật.
– Đầu chẳng phải phải tai, tôi thành đầu vụ…
– Khổ!
– Nói trở thành thì không đúng. Là do thằng ông chủ sắp xếp. Phải có thằng giơ đầu chịu báng chứ.
– Tệ quá.
– Cũng may. Lúc ấy tôi lại đang ở Tây Ban Nha. Nó cho tôi biết sự tình, hứa sẽ thu xếp mọi việc chóng vánh, đâu sẽ lại vào đó.
– Rồi thế nào?
– Tôi đợi. Chứ còn làm thế nào? Ở nhà họ điều đình với nhau, như chuyện thường xảy ra, rồi sẽ có thoả hiệp. Thoả hiệp thế nào, tôi biết sao được. Nhưng lúc này tôi không thể về. Về là vào tù ngay.
Gã thở dài, ngán ngẩm.
– Ông đi du lịch?
– Không, tôi dẫn một đoàn khách. Có cái lệ thế – sau một ký kết, ngoài khoản lại quả, bên đối tác được chiêu đãi bằng một chuyến du hí ở nước ngoài, gọi là tham quan, học tập kinh nghiệm…
– Hay nhỉ?
– Bằng tiền chùa ấy mà. Ông đừng tưởng các nước châu Âu không biết hối lộ. Có nước pháp luật nghiêm, nhưng cũng có nước biết lui tới lắm, Đức chẳng hạn, nhất là anh Siemens… Thấy tình hình không sáng sủa, tôi phắn.
– Phắn là cái gì?
– Là chuồn nhanh. Tôi bỏ đoàn, rút tiền mặt đút túi, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, lấy máy bay sang Ý…
– Rồi đến Pháp?
– Ờ, tôi chọn Pháp. Tôi đã đi khắp châu Âu rồi, tôi biết nước nào dễ, không hay bị kiểm tra giấy tờ, Pháp là nhất, ông ạ.
Ờ, tôi nghĩ. Không phải là tay chơi lang thang mọi thành phố lớn, ở các khách sạn sang, nếm đủ của ngon vật lạ, thì không thể sành điệu đến thế khi chọn rượu.
– Tôi biết, ở đây mấy chục năm chưa ai hỏi giấy tờ lần nào.
– Nhưng đó là chuyện sau. Ở Ý tôi bị mất sạch mọi thứ. Đau nhất là mất các thẻ tín dụng chưa kịp rút tiền. Bọn Ý là bậc thầy móc túi.
– Các tài khoản không bị khóa?
– Khóa chứ. Nhưng có cái không. Cũng là anh em chúng tôi với nhau cả.
Gã thừ ra, nhớ những người anh em tử tế.
– Mà thôi, nói đến những thằng khốn nạn làm đếch gì
Rồi không kể thêm, gã xắn tay áo, gã thu dọn nhà cửa giúp tôi:
– Ông thật vô tích sự. Nhà lộn xộn thế này mà ở được.
Tôi nhìn gã làm cái việc lẽ ra tôi phải làm. Tôi ăn ở có luộm thuộm thật, nhưng nó là cái trật tự của tôi, tôi biết cái gì nằm chỗ nào, không phải tìm. Thành thử tôi phải chăm chú dõi theo gã để biết cái trật tự mới gã đặt ra cho tôi, quên bẵng chuyện gã đã quyết định ở lại mà không cần hỏi tôi có bằng lòng hay không.
– Tôi lấy tiền đi chợ.
Nói là làm, gã móc ví trong áo tôi treo trên móc ở cửa, tự nhiên lấy mấy tờ bạc, rồi đi.
Ngồi nhà một mình, bóp trán suy nghĩ. Đúng là gã biết chỗ yếu của tôi – gã ở lì, còn tôi thì không thể đuổi khỏi nhà một người cùng quê hương xứ sở trong cơn cơ nhỡ. Làm thế thì còn ra giống người à?
Đồng bào! Hai chữ ấy mới thiêng liêng làm sao! Chỉ tiếng Việt của ta mới có nó. Không một thứ tiếng nào trên thế giới có cái tương đương. Sự gắn kết những đứa con cùng một bọc của mẹ Âu Cơ thật là đẹp. Nó là cái mà bất cứ đứa con nào thuộc dòng giống Việt đều biết, đều nhớ, đều dùng, từ ông học giả tóc bạc phơ cho tới tên lưu manh đầu đường xó chợ, từ nhà hiền triết siêu nhân bản cho tới nhà cầm quyền đầy thủ đoạn. Nó là cái có khả năng gây ra mọi cung bậc cảm xúc tuỳ theo người dùng muốn. Chẳng ai tin ở cái truyền thuyết tối vô lý ấy. Bà cụ tổ nào có thể mang thai một bọc trong có trăm trứng để nở ra trăm con chứ? Nhưng truyền thuyết cứ thế trường tồn, sức sống của nó là vĩnh cửu. Và giờ đây nó đang làm cho một đứa con lưu lạc là tôi nao núng trước một quyết định hai chọn một.
Có một sự thay đổi không biết từ lúc nào trong căn phòng hẹp của tôi, tức ngôi nhà của tôi: không biết từ lúc nào tôi không còn là chủ nó nữa. Chủ thực sự bây giờ là gã.
Cái máy hút bụi Phillips, hàng hiệu hẳn hoi, không phải mua ở cửa hàng đồ cũ hay ở chợ giời, dùng đã mấy năm vẫn chạy tốt, bỗng nhiên biến mất. Thay vào đó là cái chổi đót.
Nhìn gã quét nhà, tôi ngẩn người:
– Sao không dùng máy hút bụi?
– Bán rồi. Để làm gì cho chật nhà!
– Bán khi nào?
– Hôm kia. Chợ đồ cũ mở ngay phố mình. Tôi mang ra thử. Được giá là bán liền.
Tôi nén một tiếng thở dài. Tôi thở dài đã thành quen, từ khi gã đến.
– Lẽ ra cũng nên hỏi qua tôi một tiếng.
Gã hứ:
– Ông thì có biết tính toán gì cơ chứ! Già rồi, phải vận động chân tay nó mới khoẻ. Không vận động thì các cơ sẽ teo. Theo Mác, con người từ khỉ mà thành là nhờ lao động.
Tôi chả bao giờ đọc Mác. Xem ra gã nói cũng phải. Con người văn minh cái gì cũng nhờ vào máy móc không phải là điều hay.
Nhưng khi mấy giò địa lan tôi đặt ngoài ban công không cánh mà bay, thay vào đó là những chậu rau thơm, thì tôi nổi giận thật sự:
– Ông bạn quá đáng nhá. Từ lúc nào ông không còn coi tôi ra gì? Tôi yêu hoa, ông có hiểu không?
Gã nhăn nhở:
– Hoa là thứ ba lăng nhăng, ông ơi. Nó chỉ có thể làm ta vui thêm một chút khi ta đã có đủ thứ. Mà ta thì đã có đủ thứ chưa? Chưa. Cứ mỗi lần ta nhậu là tôi lại phải ra chợ Tàu mua rau thơm, ông không thấy sao?
– Ông không có phép làm thế mà không hỏi tôi.
Lần này gã cười toác. Đoạn, xịu mặt:
– Tôi xin lỗi. Tôi ân hận rồi. Tôi không biết ông yêu hoa đến thế. Tôi nghĩ mình làm việc tốt: trong nhà có sẵn rau thơm, khỏi phải đi mua. Đừng cáu nữa, nhé? Tha cho tôi đi mà.
Tôi còn biết nói gì khi gã đã thốt lên như thế, với bộ mặt ỉu xìu thế kia.
5
Ông bạn già ở La Courneuve đến thăm tôi.
Gã đón tiếp ông nồng nhiệt, còn hơn chính tôi. Gã nhanh nhảu pha trà, tíu tít hỏi han. Mới gặp mà hai người trò chuyện râm ran, như thể bạn thiết lâu ngày không gặp.
Ông hỏi tôi khi gã đi khỏi nhà:
– Ông kiếm được ông bạn mới đến ở chung từ khi nào vậy? Quý hoá quá!
– Nào có kiếm – tôi ngao ngán – Tự hắn ta theo về.
Nghe tôi kể chuyện tôi gặp gã như thế nào, ông bạn hốt hoảng:
– Chết chửa, sao ông dễ tính thế? Biết hắn ta là người thế nào? Nhỡ là quân du thủ du thực thì sao?
– Du thủ du thực thì không phải. Gã con nhà tử tế, có một quá khứ đàng hoàng. Là gặp cơn bĩ cực thôi.
Ông chăm chú nghe những gì tôi được nghe được từ gã.
– Dù sao hắn ta cũng có ích – tôi nói – Nhờ hắn tôi mới biết tình hình trong nước mà chúng ta thường lơ là.
Ông bạn chậc chậc liên hồi.
– Nghĩa là hắn ta nằm trong chính những cái ổ tham nhũng mà chúng ta chỉ nghe nói.
– Chắc vậy.
– Thế thì ông chứa cái giống tham nhũng ấy làm gì?
– Tôi cũng nhẹ nhàng nhắc hắn ta đi mấy lần rồi, nhưng, ông tính, hắn ta cứ ì ra… Thì biết làm thế nào?
Ông bạn nhăn mặt:
– Ông không kiên quyết. Phải tay tôi ấy à…
Tôi không biết phải tay ông, ông sẽ làm gì?
Tôi đặt câu hỏi. Ông thừ người ra.
Tôi kể thêm cho ông nghe sự biến mất của cái máy hút bụi, những giò địa lan…
– Hắn ta chỉ có một cái tật – ấy là thích nhậu. Ngoài ra thì cũng không khó chịu cho lắm.
– Ông cũng nhậu với hắn?
– Thì ông tính: ở đây hắn chỉ có tôi.
– Nhậu nhẹt là thói xấu. Ông quen đi mấy hồi. Rồi ra thành nát rượu lúc nào không biết.
– Ông đừng lo. Tôi biết chừng mực.
Ông bạn xì một tiếng:
– Ông đàn bà lắm. Thương người rồi khổ đến thân…
– Ông bảo tôi phải làm gì nào? Nói thì nói rồi, nói mấy lần rồi.
– Ông cứ báo cảnh sát!
Tôi xua xua hai tay:
– Chết chết, sao thế được? Ông không biết mới đây người ta vừa bắt được một vụ “trồng cỏ” cả một khu đất rộng mấy mẫu tây do người Việt làm à? Mà không phải ở Anh hay ở Canada đâu nhá. Ở ngay ngoại ô Paris này này. Rồi một vụ nữa, họ bắt được cả một xe đông lạnh nhét đầy người trên đường từ mấy nước Đông Âu đánh đường sang Anh… Cũng là người Việt tổ chức đấy. Chưa đủ xấu hổ sao?
Nghe tôi nói thế, ông không nói thêm. Ông ngồi thừ ra, chắc nghĩ mưu giúp tôi. Nhưng đến đoạn tôi kể anh chàng clochard của tôi còn là một đảng viên cộng sản thì ông bật dậy khỏi ghế:
– Lại còn thế nữa! Thế mà ông còn chứa nó? Phải tay tôi ấy à?
Tôi quên chưa nói: chúng tôi đi từ hai miền khác nhau, tôi từ miền Bắc, ông từ miền Nam. Nhưng giữa hai đứa lại không có sự phân biệt như thường thấy. Có lẽ do chúng tôi cùng có chung một cái quê đất thịt, khác nhau ở chỗ năm 1954 ông di cư vào Nam, tôi ở lại. Hoặc vì chúng tôi không đụng chạm tới chính trị là thứ cả hai đã ngán đến mang tai. Có điều, sâu thẳm trong lòng ông dị ứng kinh khủng với bất cứ thứ gì dính dáng tới cộng sản. Khi nói tới cộng sản là giọng nói của ông trở nên lắp bắp. nghe không hiểu ông nói gì. Tuy nhiên ông cũng không đến nỗi cực đoan đến mức như những người khi gặp người giống mình thì không hỏi “Đằng ấy người Việt hả?” mà hỏi ”Anh cộng sản hay anh chống cộng?”
– Cứ báo cảnh sát đi! Còn chần chừ gì nữa? Ông chứa chấp đứa nào cũng được, nhưng chừa cái giống ấy ra. Cái giống cộng sản ấy à, tôi thừa biết, một khi nó bám được vào đâu là nó bám dai như đỉa. – ông to tiếng như cãi nhau với tôi – Ông sẽ không thoát được nó đâu Ông không làm, tôi làm.
Tôi phải vất vả mới kéo được ông ngồi xuống. Mặt ông đỏ bừng. Ông thở dốc.
6
Câu chuyện đến đây là kết thúc. Nhưng không phải là kết thúc một truyện ngắn. Chẳng có thứ truyện ngắn nào lại kết thúc dở hơi như thế.
Nhưng tôi chán rồi, chán lắm lắm. Tôi không muốn kể thêm nữa.
Là một câu chuyện kể bằng văn xuôi, nó cụt lủn. Nhưng nó cụt lủn là bởi vì nó đúng là như thế. Bởi vì nó không có, hay chưa có, cái kết khác.
Gã vẫn ở với tôi. Gã không đi. Nói cách khác, gã không có ý định bỏ đi, chưa đến lúc gã bỏ đi.
Còn tôi thì cứ ngồi đấy nhìn gã trong nhà mình. Tôi hoàn toàn lúng túng với hai chữ đồng bào.
Trời hỡi, tôi biết làm sao bây giờ? Với cái trứng cùng trong một bọc kia.
2017

SÔNG CÔN

Thận Nhiên
Thành Phố Qui Nhơn – Bình Định
SÔNG CÔN

Photo by

Thận Nhiên
Sáng nay chạy từ Pleiku xuống Quy Nhơn, xuống hết đèo An Khê là đến Bình Định, bắt đầu tỉnh là giòng sông Côn bên đường. Bên trái là sông, bên phải là cánh đồng lúa xanh rì trải đến chân núi. Không biết là núi gì, dừng xe chụp hình và hỏi người dân sở tại thì họ bảo đó là núi Một. Sông Côn. Tôi biết tên nó từ lâu, từ khi đọc trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác. Nhiều đêm mơ theo chân đoàn quân của Nguyễn Huệ kéo ra Bắc.
Ngồi xuống khóm chuối, lựa thế và góc nhìn để chụp vội tấm ảnh, chỉ trong một phút. Khỏa tay xuống, vốc một vốc vả lên mặt cho nước mát Sông Côn chảy tràn xuống đầu xuống cổ. Ngày xưa, Nhạc & Huệ & Lữ có ngồi ở đây không ? Tháng mấy là vào mùa lũ, nước có dâng lên ngập ? Bà Thị Xuân có cỡi voi qua đoạn sông này ? Có ai chém ai, bắn ai rồi thả xác xuống đây mà lúa bây giờ xanh mướt quá ?
Tối nay sẽ ra chợ, gọi một bình rượu Bầu Đá, uống cho cháy cổ chơi.
SÔNG CÔN
Photo by Thận Nhiên
SÔNG CÔN
Photo by Thận Nhiên
SÔNG CÔN
Photo by Thận Nhiên
SÔNG CÔN
Photo by Thận Nhiên
SÔNG CÔN
Photo by Thận Nhiên
SÔNG CÔN
Photo by Thận Nhiên
SÔNG CÔN
Photo by Thận Nhiên
Tré
Photo by Tăng Hoàng Lộc
Rượu Bàu Đá
Photo by Tăng Hoàng Lộc

LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM

(phần Hai)
– Lạy Chúa tôi lòng lành chẳng cùng! Trước khi chết ông muốn phỉ báng đạo Chúa sao? Có phải vì ý muốn đó mà ông mời tôi tới đây? – linh mục tuyệt vọng kêu lên – Ông nghĩ tôi là ai? Kẻ thù của ông chăng? Kẻ gây ra đau khổ cho ông chăng?
Đến lượt người bệnh thở dài. Đó là tiếng thở dài chán ngán. Như luồng hơi cuối cùng trong bễ lò rèn trôi ra khi người phụ rèn dừng tay.
– Linh mục ạ, vậy mà nhìn ông tôi nghĩ học vấn và tuổi đời đã làm cho ông tỉnh táo nhiều hơn đấy, và ông sẽ là người đối thoại tốt trong đêm chót cuộc đời tôi. Tại sao ông lại lảng tránh những câu hỏi tự chúng nảy ra trong đầu chúng ta, chứ không phải chỉ trong đầu tôi? Sau bằng ấy năm ta sống trên trái đất này? Chao ôi, linh mục ơi linh mục! Tôi chẳng còn dịp nào khác đâu. Tôi cũng chẳng còn ai để nói ra những gì chất chứa trong lòng. Tôi đâu có định gây sự với ông. Lúc này tôi chỉ còn có ông để mà tâm sự thôi. Tôi xin thề rằng tôi không hề có thù riêng với Chúa của ông.
– Thế thì ông báng bổ đạo Chúa làm gì? – linh mục bực bội, nhưng ông lại nghe thấy giọng mình rền rĩ – Sự xúc phạm tới Chúa của tôi chính là sự xúc phạm tới tôi, bởi vì tôi, phần xác cùng là phần hồn, đều thuộc về Chúa.
Ông phản bác người bệnh, nhưng lại cảm thấy những lời phản bác ấy là để cho chính ông. Cứ mỗi phút trôi qua ông lại thấy gần hơn với con người khốn khổ sắp lìa bỏ cõi đời. Ông tự phân tích tình cảm của mình và hiểu rằng cái làm ông không thể chối bỏ cuộc gặp gỡ này, bây giờ đã trở thành cuộc đối thoại, chính là vì ngay từ phút đầu tiên ông đã cảm thấy rằng con người này thực sự cởi mở cõi lòng với ông, một người hoàn toàn xa lạ, nhưng tin cậy ông trước khi ông tin cậy ông ta. Ngay cả những con chiên ngoan đạo khi xưng tội với ông thường không có sự cởi mở thực tâm từ đáy lòng như thế.
Người bệnh lẩm bẩm điều gì, linh mục nghe không rõ. Để nghe rõ hơn ông phải ghé sát vào mặt ông ta.
– Cuộc đời bao giờ cũng rối rắm hơn ta tưởng – người bệnh nói khẽ, đôi môi mấp máy, rõ ràng không chỉ để nói với linh mục – Hình như để cho cuộc sống dễ chịu hơn, hoặc để giải thích cuộc đời một cách giản đơn hơn, con người nào cũng cần đến Chúa…
– Giê-su, lạy Chúa tôi, ông lại báng bổ nữa rồi đấy, chẳng lẽ ông chỉ nhìn thấy nơi Chúa một vật dụng tiện lợi? – linh mục thất vọng kêu lên.
– Không phải Chúa Trời hay Chúa Giê-su đâu linh mục. – người bệnh nói, linh mục nghe trong giọng nói của ông ta có tiếng cười – Tôi nói về một Chúa chung chung cơ, Chúa với tư cách niềm tin ấy, Chúa không phải của riêng đạo nào, với tư cách Đấng tối cao ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự.
– Hừm.
– Nếu Chúa không có sẵn, linh mục ạ, thì chính con người cần đến Chúa sẽ tự mình tạo ra Chúa cho nhu cầu của nó – người bệnh nói, như thể đã lấy lại được giọng bình thường – Khi đã có Chúa trong tay, bất kể là Chúa nào – Chúa tìm thấy, Chúa tạo ra, Chúa vay mượn, Chúa mua sắm, Chúa nhập cảng, tuốt tuột, không phân biệt, tức thì nó lấy ngay Chúa mà nó sở hữu, Chúa của riêng nó, của phe phái nó, tròng vào cổ đồng loại, làm thành cái ưu thế của nó để được đứng trên đồng loại, để thấy mình cao sang hơn đồng loại, chung cuộc là để leo lên địa vị thống trị đồng loại…
Linh mục im lặng. Ông biết nói gì với những lời lảm nhảm ấy. Điều làm ông ngạc nhiên là bên trong những lời đầy báng bổ của người bệnh, có cái gì đó rất thật thà. Và không phải không có lý.
– Linh mục, ông vẫn còn ngồi bên tôi đấy chứ? – người bệnh lặng đi một lúc, bỗng kêu lên, thảng thốt.
– Tôi đây – linh mục vội vã nói khi người bệnh làm một cử chỉ cố gắng để chồm dậy – tôi vẫn ngồi ngay bên cạnh ông đây mà.
Người bệnh thở ra một hơi dài.
– Vậy mà tôi thấy ông bị trôi ra xa đến nỗi tôi muốn với tới ông mà không được.
Linh mục đụng mấy ngón tay lên mí mắt nhắm nghiền của người bệnh. Cặp mắt mở ra, nhìn mà không thấy. Linh mục nghĩ có lẽ ông ta đang hấp hối.
Nhưng rồi người bệnh lại bừng tỉnh, cặp mắt lại trở nên có thần.
– Linh mục có gặp một người chết sống lại bao giờ không?
– Không, ông ạ.
– Tôi đã gặp hai người rồi đấy, họ chết hẳn rồi, cũng tin chắc như thế, nhưng rồi họ sống lại. Tôi hỏi họ thấy gì ở phút họ qua đời thì họ nói….
– Họ nói sao?
– Họ kể rằng lúc họ trút hơi thở cuối cùng, họ biết hết. Lúc đó, trí óc họ minh mẫn lạ thường, như thể chưa bao giờ họ minh mẫn như thế.
– Có thể lắm.
– Họ còn kể rằng người họ nhẹ như một sợi bông vậy, và họ rơi vào một bầu trời xanh kỳ lạ, mầu xanh trong cuộc đời họ chưa từng gặp. Cả hai người hỏi mà tôi hỏi đều kể giống nhau.
– Tín đồ Thiên Chúa giáo không tin điều đó – linh mục nói, bất giác rùng mình – từ trái đất mà đi chỉ có hai ngả: một là bị quỷ dữ kéo xuống địa ngục, hai là được các thánh thiên thần rước lên thiên đàng.
– Ông lại nói như sách rồi, linh mục ơi – đôi môi khô héo của người bệnh đụng đậy, như thế ông ta cười – Ông chớ tin Kinh Thánh. Đến cả Chúa Ki-Tô không phải bao giờ cũng thực thà. Trong Kinh tuần giảng bảy ngày có kể chuyện Đức Chúa Giê-su muốn hạ nhục bọn lái buôn thành Giê-ru-sa-lem đã vờ không rửa tay trước khi ngồi vào bàn tiệc. Để cho chúng có cớ cười nhạo ông, khinh bỉ ông không biết phép lịch sự. Là để tạo ra dịp mắng chúng chuyện sơn hào hải vị được bày ra trên bàn tiệc chẳng phải do chúng làm ra, bằng chính những bàn tay sạch sẽ đã được rửa trước khi ăn. Giả vờ, thưa linh mục, cũng là một dạng dối trá, tuy nhẹ hơn. Xin ông đừng giả vờ bác tôi, khi trong lòng ông, ông lắng nghe tôi, bởi vì ông hiểu tôi đang nói thật và điều tôi nói đáng để nghe.
Linh mục giật mình. Người bệnh như nhìn thấy ông trần truồng đứng trước ông ta và ông cảm thấy hổ thẹn.
– Ông cũng đã nhìn thấy màu xanh ấy rồi chăng?
– Đúng, tôi đã thấy nó. Mới vài phút trước đây thôi. Đó là một màu xanh hết sức lạ lùng, màu xanh trời, thiên thanh, chứ không phải xanh nước biển, trong vắt và sâu vô cùng tận. Nó đẹp vô cùng quyến rũ, đẹp đến nỗi không sao dứt ra nổi, tưởng chừng cứ nhìn thêm vào nó một lát thôi là ta sẽ trôi tuột vào trong đó, vào cõi mà lý trí bảo ta rằng đó là cõi vĩnh hằng.
Linh mục bối rối im lặng:
– Ông nằm yên một lát chăng? Nói nhiều, ông mệt đấy.
– Ồ không, không sao, tôi đã mệt cả cuộc đời rồi, có mệt thêm một chút cũng chẳng hại gì… – người bệnh khẽ lắc đầu, hoặc linh mục cảm thấy thế – tôi mệt vì bị dối trá, tôi mệt vì tôi dối trá người khác… Tôi còn mệt cả vì tôi tự dối mình nữa, linh mục ạ. Con người nào mà không giăng cho mình sợi tơ nhện dối trá để cho chính mình sa vào? Sự dối trá êm ái ấy mấy ai thoát khỏi? Êm ái và tiện lợi.
– Cuộc sống nào chẳng do Chúa định cho ta.
– Một sợi tóc rơi xuống cũng không ngoài ý Chúa, phải thế không? Như vậy thì, thưa linh mục, ta tồn tại làm gì? Tồn tại không phải để làm cái gì khác ngoài sự thực hiện ý Chúa hay sao? Nếu chỉ để làm như thế thì Chúa của ta thật trái tính trái nết. Và cái sự thực hiện mù quáng của ta mới vô duyên làm sao!
Linh mục cảm thấy sức lực rời bỏ ông. Tại tuổi già, tại chuyến đi xa mệt nhọc, hay tại chính những lời lảm nhảm này. Tranh luận để làm gì khi mỗi con người nhìn chân lý từ một phía, như những anh mù sờ con voi, anh nói giống cái cột, anh nói giống cái quạt?
Hai người im lặng một lúc lâu.
Linh mục nghe rõ tiếng khò khè trong cuống họng của người bệnh và tiếng đập đôi lúc đứt quãng trong huyết quản mình. Trái tim ông sắp hết hạn làm việc mà Chúa ban cho nó rồi. Khoảng hai năm nay nó bắt đầu làm việc ì ạch, đập năm bảy nhịp rồi ngừng một nhịp, sau đó lại tiếp tục đập. Bao giờ nó sẽ ngừng hẳn không đập nữa? Và trong phút đó ta có nhìn thấy màu xanh tuyệt đẹp mà người này vừa nói tới không?
Con tắc kè đầu hồi lại lên tiếng rất gần. Nó kêu lúc đầu dõng dạc, từng tiếng phân minh, rồi nhanh dần và nhỏ dần như ngán ngẩm không buồn kêu nữa.
– Ông ngủ đấy ư? – linh mục hỏi.
– Không, tôi suy nghĩ.
– Ông nghĩ gì?
Người bệnh mỉm cười, mắt nhắm nghiền.
– Tôi nghĩ không biết có nên xưng tội với linh mục không?
Linh mục vuốt ve bàn tay khô xác của người bệnh.
– Đừng cưỡng bức mình làm cái việc mà mình không muốn. Cái đó chẳng có lợi cho ai.
– Nhưng nếu tôi lại rất muốn?
– Tôi sẵn sàng nghe ông, bởi vì tôi đã ở lại đây, bên cạnh ông, như ông đòi hỏi.
Đầu người bệnh gục xuống ngực, không cất lên nữa. Mái tóc bạc lơ thơ xõa xuống che lấp cả vẻ ủ rũ trên mặt làm động lòng linh mục. Ý nghĩ về cái chết tràn ngập tâm hồn ông.
– Tôi đã sống trên tám mươi năm trên thế gian. Tôi đã phạm phải vô vàn tội lỗi và hằng hà sa số sai lầm. Nhưng điều tôi muốn nói với linh mục lại liên quan tới một con chiên của Chúa, do đó tôi mới muốn xưng tội với ông, hay là với Chúa của ông thì cũng thế. Bởi vì tôi coi mình đã làm thiệt hại cho Chúa mặc dầu theo thuyểt tiền định của chính đạo Chúa thì mọi việc xảy ra đều do một ý Chúa. Tôi thấy ân hận vì việc mình làm, có nghĩa là trong việc đó tôi có tội…
Linh mục đặt tay lên đầu người bệnh:
– Tôi xin nghe ông, ông bạn già ạ.
– Sao linh mục lại gọi tôi như thế?
– Ông không phải con chiên của Chúa, nhưng ông là một người thật thà.
– Cảm ơn linh mục.
– Nào, ông nói đi, nói đi cho nhẹ lòng.
Người bệnh tử từ ngẩng đầu lên. Linh mục nhìn thấy trước mắt mình đôi mắt không có hồn đang rõi ra xa.
– Khoảng năm chục năm trước – khi tôi còn trẻ, tôi đã giết một người.
– Giết người, đối với bất cứ tôn giáo nào cũng đều là trọng tội.
– Nói cho đúng, trong cuộc đời tôi, tôi đã giết nhiều người, nhưng tôi không thấy ân hận bởi vì nếu tôi không giểt họ nhanh hơn họ giết tôi thì tôi cũng chẳng còn. Nhưng người mà tôi nói lại là người khác hẳn.
Người bệnh ngừng nói để lấy hơi. Mà cũng có thể ông ta chọn lời.
– Hồi đó tôi chỉ huy một trung đội trinh sát. Chúng tôi đi qua một làng mà năm trước giáo dân vừa nổi loạn. Họ đã giết một số bộ đội.
– Lạy Chúa tôi! – linh mục kêu lên, làm dấu thánh.
– Đám nổi loạn mà tôi nói tới đã bị dẹp, tình hình đã bình ổn, một năm rồi mà. Tôi nghĩ rằng đi qua đó chẳng có gì đáng lo ngại. Đến giữa làng mới biết là mình nhầm. Chuông nhà thờ bỗng nổi lên lanh lảnh, trống ngũ liên dồn dập, tiếng hò la dậy đất, rồi hàng loạt giáo dân xông ra. Một số trong bọn họ nổ súng vào chúng tôi. Thế là chúng tôi nổ súng bắn trả…
– Giê-su!
– Tôi bỡ ngỡ, tôi bàng hoàng, nhưng tôi còn đủ tỉnh táo để hạ lệnh cho bộ đội chúc nòng xuống mà bắn. Tôi thực lòng không muốn gây ra chết chóc…
– Có phải ở Nam Định không?
– Vâng, ở đấy. Trên đường truy kích những tên cầm súng bắn chúng tôi – tôi gặp một thanh niên nằm ngửa, mắt mở to. Anh ta đã chết, đạn xuyên qua bụng phá ra hông thành một lỗ toác hoác.
Linh mục nín thở theo dõi câu chuyện.
– Tôi dừng lại, vuốt mắt cho anh ta. Tại sao tôi lại làm như thế, tôi không hiểu. Tôi đã dự nhiều trận đánh, đã thấy nhiều xác chết trong đủ mọi kiểu chết…
Người bệnh ngừng lời trong hồi tưởng.
– Tôi dừng lại vì vẻ thánh thiện trên gương mặt trong sáng của người chết. Anh ta đẹp quá. Mà cái đẹp sinh ra để làm gì nếu không phải để tạo ra niềm vui, để dành cho tình yêu? Lẽ ra anh ta phải sống, để ôm ấp trong tay một người con gái đẹp, xứng đáng với anh ta. Để rồi cô gái là vợ anh sẽ sinh cho anh nhưng đứa trẻ đẹp như bố mẹ chúng. Vậy mà anh ta đã chết…
Linh mục nuốt nước bọt. Họng ông bỗng khô khốc.
– Ông đã có ý nghĩ của Chúa – linh mục nói – Người có ý nghĩ của Chúa là người có lòng lành.
– Có thể chính tôi đã giết anh ta. Trong chiến trận, chẳng ai biết kẻ nào phía bên kia đã chết vì viên đạn của mình… Khi những người sẵn sàng tử vì đạo kia xông lại, tôi đã bắn, và không phải chỉ một băng đạn. Họ hung hăng quá, tôi nghĩ họ đã nốc rượu vào khi xung trận…
Người bệnh lặng đi trong cơn xúc động, cái đầu nặng nề lại gục xuống, mái tóc bơ phờ lại che khuất gương mặt mà linh mục rất muốn được thấy trong lúc này.
Linh mục bối rối, ông muốn nói điểu gì, nhưng không cất nổi lời.
Người chết ngẩng mặt lên. Nhưng đôi mắt đã đục chẳng còn thấy gì ở phía trước.
Hai người im lặng một lúc lâu.
– Rồi sau thì sao? – linh mục run run hỏi.
Người bệnh thở dài:
– Đoạn kết ông đã biết nó thế nào.
Linh mục rùng mình.
– Vâng, tôi biết rồi – ông xúc động nói – Ông đã nhận ra tôi.
– Vâng, đến vùng này tôi đã gặp ông, tôi đã nhận ra ông.
– Ông đã giết em tôi?
– Tôi không biết người ấy là ai. Tôi cũng không dám nói chắc rằng tôi đã giết. Tôi chỉ nói được rằng rất có thể chính tôi đã bắn chết anh ấy. Xác chết nằm trên đường đi của rất nhiều viên đạn do chúng tôi bắn ra. Cũng có thể anh ấy chết vì viên đạn của người nào khác, nhưng tôi lại đinh ninh chính mình đã làm điều đó…
– Sao hôm ấy ông lại ngăn không cho những người lính của ông bắn chết tôi khi tôi vác dao lăn xả vào chém ông? Vết thương ở vai chắc còn đấy. Tôi nhớ, máu chảy ra xối xả, vọt đẫm mặt tôi…
– Còn cái sẹo, linh mục ạ. Nó đây.
Người bệnh đưa tay lên để vạch áo, nhưng cánh tay vừa giơ lên đã thõng xuống. Linh mục nhích lại gần để giúp ông ta. Khi linh mục trật vai áo của người bệnh ra ông thấy rõ vết sẹo thâm xì, sâu hoắm.
Người bệnh nhìn ra phía trước, xuyên qua linh mục, xuyên qua bức vách, tới một nơi nào rất xa.
– Bây giờ thì tôi hiểu vì sao ông không mời linh mục nào khác mà cứ đòi gặp tôi – linh mục buồn bã nói, kéo áo người bệnh lên để che đi vết sẹo – Ông muốn biết tôi bây giờ thế nào…
– Cái quả đã xứng với cái cây. – người bệnh nói – Tôi chẳng than phiền.
– Hạt thiện gieo xuống đâu thì cây thiện mọc lên ở đó. Tôi hằng cầu nguyện cho ông. Nếu không có ông gạt nòng súng ra thì viên đạn của người lính đã kết liễu đời tôi…
– Tôi không nghĩ tới làm ơn. Tính thiện trong tôi đã làm việc đó.
Linh mục đặt tay lên vai người bệnh:
– Ông không có vợ con sao? Ở đây tôi chỉ thấy những người cháu.
– Có chứ. Rồi tôi cũng có một gia đình. Tôi có vợ, có hai đứa con. Nhưng chiến tranh đã xoá sạch dấu vết cái gia đình ấy. Như thể bằng một nhát chổi…
Con tắc kè lại kêu lên một hồi, tiếng của nó vang động trong rừng đêm.
– Mấy giờ rồi, thưa linh mục?
– Có lẽ đã gần hai giờ sáng. Tôi không mang đồng hồ. Từ lâu, thời giờ đối với tôi chẳng còn ý nghĩa.
– Ông ở lại với tôi đến cùng nhé?
– Tôi sẽ ở lại với ông.
Người bệnh ngẩng đầu lên, hướng cái nhìn mà không thấy vào mặt linh mục. Linh mục bối rối đảo mắt qua nơi khác.
– Tôi đã xưng tội. Bây giờ ông hãy nhân danh Chúa của ông mà tha tội cho tôi đi.
Linh mục ngập ngừng, rồi làm dấu thánh trên đầu người bệnh, lẩm bẩm một câu la-tinh.
– Điều thứ năm trong mười điều răn của Chúa…
– Chớ giết người! – người bệnh nói – Nó phải là điều răn thứ nhất mới đúng, linh mục ạ.
– Tôi cũng là kẻ có tội. Như ông – linh mục không muốn tranh luận, ông cố gắng đẩy câu nói nặng nhọc ra khỏi miệng – Hôm đó chính tôi cũng đã bắn về phía các ông. Cho đến khi súng của tôi hết đạn. Tôi nhìn thấy rõ ràng một người lính ngã xuống trước họng súng của tôi. Viên đạn bắn trúng anh ta trong phút ấy có thể không phải là của tôi, tôi cũng không dám nói chắc, nhưng cũng như ông, tôi nghĩ viên đạn là của tôi. Lúc đó tôi còn trẻ. Có lẽ trẻ hơn ông. Lúc đó chúng tôi nhìn các ông như kẻ thù. Chúng tôi đã quên lời dạy của Chúa: “Hãy thương yêu người ta như mình vậy”. Chính tôi là một trong những người được bề trên sai trói chín anh bộ đội vào đám xú vẹt năm trước đó.
– Chính ông?
– Vâng. Trong số chín người ấy có một anh bộ đội rất trẻ. Khi tôi trói anh ta, anh ta nhìn tôi và thật ngạc nhiên, tôi không thấy trong đôi mắt ấy có một chút oán giận, một chút căm thù. Chỉ có sự ngỡ ngàng, bối rối, như trước một điều khó hiểu. Tôi đứng gần đấy cho đến khi nước triều lên chậm chạp, bắt đầu vượt qua đầu gối họ, lên tới bụng họ, rồi tới ngực họ. Cả chín người đều im lặng. Tôi chờ anh thanh niên kia van xin tha chết, nhưng anh ta im lặng. Tôi không chịu nổi cái nhìn ấy hơn nữa, tôi không còn sức để chịu đựng hơn nữa, tôi vội vàng nới dây trói cho anh ta để anh ta có thể tự cởi và hấp tấp bỏ đi vài phút trước khi nước lên tới cằm họ…
Linh mục quỳ xuống trong một dáng điệu trịnh trọng.
– Tôi cũng đang xưng tội với ông đây. Chính cái gạt tay cho nòng súng chĩa vào tôi hôm đó đã làm cho tính Thiện trong tôi bừng tỉnh. Ông đã cắt đứt sợi dây của cái ác luân phiên. Từ đó tôi nguyện suốt đời làm tôi tớ Chúa, ghé vai vác cây thập ác nặng nề của Chúa…
Người bệnh ngồi im lặng như nhập định.
Linh mục ngước mắt lên, hai tay chắp trước ngực.
– Nhân danh Cha và con, và thánh thần, kẻ tôi tớ Chúa xin Chúa lòng lành tha mọi tội lỗi cho những đứa con dốc lòng chừa cải…
– A-men!
Cầu nguyện xong, linh mục ngồi lên giường, đối diện với người bệnh, nắm lấy hai bàn tay lạnh giá của ông ta. Người bệnh hiểu cái nắm bàn tay gần gũi và thân thiết ấy:
– Xin vĩnh biệt linh mục ông ta gắng nói, nhưng chỉ thều thào – Ông có thể đi được rồi đấy. Ý nguyện của tôi đã thành. Từ khi biết linh mục ở đây, tôi rất mong được gặp lại…
– Chúng ta đã gặp nhau – linh mục bóp mạnh bàn tay khô xác – Tôi mừng gặp lại ông, ân nhân của tôi.
– Ân nhân gì? Vĩnh biệt ông, linh mục!
– Khoan hãy nói lời vĩnh biệt – linh mục thảng thốt kêu lên – Bây giờ tôi không muốn đi đâu hết. Tôi muốn ngồi lại với ông.
– Chúng ta còn có chuyện gì để nói nữa đâu? Những gì cần nói, tôi đã nói hết rồi.
Linh mục một lần nữa bóp chặt bàn tay người bệnh.
– Bây giờ đến lượt tôi muốn hỏi ông – ông nói, hổn hển vì quyết định của mình – Chúa của ông là ai?
– Tôi không có Chúa.
– Ông có Chúa của ông. Như chúng tôi có Chúa của chúng tôi.
– Không, tôi không có Chúa. Nói cách khác, tôi từng có một thứ như thế…
– Ông là người cộng sản, phải không?
– Ông muốn nói một đảng viên cộng sản?
– Vâng.
– Trong ý nghĩa ấy thì không. Bây giờ thì không.
Người bệnh cười to theo cách của ông ta, há miệng không thành tiếng và đôi vai gày rung rung.
Khi hai vợ chồng người cháu hé tấm liếp nhìn vào căn lều, họ thấy linh mục và người sắp chết ngồi ôm nhau trên giường, người nọ gục vào vai người kia, hai đôi vai gày thỉnh thoảng giật lên khe khẽ trong ánh sáng nhợt nhạt của cây tọa đăng đã cạn dầu.
1988

LỜI XƯNG TỘI LÚC NỬA ĐÊM

Vũ Thư Hiên

(phần Một)

Khi linh mục già dò dẫm từng bước qua được những bậc thềm khấp khểnh của nhà kẻ liệt thì trời đã khuya lắm. Mấy vệt sáng vàng vọt của đèn dầu lọt qua khe cửa làm cho nó chìm sâu vào  bóng tối mịt mùng. Trong đêm ông chỉ có thể cảm được chứ không thấy được nơi ông tới là một thôn nhỏ đìu hiu với những mái tranh thấp thoáng dưới tán lá rậm rạp.

Linh mục vươn người vặn mình cho đỡ mỏi, mấy đốt sống kêu lục cục. Chủ nhà dựng chiếc Honda dưới thềm, bước vội lên đỡ ông :

– Trình cha, xin cha cẩn thận chỗ bậu cửa.

Linh mục ừ hữ gật đầu. Ông mệt lử sau hai chục cây số ngồi ôm eo vượt con đường hết đèo lại suối lổn nhổn đá và rễ cây. Không hiểu sao người ta lại cứ phải tìm ông, trong khi cách đây vài thôn có một xứ đạo khác, tuy không lớn, với một linh mục trẻ? 

Linh mục có quyền khước từ cuộc viếng kẻ liệt mà không ai có thể trách cứ. Ông đã quá già. “Cha lẫn rồi”, cả xứ đạo ồn lên sau một lần ông đứng trên toà giảng lẩm bẩm hồi lâu những câu không ai hiểu, mặc cho đàn chiên ngẩn ngơ phía dưới. 

Cha bận thông công với Đức Chúa Giê Su, bõ già giải thích. Chẳng ai tin lời bõ. Bõ cũng già, có dễ còn già hơn cả cha. Bề trên vội cử một linh mục khác về thay chân ông. Cha trẻ này mới được truyền chức. Mọi việc bây giờ cha phó làm hết. Nói theo cách thế tục, Toà giám cho cha xứ về hưu. 

Sau tiếng mở then hấp tấp, một người đàn bà rũ rượi, cây tọa đăng giơ cao trên đầu, hiện ra trong khung cửa.

– Con xin phép lạy cha.

Bà ta lùi lại, lễ độ khuỵu một chân xuống khi nhìn mái tóc bạc phơ, gương mặt đầy nếp nhăn sâu như những nét khắc trên gỗ và đôi mắt mờ đục của cha xứ. 

”Lạy Chúa tôi, liệu một cha già thế kia có còn làm được phép xức dầu cho kẻ liệt nữa không?”, cái nhìn của bà ta nói. 

Sau lưng bà là mấy đứa trẻ mới lớn cao lộc ngộc. Chúng giương mắt nhìn linh mục, lí nhí chào ông. Chủ nhà kéo một cái ghế ba nan xiêu vẹo ra khỏi cái bàn đen đủi không cùng bộ với nó.

– Xin cha ngồi ngơi…

Linh mục để mặc cho chủ nhà đỡ ông ngồi xuống. 

– Thưa cha dùng gì ạ? Trà hay cà phê?

– Vẽ – ông xua tay – Ta nghỉ một lát rồi làm việc. Ta không khát. 

– Xin cha tự nhiên ạ. Đường thì xa, lại xóc nữa – ông chủ nhà phàn nàn – Đến con đây còn mệt nữa là…

Linh mục nhìn quanh. Bóng tối che khuất số đồ đạc hiếm hoi trong gian phòng nhỏ. Không khí có mùi ẩm mốc, mùi của cái nghèo. 

– Việc sửa soạn cho kẻ liệt dọn mình về với Chúa là việc trọng – linh mục nói – Chớ chia trí cho việc khác. 

Chủ nhà đưa mắt cho vợ. Người vợ bối rối nhìn lại chồng. Họ có vẻ băn khoăn. 

– Đội ơn cha đã hạ cố đến với chúng con – chủ nhà cúi mặt nói – E hèm…, chúng con sở dĩ phiền đến cha tuổi cao sức yếu, phải đi lại đêm hôm cực nhọc thế này là vì…, hèm…

Linh mục bảo:

– Có chuyện gì khó ông cứ cho ta hay. Đừng ngại.

Người vợ đỡ lời chồng, thẽ thọt:

– Chẳng giấu gì cha, chả là thế vầy: con có ông chú ruột… 

– Người sắp sinh thì… – người chồng tiếp – Dạ, trình cha, người cứ một hai đòi gặp cha…

– Hừm.

– Có điều chú con… – người vợ nói – Người trước kia cũng là con chiên bổn đạo ta đấy ạ. Quê chúng con toàn tòng ạ. 

– Tức là? 

– Thưa cha, – người chồng cúi mặt – hiềm nỗi chú con… người trót nghe theo kẻ vô thần nên đã bỏ đạo…

Linh mục nhắm mắt lại. Cả ba nín lặng. 

– Chuyện ấy thường. – linh mục thấy cần phải nói một điều gì đó để phá đi bầu không khí nặng nề, và cũng là để an ủi vợ chồng chủ nhà – Thời Lucifer, người bỏ đạo không ít… Ông ấy còn tỉnh trí chứ? 

Không thể làm lễ xức dầu cho kẻ ngoại đạo, cái đó ngoại luật, cha xứ nghĩ. Oái oăm thật. Nếu người liệt đã hôn mê, ta có thể ban phước lành cho ông ta, cái đó không sao, Chúa lòng lành chẳng hẹp với ai. 

Người vợ thấy cha xứ hiền, không quở trách, trở nên bạo dạn hơn:

– Trình cha, còn, người còn tỉnh trí ạ – bà ta nhanh nhảu đáp với nụ cười như mếu – Ơn trên, người đã nghe chúng con, người xin giở lại đạo rồi…

Linh mục nói:

– Cũng lại chuyện thường thôi. Người bỏ vẫn bỏ. Người theo vẫn theo. Người giở lại đạo vẫn giở lại… Ông ấy đâu? 

Ông nhìn quanh. 

Người vợ bối rối:

– Trình cha, chúng con chưa kịp thưa với cha: chú con quên ráo kinh bổn rồi. Nói ra thật xấu hổ, cơ mà chúng con cứ trình thật thế vậy…

– Chuyện ấy không quan trọng – linh mục chống tay đứng lên – Hãy đưa ta đến với ông ấy. Ta biết phải làm gì. 

Chủ nhà cầm cây tọa đăng, đi trước, linh mục theo sau. Họ đi qua gian trong, nơi mấy đứa con trai đã nằm lại chỗ của chúng. Cánh cửa kêu kèn kẹt mở ra một khoảng trời tối với những ngôi sao bất động. 

Trong ánh đèn linh mục nhìn thấy mấy quả cà tím loáng sáng trên những luống rau dền. Hai bên lối đi nhiều cỏ may đến nỗi ông phải cẩn thận vén áo chùng lên tận đầu gối. Có mùi lá tre mục, mùi sương đêm tinh khiết. Mùa thu mát, nhưng ẩm ướt. Thời tiết trước khi vào đông bao giờ cũng vậy. Mình ở vùng này đã bao lâu rồi? – ông bâng khuâng tự hỏi – dễ đến ba mươi năm chứ không kém. 

– Chú con không chịu ở trên nhà với chúng con, người kêu ồn – chủ nhà phân trần – Người đòi nằm một mình cho tĩnh. Chứ chúng con không muốn thế…

– Người già thường khó tính – linh mục nói 

Mình cũng thế, ông nghĩ. Ông biết gần đây chính ông cũng trở nên khó tính khó nết. Ông khảnh ăn, không chịu được mùi hôi và mọi sự bề bộn, động một tí là bẳn gắt. Hẳn ông cũng làm phiền các thầy và bõ già không ít. Có điều họ chẳng nói ra thôi. Đôi lúc tỉnh, ông thấy mình hành mọi người một cách vô lý, nhưng đáp lại họ chỉ nhẫn nhục im lặng. Những lúc tỉnh ra ông giận mình lắm. Ông tự hỏi: họ buộc phải chịu đựng ông vì trách nhiệm? Hay chỉ vì lòng tôn kính với bảy chức thánh của ông, vì lòng biết ơn sự tận tụy nhiều năm của ông ở xứ đạo của họ? 

Chủ nhà đẩy cửa vào ngôi nhà nhỏ cô độc ở cuối vườn. Gọi nó là lều thì đúng hơn, bởi vì nó rất hẹp và tuềnh toàng. Ánh toạ đăng soi tỏ cái giường tre, trên đó một thân hình còm nhom nhô lên dưới tấm chăn dạ rách, vật còn lại từ một thời chinh chiến. 

Linh mục tưởng người nằm đấy chết rồi, ông đã đến muộn. Dưới ánh đèn vàng vọt, trên gương mặt xương xẩu, khắc khổ của ông ta hầu như không còn dấu hiệu của sự sống. 

Chủ nhà cúi xuống nghe ngóng, rồi quay mặt lại: 

– Người ngủ. Để con đánh thức. 

Ông ta nắm lấy vai người bệnh, lay khẽ: 

– Chú ơi chú! Cha đến.

Linh mục chắp hai tay trước bụng, kiên nhẫn đợi. 

Trong yên lặng, con tắc kè bỗng kêu to ở đầu hồi làm ông giật mình.

Người bệnh khẽ rên một tiếng. Ông ta gượng mở mắt:

– Cha hử?

– Vâng, thưa chú, người đã đến ạ. 

Linh mục đặt tay lên vai chủ nhà :

– Ông cứ lên đi, mặc chúng tôi.

– Nước! – người bệnh thều thào.

Chủ nhà cầm lấy phích nước trên cái bàn làm bằng một mảnh ván mộc kê trên đôi mễ xiên xẹo, rót chầm chậm vào cái chén sứt sẹo. Đoạn, mang đến bên phản, nâng đầu người bệnh, cho ông ta uống từng ngụm nhỏ. Mái tóc thưa, xơ xác của người bệnh rung rung khe khẽ cùng với nhịp chuyển động của yết hầu. 

Linh mục chăm chú nhìn người bệnh, ân hận đã không đem theo một cậu giúp việc trong trường hợp này. Nhưng ông sực nhớ: cái xe Honda ọp ẹp của chủ nhà chỉ có thể chở hai người.

Chủ nhà lễ phép đi giật lùi ra khỏi lều, khép cửa lại.

Người bệnh khó nhọc rút một tay ra khỏi chăn. Những ngón tay gày, cong queo vẫy linh mục lại gần hơn.

Linh mục đến bên giường, chăm chú nhìn vào khuôn mặt vàng nhợt và cứng đơ như được nặn bằng sáp. Cất giọng trịnh trọng, như ông vẫn thường làm trong nhưng trường hợp tương tự, ông nói câu thuộc lòng:

– Ta đã đến với con, hỡi con chiên lạc bầy muốn trở về trong Chúa!

Linh mục bỗng giật mình. Ông nhận thấy giọng ông vang vang trong túp lều yên lặng hoàn toàn không có hồn, như thể nó phát ra từ máy ghi âm. Tự nhiên ông thấy mình bối rối. Vì tia sáng phát ra từ mắt người bệnh, cái tia sáng đi cùng với nụ cười thoảng qua, hay bởi chính giọng không hồn của mình, ông không rõ? 

– Con hãy nhận lấy tên thánh của con trước khi dọn mình xưng tội cùng Chúa – linh mục giơ cây thánh giá đeo trước ngực hướng về mặt người bệnh – Nhân danh Chúa trên Lời… ta đặt tên thánh cho con là Đôminicô để ghi lại giờ khắc con giở lại đạo trên đất đai của dòng Đa Minh.

Trong khi linh mục cố tập trung tư tưởng để làm phận sự trước cái nhìn chòng chọc của người bệnh thì người ấy lại vẫy ông: 

– Này, linh mục…

Linh mục cúi xuống, lắng nghe tiếng thều thào từ đôi môi khô héo:

– Con muốn nói gì? Ta nghe đây.

– Xin cảm ơn ông đã đến với tôi – người bệnh nói – Cảm ơn.

Linh mục sững người, ông thấy có điều khác thường khi người bệnh không gọi ông bằng “cha” xưng “con”. Người bệnh đoán được tâm trạng của linh mục.

– Ông đừng bực mình. Cách xưng hô không làm nên con người, cũng như cái áo không làm nên thày tu…

– Không sao, tôi không câu nệ…

– Cảm ơn ông. Ông đã đến với tôi, thế là tốt lắm rồi. Ông khỏi cần làm lễ. 

– Hử? 

– Vâng, ông khỏi cần làm lễ. Nó vô ích. 

– ???

– Là vì tôi có tin ở Chúa của ông đâu.

Người bệnh cố diễn đạt ý mình cho mạch lạc, với giọng khao khao của thanh quản bị tổn thương.

– Vậy ông cho mời tôi đến đây làm gì? – linh mục lắp bắp.

Người bệnh nhìn quanh rồi đặt ngón tay trỏ lên miệng.

– Cái gì vậy? – linh mục lo lắng nhìn quanh.

– Ông chớ nói to, các cháu tôi nghe tiếng. Tôi không muốn chúng nghe câu chuyện giữa chúng ta.

– À! Tôi hiểu – linh mục gật đầu, rồi vào giọng với người bệnh như một đồng loã, ông thì thào – Được, tôi sẽ nói khẽ.

Người bệnh động đậy mấy ngón tay.

– Phiền ông đỡ tôi ngồi lên. 

Linh mục vòng tay ra sau gáy người bệnh, đặt ông ta dựa lưng vào vách. Làm xong việc đó, ông thở dốc.

– Thế. Tốt rồi. Khi ngồi tôi dễ thở hơn, nói cũng dễ hơn.

– Ông không cần làm lễ? Thật vậy sao: không cần? 

Người bệnh ái ngại quan sát linh mục bằng cặp mắt mệt mỏi:

– Ông cũng già quá, linh mục ạ. Ông ngồi xuống đây với tôi.

Linh mục ngồi ghé xuống mép phản. 

– Sang năm tôi vừa đúng tám mươi hai. 

– Nhiều quá rồi – người bệnh thở dài – Linh mục đừng giận, nhưng sau lưng các cháu tôi, tôi phải nói thẳng với ông điều tôi nghĩ. Tôi không thích dối trá.

– Hừm… Tôi hiểu – linh mục nói, giọng nhẹ nhàng, cố chứng tỏ ông không phật ý – Ông muốn chiều lòng các cháu?

– Đúng thế, ông ạ. Các cháu tin ở Chúa. Tôi thì không. Chúng sốt sắng muốn tôi giở lại đạo.

– Họ cũng nói với tôi như vậy. 

– Chiều các cháu, tôi mới bảo chúng: chú chỉ chịu xưng tội chịu lễ với cha ít nhất cũng phải ngang tuổi chú. Hì hì…, tôi biết trong vùng này chỉ có một mình cha…

– Ông muốn chính tôi đến với ông?

– Cái đó có nguyên uỷ của nó, tôi sẽ nói vì sao. Tôi chỉ e ông không đến được. Tôi chờ ông. Nghe nói ông không còn làm mục vụ nữa.

– Nhưng tôi đã đến.

– Cảm ơn ông. Tôi muốn trước khi chết tôi có dịp tâm sự với người cùng một thế hệ. Các cháu tôi yêu tôi, nhưng chúng không hiểu tôi bao nhiêu. Tôi rất muốn được nói chuyện với người ít nhất cũng đã sống trên trái đất này bằng số năm mà tôi đã sống. Chỉ người đó mới hiểu được những lời tâm sự của tôi, kẻ sắp qua đời…

– Vậy là ông đã có người mà ông cần để đóng vở kịch của ông. Còn để tâm sự, tôi e rằng ông chọn lầm người. Một linh mục thì có gì để tâm sự với một người thế tục cơ chứ?

Linh mục nhắp chân, toan đứng dậy. Người bệnh nắm lấy tay ông, giữ lại. Nắm chắc. Như một cái kìm.

– Nghe tôi đây này, thật mà, ông lầm người rồi – linh mục gỡ tay ra, nhưng không được – Việc của linh mục là giảng đạo, nghe con chiên xưng tội và nhân danh Chúa giải tội cho họ. Còn tâm sự thì không. Không phải việc của linh mục.

– Sao lại thế? – người bệnh chống tay cố gắng để ngồi thẳng dậy, nhưng không được – Nghe lời tâm sự của kẻ sắp chết để hiểu người thế gian cũng là một việc nên làm lắm chứ…

Linh mục thở dài:

– Được, nếu ông muốn thế thì tôi sẽ ngồi đây với ông thêm một lát. 

Đôi môi khô héo của người bệnh nhếch một nụ cười:

– Cảm ơn ông.

– Có gì mà ơn với huệ – linh mục phẩy tay – Tôi cho phép ông nói dối các cháu ông rằng ông đã được làm lễ xức dầu. Chúa cũng sẽ tha cho ông tội nói dối ấy, bởi vì nó vô hại… Xong, ông để tôi đi.

– Ông đừng đi. – người bệnh vật nài – Ông sẽ ở lại với tôi cho đến lúc tôi đi khỏi đây nhá? Đi khỏi thế gian ấy mà. Tôi biết: ông là người tốt. Một linh mục chân chính thì phải ở lại trước lời thỉnh cầu trước giờ lâm tử của một kẻ ngoại đạo, cho dù kẻ đó là tín đồ của Mahomet, của Thích ca Mầu ni, của chư thần Ấn giáo. Hoặc là kẻ vô thần chẳng tin ở cái gì hết. 

– Ông tự tin quá đấy, nhưng trong chuyện này, ông có lý – linh mục nói – Tôi sẽ ở lại. Bao lâu cũng được. Tôi đã hết bận công kia việc nọ rồi. 

Đôi môi khô héo của người bệnh nở một nụ cười rất hiền.

– Cảm ơn ông. “Điểu chi tương tử kỳ thanh tắc ai, Điểu chi tương tử, kỳ minh dã ai; nhân chi tương tử, kỳ ngôn dã thiện””, con chim gần chết thì tiếng kêu ai oán, người ta gần chết thì nói lời lành, ông nhớ câu ấy không? Chẳng lẽ lúc này tôi lại nói với ông những điều xấu xa hay ác độc?

Ông ta nói phải, linh mục nghĩ. Ai rồi cũng sẽ qua cái cầu ấy. Không biết rồi mình có cần gặp ai đó trong giờ lâm tử để trút bầu tâm sự không? Có lẽ mình cũng cần đấy, nhưng mình sẽ không nói ra, nói cho đúng, mình không dám nói ra. Xấu hổ lắm. Chẳng ai muốn bày ra chỗ yếu đuối của mình. 

Như đọc được ý nghĩ của linh mục, bàn tay xương xẩu của người bệnh bóp nhẹ cổ tay ông. Linh mục mỉm cười. Ông thấy trong lòng vui vui. Ông nhớ đến một người bạn trong thời thơ ấu, với cái bóp tay đồng loã khi hai đứa trèo vào vườn nhà người hái trộm khế ngọt.

– Ông sẵn sàng nghe tôi nói chứ, linh mục?

– Ông cứ nói, tôi ở lại để nghe ông mà.

Người bệnh im lặng một lát, có vẻ ông ta muốn sắp xếp lại những ý nghĩ lộn xộn trong đầu trước khi nói ra. Đêm yên tĩnh lạ thường. Nghe rõ những giọt sương nặng từ mái lá rơi xuống lộp độp.

– Tôi xin lỗi đã làm ông buồn. 

– Không, tôi không buồn. Có gì mà buồn?

– Tôi không tin có Chúa, bởi vì nếu có Chúa thì tại sao trái đất của chúng ta lại như thế này? Chúa có quyền lực vô biên cơ mà. Tại sao Chúa lại sinh ra đau khổ bên cạnh hạnh phúc? Người nghèo bên cạnh người giầu? Người xấu bên cạnh người tồt? Và sự đểu cáng làm đau đớn những tâm hồn thánh thiện? 

– Chúa đặt ra những thử thách cho con người để nó khẳng định mình, tự hoàn thiện mình – ông nói – Chỉ có một nơi ngự trị toàn sự tốt lành, ấy là Thiên đàng, nước Chúa. 

– Nhưng nó ở xa lắm. Mãi đời sau kia – người bệnh cười méo mó – Đạo Phật cũng có một cái tương tự là niết bàn – nirvana. Linh mục có bao giờ nghĩ về sự vô lý này không? Với quyền lực vô biên, tại sao Chúa không dựng nước thiên đàng ở ngay đây, trên mặt đất nhày nhụa mà chúng ta đang sống? Phải, tại nơi mà hàng triệu sinh mạng chết đi trong những cuộc chiến tranh chẳng ích lợi gì cho họ, hoặc sống quằn quại dưới gót sắt của những bạo chúa, hoặc đi ra pháp trường bởi những lời xúi giục của đám chính trị gia lưu manh? Tại nơi có những giống nòi tự xưng thượng đẳng để đẩy những giống nòi khác vào chỗ diệt vong, nơi có hằng hà sa số nhà tù để giam đến chết những con người lương thiện thích sống bằng suy nghĩ của mình chứ không thích sống để nghe lệnh của kẻ cai trị?

Linh mục thấy mệt. Chẳng lẽ con người này lại dùng những phút cuối cùng của đời mình vào cái việc bàn luận chính trị chán ngắt?

Như đoán được linh mục nghĩ gì, người bệnh lắc đầu :

– Tôi hiểu, ông chán. Ông chẳng lạ gì điều tôi vừa nói. Ông biết quá đi ấy chứ. Nhưng tôi dám chắc chẳng bao giờ ông trả lời được câu hỏi đó, bởi vì ở các chủng viện người ta cũng chẳng bao giờ dám động đến nó. Các ông, những linh mục, các ông chỉ là những ông thủ từ làm công việc canh đền, nói thế ông đừng  giận. Trong đầu các ông chỉ có kiến thức của những con vẹt. Trước những câu hỏi như thế các ông thủ từ của mọi thứ đền lập tức chạy vội đến chỗ ẩn náu tiện lợi gọi là đức tin, và thế là xong. Tin và đừng có bàn cãi. Amen!

(còn nữa)

NGƯỜI ĐÀN BÀ HÁT TRONG ĐÊM

Ngoc Tuan Tran

NGƯỜI ĐÀN BÀ HÁT TRONG ĐÊM

Người đàn bà úp mặt vào đêm

Thầm thì khúc ca thời con gái

Hát nhẹ hơn ru sợ giấc mơ giật mình khóc lẫy

Người hát và giấc mơ không ngủ được cùng nhau

Người đàn bà úp mặt vào chiếc gối mềm

Tiếng thở dài không làm đêm ngắn lại

Cái giường rộng sự cô đơn chiếm hết

Người đàn bà thành dấu than (!) trên nệm trắng vô tình

Người đàn bà trong đêm đang hát một mình

Hát khẽ quá cứ như là không hát

Chỉ nước mắt nghe và đêm nhìn thấy

Tiếng hát buồn rụng ướt màn đêm

Ngoc Tuan Tran

Hồi ký Làm báo Văn nghệ

Nhà văn Nguyên Ngọc viết về cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp trong “Hồi ký Làm báo Văn nghệ”:
Tôi không có vinh dự đăng truyện ngắn Tướng về hưu của anh, như tôi đã nói ở trên. Nhưng đọc, tôi nhận ra đây là một tài năng không bình thường chút nào. Tôi chăm chú theo dõi. Thậm chí có hơi lo.
Một đêm, ở căn phòng vốn là phòng của anh Thanh Tịnh tại 4 Lý Nam Đế, Nguyễn Khải và tôi lẩm cẩm trao đổi với nhau: E rằng cái thằng này viết xong Tướng về hưu hoặc là nó tịt luôn, hoặc là nó… chết mất. Tinh hoa phát tiết hết ra ngoài rồi còn gì!
Ít lâu sau tôi nhận được của Nguyễn Huy Thiệp truyện Muối của rừng. Tôi đăng ngay, và mừng quá. Hóa ra sức anh chàng này thật ghê. Vẫn là Thiệp đấy, nhưng đồng thời lại hoàn toàn khác. Hiếm có một cây bút mới đầu đã đa dạng như vậy. Nguyễn Khải bảo còn hay hơn cả Tướng về hưu. Có thể đúng. Truyện, theo tôi, viết rất mượt nhưng đặt một vấn đề rất dữ: kiêu ngạo và kết quả thê thảm của kiêu ngạo ấy ở con người trước thiên nhiên, tạo hóa.
Đến số Tết 1988, chúng tôi đăng tiếp Con gái thủy thần của anh. Lại một mặt khác, rất lạ, của tài năng này.
Mãi đến lúc ấy tôi vẫn chưa biết mặt Nguyễn Huy Thiệp. Anh rất ít đến tòa soạn. Lâu lâu mới tạt qua đưa một bài, cho tổ Văn, toàn những hôm tôi không có mặt ở báo.
Một bữa, vào đầu 1988, tôi đang dẫn con gái tôi đi ngắm sách ở cửa hàng ngoại văn, quốc văn Tràng Tiền, phố sách Đinh Lễ, loanh quanh Bờ Hồ, rồi tạt vào vườn hoa Chí Linh, thì thấy hai người thanh niên đang đi xe đạp phía trước Ngân hàng Trung ương bỗng dừng lại, dắt xe đi về phía bố con tôi. Một người cao, trắng trẻo, đeo kính trắng, trông có vẻ thư sinh. Một người thấp, nhỏ con, hơi gầy và đen, khắc khổ, có thể đoán là dân ngoại thành, làm nghề thủ công gì đó.
Anh “thanh niên ngoại thành” ấy hỏi:
– Anh có phải là anh Ngọc?… Em là Thiệp đây.
Nguyễn Huy Thiệp?
– Còn đây là Hưng, bạn em, làm điêu khắc.
Tôi gặp và quen Nguyễn Huy Thiệp như vậy.
Từ đấy thỉnh thoảng Thiệp đến nhà tôi chơi, bao giờ cũng ngồi ở chiếc ghế xa-lông tồi tàn đặt ở cái góc tối nhất trong phòng khách chật bó của tôi. Anh lẳng lặng ngồi hút thuốc và uống nước trà, rất ít nói, hầu như không bao giờ nói chuyện văn chương. Cũng có hôm cả Thiệp và Hưng cùng đến, Hưng đèo tôi, Thiệp thong thả đạp xe bên cạnh, lang thang qua các phố, ghé lại một hàng quán nào đó bên vỉa hè, uống chén chè và ăn vài cái kẹo vừng. Hoặc có bữa Thiệp mang đến cho con gái tôi vài quyển sách giáo khoa mới in. Anh đang làm việc ở Nhà xuất bản Giáo Dục. Tôi hỏi:
– Biên tập à?
Anh bảo:
– Không. Trình bày mỹ thuật.
– Cụ thể là trình bày cái gì?
Anh cười, nụ cười bao giờ cũng buồn, hơi cười gằn, pha chút mỉa mai: hóa ra cái gọi là trình bày mỹ thuật của Thiệp là kẻ chữ mấy cái bìa sách và can lại những tranh vẽ con cua, con cá, thân thể người ta…, loại tranh vẽ thật thà ngây ngô con cái chúng ta hằng ngày vẫn được học để “hình dung ra thế giới”. Chỉ tiêu công tác của Thiệp là mỗi buổi sáng phải can đủ ba bức tranh mỹ thuật như vậy; buổi chiều ngồi nhà viết. Hoặc đi làm thêm kiếm tiền.
– Làm gì?
Hưng và Thiệp nhận trang trí nội thất cho bất cứ nơi nào thuê, bấy giờ thiếu gì. Các cửa hàng mậu dịch, các quán giải khát, trăm nghìn thứ đại lý, đại diện xà phòng, kem đánh răng, bột giặt, nước hoa… Hưng vẽ, Thiệp tô màu…
Con người đã làm chấn động đời sống văn học ta, ít ra cũng trong mấy năm trời, là như vậy đấy. Đố ai nhận ra được Thiệp giữa đám người lao động đủ loại hỗn độn bát nháo hằng ngày giữa đường. Đôi lúc tôi đã có ý nghĩ, chắc là lẩm cẩm rồi: hay anh thuộc một loài người khác, ở đâu đó không biết, cải trang, hóa hình, sống chen chúc giữa cõi đời này của chúng ta, để theo dõi quan sát cái thế giới người ngộ nghĩnh và khá lôi thôi này của chúng ta.
Anh như một kẻ đứng ngoài cuộc, vô can, “vô trách nhiệm” nữa, không vướng víu như chúng ta bởi trăm thứ ràng buộc, quá khứ, hiện tại. Cứ nhìn thật kỹ đôi mắt anh mà xem, hơi đen tối thế nào ấy, hơi giễu cợt, ranh ma làm sao ấy. Cả khuôn mặt nữa: có gì đó tăm tối, quá giản dị một cách không bình thường.
Chẳng lẽ Nguyễn Huy Thiệp cũng là một người cầm bút, một người viết văn bình thường như anh, như tôi, như bao nhiêu người cầm bút ta vẫn gặp?
Đọc văn anh mà xem. Tục tĩu đến mức nhầy nhụa. Thanh cao hết mực thanh cao, anh Hoàng Ngọc Hiến gọi là thăng hoa. Phanh phui, mổ xẻ sự đời, tâm địa con người đến tàn nhẫn, không thương tiếc. Mà khi dắt ta vào cõi mờ ảo thì cũng đến tận cùng sương khói.
Có lần Thiệp kể cho tôi nghe câu chuyện này, không biết có thật không: một dạo ở bệnh viện Bạch Mai, khoa tâm thần, có một người đàn bà bỗng dưng tự xưng là nàng Vinh Hoa, nhân vật kỳ ảo trong truyện ngắn Phẩm tiết từng gây rất nhiều tai tiếng của Thiệp. Chị múa hát, ăn nói, đi lại, hành động hệt như Vinh Hoa. Người ta đến xem rất đông. Nghe tin, Thiệp cũng tò mò đến xem. Thoạt trông thấy Thiệp – mà chắc chắn chị chưa hề gặp bao giờ – đột nhiên chị tái mặt, sững người, hoảng sợ, mất tiệt hết “ma lực”…, và sau đó hoàn toàn trở lại bình thường! Thiệp cũng sợ quá, vội lủi đi ngay.
Tôi có cảm giác những cái Nguyễn Huy Thiệp viết, anh vừa viết rất ý thức, rất tự giác – ít cây bút nào tỉnh táo đến lạnh lùng, tàn khốc như anh -, lại vừa như bị “ma ám”, có lẽ.
Trong văn của anh, nhiều đoạn có thể chép nguyên làm mẫu tuyệt vời cho các sách giáo khoa dạy văn, ngay cả ở cấp 1, cấp 2 – như đoạn thả diều trong Những bài học nông thôn chẳng hạn. Đọc, bỗng nhớ Người gieo hạt (Le semeur) của Victor Hugo. Lại có đoạn, có truyện, chắc không bậc phụ huynh nào dám để cho con cái mình, dẫu đến tuổi mười lăm, mười sáu mó tới.
Từ giữa 1988, tôi đăng liên tiếp ba truyện ngắn thường được gọi, một cách không đúng, là những “truyện ngắn lịch sử” của Nguyễn Huy Thiệp: Kiếm sắc, Vàng lửa, rồi Phẩm tiết.
Một lần nữa tôi lại nói “tôi” chứ không phải “chúng tôi” để nói rằng tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc báo Văn nghệ đã giới thiệu với độc giả mấy tác phẩm rồi sẽ gây cả một vụ xì-căng-đan văn học ấy.
Cuộc cãi vã trở nên sôi nổi, ầm ỹ, lan ra cả ngoài văn học. Có người nhân danh nhà sử học chửi nó xuyên tạc lịch sử. Có người, từ góc độ chính trị lên án nó bôi nhọ anh hùng dân tộc, hạ bệ thần tượng lịch sử, cứ đà này rồi chẳng bao lâu sẽ đi đến hạ bệ cả những thần tượng đương đại. Có người mắng nó tục tĩu đến hôi thối, lợm giọng…
Người bênh vực Thiệp cũng nhiều, và cũng từ nhiều góc độ, cố gắng giải thích mấy truyện ngắn này. Một nhà sử học có tên tuổi cam đoan rằng ông có đầy đủ cứ liệu lịch sử tin cậy để chứng minh cho hình tượng Nguyễn Huệ đúng như Nguyễn Huy Thiệp đã viết. Nhiều nhà lý luận phê bình khác phân tích ý nghĩa thẩm mỹ cao siêu ẩn dụ trong mấy tác phẩm nọ…
Tôi thì tôi có dịp được chứng kiến một cuộc trao đổi về chính mấy truyện ngắn ấy ở Viện Văn học, có mặt cả Nguyễn Huy Thiệp. Cũng như mọi lần, Thiệp ngồi một góc, im lặng, thậm chí có vẻ lơ đãng chẳng muốn nghe. Chừng anh đang mải nghĩ chuyện gì đó khác, hoàn toàn khác. Chuyện làm ăn chẳng hạn. Chẳng là dạo ấy anh đang tính toán một nghề kiếm sống nào đó khác, khá hơn cái nghề trình bày mỹ thuật bất đắc dĩ kia. Anh đang tính cùng Hưng mở một cái cửa hàng chuyên sơn xì xe đạp, xe ô-tô…
Anh Huệ Chi, chắc là để cố “moi” Thiệp, hỏi:
– Đề nghị anh Thiệp cho biết trong mấy truyện vừa rồi của anh, chỗ nào anh căn cứ trên tư liệu lịch sử có thật, chỗ nào anh bịa thêm?
Thiệp đứng dậy, ngơ ngác một chút, rồi trả lời gọn lỏn:
– Tôi chẳng bịa gì cả.
Anh ngồi xuống, im lặng một lát, rồi nói tiếp:
– Chừng mươi năm sau nữa, nhớ lại những chuyện nói hôm nay, chắc tất cả chúng ta sẽ thấy buồn cười.
Từ đó đến cuối buổi anh chẳng nói gì thêm nữa.
Tôi vốn hay dại dột, một lần đến nói chuyện với câu lạc bộ các cụ về hưu ở Đống Đa (các cụ lại hết sức quan tâm đến Văn nghệ), tôi lỡ mồm nói:
– Tôi nghe nhạc Beethoven chẳng hạn, tôi chẳng hiểu gì cả, thực tình nhiều khi cũng chẳng thấy hay. Muốn thưởng thức âm nhạc, phải học, học từ a b c của nhạc. Văn học có cái tai họa, nó được diễn đạt bằng ngôn ngữ thông thường, lời ăn tiếng nói hằng ngày của mọi người. Nên ai cũng tưởng cứ đọc là hiểu. Để đọc văn học cũng phải học cái “xôn-phe” của nó, như phải học để biết nghe và hiểu nhạc…
Tôi bị một bà cụ, chắc từng là một cán bộ có cỡ và nghe đâu đã đỗ đến bằng diplôme thời xưa, mắng cho một trận sa sả: Tôi khinh người quá! Nhiều người khác trong hội trường cũng la ó rất dữ.
Hôm ấy có anh Mộng Quỳnh (về sau anh đã tự tử ở sông Hồng). Mộng Quỳnh kéo tôi ra ngoài, an ủi:
– Từ nay về sau anh chớ bao giờ đến những nơi như thế này nữa. Hôm nay anh chỉ cần nhớ một điều này thôi: Ít ra, có tôi hiểu anh.
Tôi nói với anh Mộng Quỳnh:
– Nhưng chính tôi cũng chưa hoàn toàn hiểu Nguyễn Huy Thiệp, anh ạ.
– Đúng thôi, hiểu ngay thế nào được.
Anh ân cần tiễn tôi ra về.
Quả thật, Nguyễn Huy Thiệp là một hiện tượng lạ, có lẽ cứ còn phải đọc và tìm hiểu nữa. Chỉ có điều tôi thật tình ngạc nhiên sao anh xuất hiện sớm thế, như một báo trước thật sớm, khi trong đại trà văn học ta đang cố rứt ra khỏi cái trớn trơn tru cũ, hì hục, cặm cụi, hăng hái xông vào cái hiện thực thô nhám của cuộc đời hơn, hì hục mô tả nó cho thực, cho đậm. Anh dự báo một cái gì đó còn rất manh nha.
Còn đối với hôm nay, ít nhất Nguyễn Huy Thiệp đã làm được một điều này: Anh khiến tất cả những người cầm bút chúng ta, dù muốn hay không, dù yêu hay ghét anh, đều cảm thấy rất rõ rằng mình không thể tiếp tục viết như trước nữa.
Trung Trung Đỉnh, một cây bút trẻ tinh và rất nhạy cảm tâm sự với tôi: Sau khi đọc Những bài học nông thôn, anh quyết định hoặc phải viết khác hẳn đi, hoặc… bỏ nghề.
Nguyễn Khải, cái hôm tôi đưa cho anh đọc Tướng về hưu cũng bảo:
– Mình sẵn sàng vứt hết tất cả những cái trước nay của mình, để chỉ mong viết được một cái như thế này.
Tất nhiên rồi Nguyễn Khải chẳng vứt gì cả. Trung Trung Đỉnh vẫn tiếp tục viết.
Dễ gì “vứt”, và dễ gì một phát thay đổi.
Nhưng sự chấn động có thể tạo nên bước ngoặt do Nguyễn Huy Thiệp gây ra là có thật.
Báo Văn nghệ “kiên trì” Nguyễn Huy Thiệp suốt một năm rưỡi ấy là đích đáng. Nếu không thì nó còn là tờ báo của Hội Nhà văn cái nỗi gì!
Và hóa ra, ngay từ đầu, báo Văn nghệ không chỉ mở cửa cho văn học đi vào đời sống bằng thể loại phóng sự-văn học, trực tiếp, sắc nhọn như một con dao giải phẫu lợi hại; nó còn cùng lúc mở đường bằng sáng tác hư cấu, mới thật là “nghề riêng” của nó, và mới đi tới được cốt lõi, lâu bền.
– Nguyên Ngọc

CÂY XANH VẪN NGÃ

Khoảng bảy giờ sáng thứ bảy tuần rồi, tôi chợt nghe hai tiếng “ầm ầm” thật lớn. Chạy vô nhà coi. Trong nhà không sao cả. Bà xã bảo nhà chỉ mất điện. Ra đường nhìn quanh. Thì ra hai cây rất to bên nhà của bà hàng xóm ngã.
Cây tươi tốt, cành lá một màu xanh vì trời chỉ mới vào hè. Hàng xóm ngơ ngác nhìn nhau. Ai nấy đều ngạc nhiên. Bà chủ nhà thương cây hơn thương chiếc xe bị một nhánh cây to đè bẹp. “Mới đây mà”, bà than thở. Không có mưa to hay gió lớn gì nhưng cả hai cây đều bật gốc.
Thật ra nếu nhìn kỹ bà sẽ không ngạc nhiên lắm. Một trong hai cây bị thối gốc. Rễ cái mục nát. Sáng thứ bảy tuần rồi là thời điểm ngã nhưng cây đã chết mòn từ lâu.
Photo : Trần Trung Đạo
Những cành lá xanh kia không nói lên gì cả, không đại diện cho sức khỏe và sự bền bỉ của cây. Cây xanh chẳng qua do nhựa còn sót lại luân lưu nuôi dưỡng như chút hơi tàn.
Những ung nhọt bên trong lớn dần theo thời gian và khi đến giờ thối rã, không có gì để có thể giữ được tấm thân nặng nề và tàn cây rộng.
Tội nghiệp cây bên cạnh, hoàn toàn tươi tốt từ rễ tới ngọn nhưng sức bật của cây láng giềng đã làm gốc cây mạnh khỏe cũng bật tung theo. Tôi thầm nghĩ, không biết ai có “tối kiến” chứ không phải sáng kiến trồng cây đôi như thế này. Bà chủ nhà thật may mắn vì một cây ngã ra đường và một cây ngã gần chỗ để xe nên không bị thương tích gì.
Dù cây cối hay con người, dù thiên nhiên hay xã hội đều thuận theo một quy luật sinh và diệt giống nhau. Theo đó, mọi thối nát có tính bản chất đều dẫn đến sụp đổ.
Sự sụp đổ diễn ra ra bất cứ lúc nào không nhất thiết phải cần một cơn bão lớn.
Đương nhiên, nếu có một cơn bão cây có thể đã ngã sớm hơn, cũng như nếu biết trước thành phố đã cho hạ cây hư xuống để giữ cho cây còn lại được tiếp tục sống.
Khác với những ung nhọt của cây bị che giấu trong lòng đất, ung nhọt của xã hội thể hiện ngay trước mắt mọi người.
Một người có nhận thức và biết chiêm nghiệm những gì đang xảy ra chung quanh mình đều có thể nhận ra. Không chỉ nhận ra thôi mà còn có thể góp phần làm thay đổi xã hội theo một hướng tích cực phù hợp với thời đại văn minh mà phần lớn loài người đang sống.
Trần Trung Đạo
(Trích trong Những Đoản Văn Viết Trên Facebook, ảnh cây ngã trước nhà hàng xóm)
Photo : Trần Trung Đạo